Tiểu luận Xây dựng chương trình dự báo doanh thu bán hàng cho siêu thị Minh Cầu - Thái Nguyên

MỤC LỤC  
1
 
DANH MỤC HÌNH ẢNH  
3
 
LỜI MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Xu hướng toàn cầu hóa, hiện đại hóa đưa Việt Nam vào sự phát triển chúng  
của thế giới, thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng. Việt Nam đã gia nhập  
các tổ chức trong khu vực và thế giới như : ASEAN, AFTA,APEC và đặc biệt là gia  
nhập tổ chức thương mại thế giới WTO vào tháng 11 năm 2006. Quá trình hội nhập  
tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển hơn.  
Trong thời gian thực tập tại Siêu thị Minh Cầu - Thái Nguyên, với những  
kiến thức đă được học tại trường và thông qua kết quả điều tra khảo sát ban đầu,  
em đă quyết định đi sâu tìm hiểu về doanh thu bán hàng của siêu thị. Để hiểu một  
cách đầy đủ về doanh thu bán hàng thì́ công tác phân tích dự báo trong siêu thị là vô  
cùng cần thiết. Dự báo doanh thu bán hàng giúp nhà quản trị thu thập các số liệu  
thống kê có liên quan đến doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh trong siêu  
thị, nghiên cứu phân tích các mức độ ảnh hưởng đến doanh thu của công ty, giúp  
siêu thị tìm hiểu được nguyên nhân và mặt tích cực, mặt tiêu cực của các nhân tố  
ảnh hưởng để từ đó có các biện pháp điều chỉnh hợp lí nhất nhằm tăng doanh thu  
bán hàng cho siêu thị. Nhận thức ra được tầm quan trọng của công tác phân tích dự  
báo doanh thu đối với siêu thị và xuất phát từ thực tế việc thiếu hụt trong nghiên  
cứu dự báo doanh thu của siêu thị em đă chọn đề tài: “Xây dựngchương trình dự  
báo doanh thu bán hàng cho siêu thị Minh Cầu - Thái Nguyên” làm đề tài thực  
tập chuyên ngành của mình.  
2. Mục đích nghiên cứu  
- Đánh giá thực trạng tình hình doanh thu bán hàng của siêu thị Minh Cầu  
-Thái Nguyên giai đoạn 2014-2015 dựa trên các kết quả đă nghiên cứu.  
- Dự báo về doanh thu bán hàng trong giai đoạn 2016-2017 của siêu thị.  
- Đưa ra một số giải pháp và kiến nghị để thực hiện giải pháp nhằm tăng  
doanh thu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của siêu thị.  
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài  
- Nghiên cứu tổng quan về phân tích dữ liệu và dự báo kinh tế .  
4
 
- Nghiên cứu một số phương pháp liên quan và đề xuất phương pháp phù  
hợp dự báo doanh thu bán hàng của siêu thị Minh Cầu - Thái Nguyên.  
- Xây dựng chương trình hồi quy và dự báo doanh thu bán hàng của siêu thị  
Minh Cầu - Thái Nguyên.  
4. Phương pháp nghiên cứu  
- Đặc tả lý thuyết.  
- Nghiên cứu các kỹ thuật phân tích dữ liệu và dự báo kinh tế.  
- Nghiên cứu và phân tích một số phương pháp hồi quy.  
- Thu thập số liệu doanh thu bán hàng của siêu thi Minh Cầu - Thái Nguyên  
và một số nhân tố ảnh hưởng.  
-Xây dựng chương trình hồi quy và dự báo doanh thu bán hàng của siêu thị  
Minh Cầu - Thái Nguyên..  
5. Nội dung nghiên cứu  
Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung chính đề tài của em gồm bốn  
chương:  
Chương 1: Tổng quan về phân tích, dự báo kinh tế và doanh thu bán hàng.  
Chương 2: . Khảo sát, phân tích - thiết kế hệ thống phân tích và dự báo kinh tế.  
Chương 3: Xây dựng chương trình thực nghiệm.  
Tuy nhiên trong đợt thực tập này em đã rất cố gắng học hỏi dựa trên kiến  
thức đã học, thực tế nhưng do thời gian và khả năng có hạn do đó báo cáo và  
chương trình còn nhiều thiếu sót, chưa đi sâu thực tế. Vì vậy, em rất mong được sự  
đóng góp ý kiến bổ sung từ Thầy cô và các nhóm nghiên cứu khác để bài báo cáo  
của em được hoàn thiện hơn.  
Em chân thành cảm ơn Cô giáo Đinh Thị Nguyên - giảng viên bộ môn quản  
trị văn phòng và cô giáo Lý Thu Trang - giảng viên bộ môn thương mại điện tử ,  
Khoa Hệ thống thông tin Kinh tế đã tận tình hướng dẫn để em hoàn thành đề tài  
này.  
Em xin chân thành cảm ơn !  
5
Chương 1.  
TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH, DỰ BÁO KINH TẾ  
VÀ DOANH THU BÁN HÀNG  
1.1. Tổng quan về phân tích và dự báo  
1.1.1. Khái niệm, ý nghĩa, vai trò của dự báo  
1.1.1.1. Khái niệm dự báo  
Dự báo đã hình thành từ đầu những năm 60 của thế kỉ 20. Khoa học dự báo  
với tư cách một ngành khoa học độc lập có hệ thống lí luận, phương pháp luận và  
phương pháp hệ riêng nhằm nâng cao tính hiệu quả của dự báo. Người ta thường  
nhấn mạnh rằng một phương pháp tiếp cận hiệu quả đối với dự báo là phần quan  
trọng trong hoạch định. Khi các nhà quản trị lên kế hoạch, trong hiện tại họ xác  
định hướng tương lai cho các hoạt động mà họ sẽ thực hiện. Bước đầu tiên trong  
hoạch định là dự báo hay là ước lượng nhu cầu tương lai cho sản phẩm hoặc dịch  
vụ và các nguồn lực cần thiết để sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ đó.  
Như vậy, dự báo là một khoa học và nghệ thuật tiên đoán những sự việc sẽ  
xảy ra trong tương lai, trên cơ sở phân tích khoa học về các dữ liệu đã thu thập được.  
Khi tiến hành dự báo ta căn cứ vào việc thu thập xử lý số liệu trong quá khứ  
và hiện tại để xác định xu hướng vận động của các hiện tượng trong tương lai nhờ  
vào một số mô hình toán học.  
Dự báo có thể là một dự đoán chủ quan hoặc trực giác về tương lai. Nhưng để  
cho dự báo được chính xác hơn, người ta cố loại trừ những tính chủ quan của người dự  
báo.  
6
         
Ngày nay, dự báo là một nhu cầu không thể thiếu được của mọi hoạt động  
kinh tế - xác hội, khoa học - kỹ thuật, được tất cả các ngành khoa học quan tâm  
nghiên cứu.  
1.1.1.2. Ý nghĩa  
- Dùng để dự báo các mức độ tương lai của hiện tượng, qua đó giúp các nhà  
quản trị doanh nghiệp chủ động trong việc đề ra các kế hoạch và các quyết định  
cần thiết phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, đầu tư, quảng bá, quy mô sản  
xuất, kênh phân phối sản phẩm, nguồn cung cấp tài chính… và chuẩn bị đầy đủ  
điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật cho sự phát triển trong thời gian tới (kế hoạch  
cung cấp các yếu tố đầu vào như: lao động, nguyên vật liệu, tư liệu lao động…  
cũng như các yếu tố đầu ra dưới dạng sản phẩm vật chất và dịch vụ).  
- Trong các doanh nghiệp nếu công tác dự báo được thực hiện một cách  
nghiêm túc còn tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.  
- Dự báo chính xác sẽ giảm bớt mức độ rủi ro cho doanh nghiệp nói riêng và  
toàn bộ nền kinh tế nói chung.  
- Dự báo chính xác là căn cứ để các nhà hoạch định các chính sách phát triển  
kinh tế văn hoá xã hội trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân  
- Nhờ có dự báo các chính sách kinh tế, các kế hoạch và chương trình phát  
triển kinh tế được xây dựng có cơ sở khoa học và mang lại hiệu quả kinh tế cao.  
- Nhờ có dự báo thường xuyên và kịp thời, các nhà quản trị doanh nghiệp có  
khả năng kịp thời đưa ra những biện pháp điều chỉnh các hoạt động kinh tế của đơn  
vị mình nhằm thu được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất.  
1.1.1.3. Vai trò  
- Dự báo tạo ra lợi thế cạnh tranh  
- Công tác dự báo là một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động của các  
doanh nghiệp, trong từng phòng ban như: phòng Kinh doanh hoặc Marketing, phòng  
Sản xuất hoặc phòng Nhân sự, phòng Kế toán – tài chính.  
1.1.2. Các loại dự báo  
1.1.2.1. Căn cứ vào độ dài thời gian dự báo  
Dự báo có thể phân thành ba loại  
7
 
- Dự báo dài hạn: Là những dự báo có thời gian dự báo từ 5 năm trở lên.  
Thường dùng để dự báo những mục tiêu, chiến lược về kinh tế chính trị, khoa học  
kỹ thuật trong thời gian dài ở tầm vĩ mô.  
- Dự báo trung hạn: Là những dự báo có thời gian dự báo từ 3 đến 5 năm.  
Thường phục vụ cho việc xây dựng những kế hoạch trung hạn về kinh tế văn hoá  
xã hội… ở tầm vi mô và vĩ mô.  
- Dự báo ngắn hạn: Là những dự báo có thời gian dự báo dưới 3 năm, loại dự  
báo này thường dùng để dự báo hoặc lập các kế hoạch kinh tế, văn hoá, xã hội chủ  
yếu ở tầm vi mô và vĩ mô trong khoảng thời gian ngắn nhằm phục vụ cho công tác  
chỉ đạo kịp thời.  
Cách phân loại này chỉ mang tính tương đối tuỳ thuộc vào từng loại hiện  
tượng để quy định khoảng cách thời gian cho phù hợp với loại hiện tượng đó: ví dụ  
trong dự báo kinh tế, dự báo dài hạn là những dự báo có tầm dự báo trên 5 năm,  
nhưng trong dự báo thời tiết, khí tượng học chỉ là một tuần. Thang thời gian đối với  
dự báo kinh tế dài hơn nhiều so với thang thời gian dự báo thời tiết. Vì vậy, thang  
thời gian có thể đo bằng những đơn vị thích hợp ( ví dụ: quý, năm đối với dự báo  
kinh tế và ngày đối với dự báo dự báo thời tiết).  
1.1.2.2. Dựa vào các phương pháp dự báo  
Dự báo có thể chia thành 3 nhóm  
- Dự báo bằng phương pháp chuyên gia: Loại dự báo này được tiến hành trên  
cơ sở tổng hợp, xử lý ý kiến của các chuyên gia thông thạo với hiện tượng được  
nghiên cứu, từ đó có phương pháp xử lý thích hợp đề ra các dự đoán, các dự đoán  
này được cân nhắc và đánh giá chủ quan từ các chuyên gia. Phương pháp này có ưu  
thế trong trường hợp dự đoán những hiện tượng hay quá trình bao quát rộng, phức  
tạp, chịu sự chi phối của khoa học - kỹ thuật, sự thay đổi của môi trường, thời tiết,  
chiến tranh trong khoảng thời gian dài. Một cải tiến của phương pháp Delphi – là  
phương pháp dự báo dựa trên cơ sở sử dụng một tập hợp những đánh giá của một  
nhóm chuyên gia. Mỗi chuyên gia được hỏi ý kiến và rồi dự báo của họ được trình  
bày dưới dạng thống kê tóm tắt. Việc trình bày những ý kiến này được thực hiện  
một cách gián tiếp ( không có sự tiếp xúc trực tiếp) để tránh những sự tương tác  
8
trong nhóm nhỏ qua đó tạo nên những sai lệch nhất định trong kết quả dự báo. Sau  
đó người ta yêu cầu các chuyên gia duyệt xét lại những dự báo của họ trên cơ sở  
tóm tắt tất cả các dự báo có thể có những bổ sung thêm.  
- Dự báo theo phương trình hồi quy: Theo phương pháp này, mức độ cần dự  
báo phải được xây dựng trên cơ sở xây dựng mô hình hồi quy, mô hình này được  
xây dựng phù hợp với đặc điểm và xu thế phát triển của hiện tượng nghiên cứu.  
Để xây dựng mô hình hồi quy, đòi hỏi phải có tài liệu về hiện tượng cần dự báo và  
các hiện tượng có liên quan. Loại dự báo này thường được sử dụng để dự báo trung  
hạn và dài hạn ở tầm vĩ mô.  
- Dự báo dựa vào dãy số thời gian: Là dựa trên cơ sở dãy số thời gian phản  
ánh sự biến động của hiện tượng ở những thời gian đã qua để xác định mức độ của  
hiện tượng trong tương lai.  
1.1.2.3. Căn cứ vào nội dung (đối tượng dự báo)  
Có thể chia dự báo thành: Dự báo khoa học, dự báo kinh tế, dự báo xã hội,  
dự báo tự nhiên, thiên văn học…  
- Dự báo khoa học: Là dự kiến, tiên đoán về những sự kiện, hiện tượng,  
trạng thái nào đó có thể hay nhất định sẽ xảy ra trong tương lai. Theo nghĩa hẹp  
hơn, đó là sự nghiên cứu khoa học về những triển vọng của một hiện tượng nào đó,  
chủ yếu là những đánh giá số lượng và chỉ ra khoảng thời gian mà trong đó hiện  
tượng có thể diễn ra những biến đổi.  
- Dự báo kinh tế: Là khoa học dự báo các hiện tượng kinh tế trong tương lai.  
Dự báo kinh tế được coi là giai đoạn trước của công tác xây dựng chiến lược phát  
triển kinh tế - xã hội và dự án kế hoạch dài hạn; không đặt ra những nhiệm vụ cụ  
thể, nhưng chứa đựng những nội dung cần thiết làm căn cứ để xây dựng những  
nhiệm vụ đó. Dự báo kinh tế bao trùm sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nước  
có tính đến sự phát triển của tình hình thế giới và các quan hệ quốc tế. Thường  
được thực hiện chủ yếu theo những hướng sau: dân số, nguồn lao động, việc sử  
dụng và tái sản xuất chúng, năng suất lao động; tái sản xuất xã hội trước hết là vốn  
sản xuất cố định: sự phát triển của cách mạng khoa học – kĩ thuật và công nghệ  
9
và khả năng ứng dụng vào kinh tế; mức sống của nhân dân, sự hình thành các nhu  
cầu phi sản xuất, động thái và cơ cấu tiêu dùng, thu nhập của nhân dân; động thái  
kinh tế quốc dân và sự chuyển dịch cơ cấu (nhịp độ, tỉ lệ, hiệu quả); sự phát triển  
các khu vực và ngành kinh tế (khối lượng động thái, cơ cấu, trình độ kĩ thuật , bộ  
máy, các mối liên hệ liên ngành); phân vùng sản xuất, khai thác tài nguyên thiên  
nhiên và phát triển các vùng kinh tế trong nước, các mối liên hệ liên vùng; dự báo  
sự phát triển kinh tế của thế giới kinh tế. Các kết quả dự báo kinh tế cho phép  
hiểu rõ đặc điểm của các điều kiện kinh tế - xã hội để đặt chiến lược phát triển  
kinh tế đúng đắn, xây dựng các chương trình, kế hoạch phát triển một cách chủ  
động, đạt hiệu quả cao và vững chắc.  
- Dự báo xã hội: Dự báo xã hội là khoa học nghiên cứu những triển vọng cụ  
thể của một hiện tượng, một sự biến đổi, một quá trình xã hội, để đưa ra dự báo  
hay dự đoán về tình hình diễn biến, phát triển của một xã hội.  
- Dự báo tự nhiên, thiên văn học, loại dự báo này thường bao gồm:  
+ Dự báo thời tiết: Thông báo thời tiết dự kiến trong một thời gian nhất định  
trên một vùng nhất định. Trong dự báo thời tiết có dự báo chung, dự báo khu vực,  
dự báo địa phương, v.v. Về thời gian, có dự báo thời tiết ngắn (1-3 ngày) và dự báo  
thời tiết dài (tới một năm).  
+ Dự báo thuỷ văn: Là loại dự báo nhằm tính để xác định trước sự phát triển  
các quá trình, hiện tượng thuỷ văn xảy ra ở các sông hồ, dựa trên các tài liệu liên  
quan tới khí tượng thuỷ văn. Dự báo thuỷ văn dựa trên sự hiểu biết những quy luật  
phát triển của các quá trình, khí tượng thuỷ văn, dự báo sự xuất hiện của hiện  
tượng hay yếu tố cần quan tâm. Căn cứ thời gian dự kiến, dự báo thuỷ văn được  
chia thành dự báo thuỷ văn hạn ngắn (thời gian không quá 2 ngày), hạn vừa (từ 2  
đến 10 ngày); dự báo thuỷ văn mùa (thời gian dự báo vài tháng); cấp báo thuỷ văn:  
thông tin khẩn cấp về hiện tượng thuỷ văn gây nguy hiểm. Theo mục đích dự báo,  
có các loại: dự báo thuỷ văn phục vụ thi công, phục vụ vận tải, phục vụ phát  
điện,v.v. Theo yếu tố dự báo, có: dự báo lưu lượng lớn nhất, nhỏ nhất, dự báo lũ,  
v.v.  
10  
+ Dự báo địa lý: Là việc nghiên cứu về hướng phát triển của môi trường địa  
lí trong tương lai, nhằm đề ra trên cơ sở khoa học những giải pháp sử dụng hợp lí và  
bảo vệ môi trường.  
+ Dự báo động đất: Là loại dự báo trước địa điểm và thời gian có khả năng xảy  
ra động đất. Động đất không đột nhiên xảy ra mà là một quá trình tích luỹ lâu dài, có  
thể hiện ra trước bằng những biến đổi địa chất, những hiện tượng vật lí, những trạng  
thái sinh học bất thường ở động vật,.v.v. Việc dự báo thực hiện trên cơ sở nghiên cứu  
bản đồ phân vùng động đất và những dấu hiệu báo trước. Cho đến nay, chưa thể dự  
báo chính xác về thời gian động đất sẽ xảy ra.  
1.1.3. Các phương pháp dự báo  
1.1.3.1. Phương pháp dự báo định tính  
Các phương pháp này dựa trên cơ sở nhận xét của những nhân tố nhân quả,  
dựa theo doanh số của từng sản phẩm hay dịch vụ riêng biệt và dựa trên những ý kiến  
về các khả năng có liên hệ của những nhân tố nhân quả này trong tương lai (Những  
phương pháp này có liên quan đến mức độ phức tạp khác nhau, từ những khảo sát ý  
kiến được tiến hành một cách khoa học để nhận biết về các sự kiện tương lai).  
Ưu điểm : Dễ dàng thực hiện, không đòi hỏi kiến thức về các mô hình toán  
hoặc kinh tế lượng, thường được chấp nhận  
Nhược điểm: Mang tính chủ quan rất cao, không chuẩn, mất nhiều năm để trở  
thành người có khả năng phán đoán đúng. Không có phương pháp hệ thống để đánh  
giá và cải thiện mức độ chính xác.  
Dưới đây là các dự báo định tính thường dùng:  
1.3.1.1. Lấy ý kiến của ban điều hành  
Phương pháp này được sử dụng rộng rãi ở các doanh nghiệp. Khi tiến hành  
dự báo, họ lấy ý kiến của các nhà quản trị cấp cao, những người phụ trách các công  
việc, các bộ phận quan trọng của doanh nghiệp, và sử dụng các số liệu thống kê về  
những chỉ tiêu tổng hợp: doanh số, chi phí, lợi nhuận...Ngoài ra cần lấy thêm ý kiến  
của các chuyên gia về marketing, tài chính, sản xuất, kỹ thuật.  
Ưu điểm của phương pháp này là: Thu thập được nhiều kinh nghiệm từ  
nhiều chuyên gia khác nhau.  
11  
 
Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là có tính chủ quan của các thành  
viên và ý kiến của người có chức vụ cao nhất thường chi phối ý kiến của những người  
khác.  
1.3.1.2. Lấy ý kiến của người bán hàng  
Ưu điểm của phương pháp này là: Những người bán hàng tiếp xúc thường  
xuyên với khách hàng, do đó họ hiểu rõ nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng. Họ  
có thể dự đoán được lượng hàng tiêu thụ tại khu vực mình phụ trách.  
Tập hợp ý kiến của nhiều người bán hàng tại nhiều khu vực khác nhau, ta có  
được lượng dự báo tổng hợp về nhu cầu đối với loại sản phẩm đang xét.  
Nhược điểm của phương pháp này là phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của  
người bán hàng. Một số có khuynh hướng lạc quan đánh giá cao lượng hàng bán ra  
của mình. Ngược lại, một số khác lại muốn giảm xuống để dễ đạt định mức.  
1.3.1.3. Phương pháp chuyên gia (Delphi)  
Phương pháp này thu thập ý kiến của các chuyên gia trong hoặc ngoài doanh  
nghiệp theo những mẫu câu hỏi được in sẵn và được thực hiện như sau:  
- Mỗi chuyên gia được phát một thư yêu cầu trả lời một số câu hỏi phục vụ  
cho việc dự báo.  
- Nhân viên dự báo tập hợp các câu trả lời, sắp xếp chọn lọc và tóm tắt lại  
các ý kiến của các chuyên gia.  
- Dựa vào bảng tóm tắt này nhân viên dự báo lại tiếp tục nêu ra các câu hỏi  
để các chuyên gia trả lời tiếp.  
- Tập hợp các ý kiến mới của các chuyên gia. Nếu chưa thỏa mãn thì tiếp tục  
quá trình nêu trên cho đến khi đạt yêu cầu dự báo.  
Ưu điểm của phương pháp này là tránh được các liên hệ cá nhân với nhau,  
không xảy ra va chạm giữa các chuyên gia và họ không bị ảnh hưởng bởi ý kiến  
của một người nào đó có ưu thế trong số người được hỏi ý kiến.  
1.3.1.4. Phương pháp điều tra người tiêu dùng  
Phương pháp này sẽ thu thập nguồn thông tin từ đối tượng người tiêu dùng  
về nhu cầu hiện tại cũng như tương lai. Cuộc điều tra nhu cầu được thực hiện bởi  
những nhân viên bán hàng hoặc nhân viên nghiên cứu thị trường. Họ thu thập ý kiến  
12  
khách hàng thông qua phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp hay điện thoại... Cách  
tiếp cận này không những giúp cho doanh nghiệp về dự báo nhu cầu mà cả trong  
việc cải tiến thiết kế sản phẩm. Phương pháp này mất nhiều thời gian, việc chuẩn  
bị phức tạp, khó khăn và tốn kém, có thể không chính xác trong các câu trả lời của  
người tiêu dùng.  
Ưu điểm: Cách tốt nhất để dự báo nhu cầu, sở thích của họ qua dự định mua  
sắm của họ, điều tra được thị hiếu của khách hàng để cải tiến sản phẩm.  
Nhược điểm: Phù hợp cho các sản phẩm công nghiệp, tính chính xác của dữ liệu.  
1.1.3.2. Phương pháp dự báo định lượng  
Mô hình dự báo định lượng dựa trên số liệu quá khứ, những số liệu này giả  
sử có liên quan đến tương lai và có thể tìm thấy được. Tất cả các mô hình dự báo  
theo định lượng có thể sử dụng thông qua chuỗi thời gian và các giá trị này được  
quan sát đo lường các giai đoạn theo từng chuỗi .  
Ưu điểm:  
- Kết quả dự báo hoàn toàn khách quan  
- Có phương pháp đo lường độ chính xác dự báo  
- Tốn ít thời gian để tìm ra kết quả dự báo  
Nhược điểm:  
- Chỉ dự báo tốt trong thời gian ngắn và trung hạn  
- Không có phương pháp nào có thể đưa đầy đủ những yếu tố bên ngoài có  
tác động đến kết quả dự báo vào mô hình.  
Tính chính xác của dự báo  
Tính chính xác của dự báo đề cập đến độ chênh lệch của dự báo với số liệu  
thực tế. Bởi vì dự báo được hình thành trước khi số liệu thực tế xảy ra, vì vậy tính  
chính xác của dự báo chỉ có thể đánh giá sau khi thời gian đã qua đi. Nếu dự báo  
càng gần với số liệu thực tế, ta nói dự báo có độ chính xác cao và lỗi trong dự báo  
càng thấp.  
Gọi:  
: giá trị thực tại giai đoạn t  
: giá trị dự báo tại giai đoạn t  
13  
n: số giai đoạn  
Sai số dự báo: et =  
-
Nếu một mô hình được đánh giá là tốt thì sai số dự báo phải tương đối nhỏ.  
Tiêu chí  
1. Sai số trung bình  
Công thức tính  
ME =  
2. Sai số trung bình tuyệt đối  
MAE =  
MPE =  
3. Sai số phần trăm trung bình  
4. Sai số phần trăm trung bình tuyệt đối  
5. Sai số bình phương trung bình  
x 100%  
x 100%  
MAPE =  
MSE =  
6. Sai số bình phương trung bình chuẩn  
+ Sai số của dự báo:  
RMSE =  
+ Sai số dự báo là sự chênh lệch giữa mức độ thực tế và mức độ tính toán  
theo mô hình dự báo.  
+ Sai số dự báo phụ thuộc vào 03 yếu tố: độ biến thiên của tiêu thức trong  
thời kỳ trước, độ dài của thời gian của thời kỳ trước và độ dài của thời kỳ dự đoán.  
+ Vấn đề quan trọng nhất trong dự báo bằng ngoại suy hàm xu thế là lựa  
chọn hàm xu thế, xác định sai số dự đoán và khoảng dự đoán:  
δ
- Công thức tính sai số chuẩn (  
)
y
2
yi −y  
n − p  
δ y =  
Trong đó:  
δ
y : Sai số chuẩn  
ˆ
y
: Giá trị tính toán theo hàm xu thế  
N: Số các mức độ trong dãy số  
P: Số các tham số cần tìm trong mô hình xu thế  
Công thức này được dùng để lựa chọn dạng hàm xu thế (so sánh các sai số  
chuẩn tính được) sai số nào nhỏ nhất chứng tỏ rằng hàm tương ứng với sai số sẽ  
14  
xấp xỉ tốt nhất và được lựa chọn làm hàm xu thế để dự đoán. Thông thường để  
việc dự đoán được tiến hành đơn giản ta vẫn chọn hàm xu thế làm hàm tuyến tính.  
Công thức tính sai số dự báo:  
1
n
3(n 2L 1)  
n(n 1)  
ˆ
1
S
p = δy  
Trong đó:  
ˆ
S
p : Sai số của dự báo  
n: số lượng các mức độ (n=10)  
L: tầm xa của dự báo  
y : sai số chuẩn  
+ Hệ số tương quan  
Kháiniệm: Hệ số tương quan là chỉ tiêu đánh giá mức độ chặt chẽ của mối  
liên hệ tương quan tuyến tính đơn.  
Tác dụng:  
Xác định cường độ của mối liên hệ từ đó chọn ra nguyên nhân chủ yếu  
hoặc thứ yếu đối với hiện tượng nghiên cứu.  
Xác định chiều hướng cụ thể của mối liên hệ (thuận – nghịch).  
Hệ số tương quan còn dùng trong nhiều trường hợp dự đoán thống kê và  
tính sai số của dự đoán  
xy x.y  
r
Công thức tính:  
.
x
y
Như vậy, dấu của hệ số tương quan r phụ thuộc vào dấu của hệ số b vì  
phương sai luôn mang dấu dương.  
Các tính chất của hệ số tươngquan:Miền xác định: –1 ≤ r ≤ 1.  
r > 0: Mối liên hệ tươngquantuyến tính thuận.  
r < 0: Mối liên hệ tươngquantuyến tính nghịch.  
r = ± 1: Mối liên hệ hàmsố hoàn toàn chặt chẽ.  
r = 0: Không có mối liên hệ tương quan tuyến tính giữa x và y.  
r càng gần1:Mối liên hệ càngchặtchẽ (cường độ mối liên hệ).  
15  
r > 0,9: Mối liên hệ rất chặt chẽ.  
0,7 ≤ r ≤0,9: Mối liên hệtương đối chặt chẽ.  
0,5≤r ≤0,7:Mốiliênhệbìnhthường  
r < 0,5 : Mối liên hệ hết sức lỏng lẻo.  
2
( )  
+ Hệ số xác định  
:
r
Hệ số xác định dùng để đánh giá sự phù hợp của mô hình, nó cho biết tỷ leej  
% thay đổi của y được giải thích bởi mô hình.  
1.3.2.1. Phương pháp hồi quy tuyến tính  
Nhiệm vụ đầu tiên của phân tích hồi quy tương quan là xây dựng mô hình  
hồi quy và xác định tính chất cũng như hình thức của mối liên hệ (loại mô hình).  
ˆ
y
a b.t  
Mô hình dự đoán theo phương trình hồi quy:  
Trong đó:  
t : Trị số của tiêu thức gây ảnh hưởng (nguyên nhân) (biến độc lập).  
ˆ
y
: Trị số điều chỉnh của tiêu thức chịu ảnh hưởng (kết quả) (biến phụ  
thuộc) theo quan hệ với t.  
a: Hệ số tự do (hệ số chặn), là điểm xuất phát của đường hồi quy lý thuyết,  
nêu lên ảnh hưởng của các nhân tố khác (tiêu thức nguyên nhân khác) ngoài t tới sự  
biến động của y.  
b: Hệ số hồi quy (hệ sốgóc,độ dốc), phản ánh ảnh hưởng trực tiếp của tiêu  
thức nguyên nhân t đến tiêu thức kết quả y.Mỗi khi t tăng lên 1 đơn vị thì y sẽ thay  
đổi trung bình b đơn vị. b nói lên chiều hướng của mối liên hệ: b >0: Mối liên hệ  
thuận; b<0: Mối liên hện ghịch.  
+ Cách xác định tham số: a, b phải được xác định sao cho đường hồi quy lý  
thuyết mô tả gần đúng nhất mối liên hệ thực tế. Khoảng cách từ điểm thực tế đến  
điểm thuộc đường hồi quy lý thuyết nhỏ nhất sẽ là tốt nhất.  
Từ phương trìnhh trên bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất hoặc thông  
qua việc đặt thứ tự thời gian (t) trong dãy số để tính các tham số a, b. Nếu đặt thứ  
tự thời gian t sao cho ∑t # 0 ta có công thức tính tham số như sau:  
y.t y.t  
a
b
y a.t  
t2 t2  
16  
Nếu đặt thứ tự thời gian t sao cho ∑t = 0 ta có:  
y
yt  
t2  
a
y
b
n
17  
+ Lưu đồ thuật toán hồi quy tuyến tính  
Bắt đầu  
Nhập số quan sát n  
Nhập giá trị x, y tương ứng  
Nhập giá trị ,  
Nhập tầm xa của dự đoán L  
(∑t # 0)  
Xuất ra:  
Dự báo  
Khoảng dự báo  
Sai số dự báo  
Sai số chuẩn  
Kết thúc  
Hình 1.1. Lưu đồ thuật toán phương pháp hồi quy tuyến tính  
18  
 
* Phương pháp điều hòa mũ  
Điều hòa mũ đưa ra các dự báo cho giai đoạn trước và thêm vào đó một  
lượng điều chỉnh để có được lượng dự báo cho giai đoạn kế tiếp. Sự điều chỉnh  
này là một tỷ lệ nào đó của sai số dự báo ở giai đoạn trước và được tính bằng  
cách nhân số dự báo của giai đoạn trước với hệ số nằm giữa 0 và 1. Hệ số này  
gọi là hệ số điều hòa.  
Công thức tính như sau: Ft = Ft-1+ α (At-1−Ft-1)  
Trong đó : Ft:Dự báo cho giai đoạn thứ t, giai đoạn kế tiếp.  
Ft-1:Dự báo cho giai đoạn thứ t-1, giai đoạn trước.  
At-1: Số liệu thực tế của giai đoạn thứ t-1  
19  
+ Lưu đồ thuật toán phương pháp san bằng mũ  
Bắt đầu  
Nhập số liệu thực tế  
Nhập hệ số san bằng mũ  
ME =  
MAE =  
MPE = x 100%  
MAPE = x 100%  
MSE =  
RMSE =  
Xuất ra:  
Giá trị dự báo  
Sai số trung bình ME  
Sai số trung bình tuyệt đối MAE  
Phần trăm sai số trung bình MPE  
Phần trăm sai số tuyệt đối trung bình MAPE  
Sai số bình phương MSE  
Sai số bình phương trung bình chuẩn RMSE  
Kết thúc  
Hình 1.2. Lưu đồ thuật toán phương pháp san bằng mũ  
* Phương pháp trung bình động giản đơn  
Phương pháp trung bình động đơn giản là phương pháp đưa ra dự báo cho  
giai đoạn tiếp theo dựa trên cơ sở kết quả trung bình của các kỳ trước đó thay đổi  
(trượt) trong một giới hạn thời gian nhất định.  
20  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 65 trang yennguyen 28460 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tiểu luận Xây dựng chương trình dự báo doanh thu bán hàng cho siêu thị Minh Cầu - Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftieu_luan_xay_dung_chuong_trinh_du_bao_doanh_thu_ban_hang_ch.pdf