Thực trạng giáo viên mầm non sử dụng phương pháp Montessori để giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật cho trẻ từ 24-36 tháng tại trường mầm non tư thục Montessori, phường Thảo Điền, Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh

VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 142-146; 199  
THỰC TRẠNG GIÁO VIÊN MẦM NONSỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI  
ĐỂ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỬ DỤNG VẬT THẬT CHO TRẺ TỪ 24-36 THÁNG  
TẠI TRƯỜNG MẦM NON TƯ THỤC MONTESSORI, PHƯỜNG THẢO ĐIỀN,  
QUẬN 2, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Lê Hoài Thu - Trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa, Vũng Tàu  
Ngày nhận bài: 13/5/2019; ngày chỉnh sửa: 25/5/2019; ngày duyệt đăng: 31/5/2019.  
Abstract: Montessori method is an early education method for children with special education  
process based on sensory learning and being applied increasingly in Vietnam. In the process of  
using, besides the strong side, teachers still encounter some limitations. The article presents the  
survey results of current status of preschool teachers using montessori method to educate skills of  
using real objects for children aged 24-36 months at Montessori private preschool in Thao Dien  
ward, District 2, Ho Chi Minh city  
Keywords: Montessori method, skills of using real objects, 24-36 month children, current situation.  
+ Biện pháp, nội dung giáo dục kĩ năng sử dụng vật  
thật cho trẻ 24-36 tháng tuổi.  
1. Mở đầu  
Giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật cho trẻ là một trong  
+ Những khó khăn mà GVMN gặp phải trong quá  
trình sử dụng phương pháp Montessori để giáo dục kĩ  
năng sử dụng vật thật cho trẻ 24-36 tháng.  
-Đối tượng khảo sát: 20 GVMN đã và đang dạy lớp  
24-36 tháng  
- Địa bàn khảo sát: Trường Mầm non tư thục  
Montessori, phường Thảo Điền, Quận 2, TP. Hồ Chí  
Minh.  
những nhiệm vụ quan trọng của giáo viên mầm non  
(GVMN) khi dạy trẻ 24-36 tháng. Việc giáo dục kĩ năng  
sử dụng vật thật bao hàm việc hướng dẫn cách sử dụng  
vật thật, tác động giúp trẻ nắm được chức năng của  
chúng, kết quả là trẻ có kĩ năng sử dụng vật thật trong  
sinh hoạt hàng ngày; hình thành, hiểu được những quy  
tắc, hành vi đơn giản trong xã hội,...  
Hiện nay, nhiều giáo viên ở Trường Mầm non tư thục  
Montessori (phường Thảo Điền, Quận 2, TP. Hồ Chí  
Minh) vẫn thường đề ra những mục tiêu giáo dục trẻ kĩ  
năng sử dụng vật thật và sử dụng phương pháp giáo dục  
Montessori để thực hiện các mục tiêu này. Tất cả các giáo  
viên của trường đều được đào tạo hoặc được tập huấn về  
phương pháp Montessori. Tuy vậy, trong bất kì trường  
học nào, giáo viên luôn có những mặt mạnh và hạn chế  
trong quá trình vận dụng các phương pháp dạy học của  
mình vì việc lựa chọn các biện pháp dạy học vẫn phụ  
thuộc vào nhiều yếu tố như mục tiêu phát triển, khả năng  
kết hợp các mục tiêu dạy học, điều kiện dạy học và cả  
hình thức tổ chức dạy học.  
- Thời gian khảo sát: tháng 03/2018.  
- Phương pháp khảo sát thực trạng:  
+ Phát phiếu hỏi cho 20 GVMN và tập hợp số liệu,  
phân tích để tìm hiểu thực trạng nhận thức, thực trạng  
khó khăn của GVMN khi sử dụng phương pháp  
Montessori để giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật cho trẻ  
24-36 tháng.  
+ Tiến hành quan sát lớp 24-36 tháng của trường. Từ  
đó, đánh giá thực trạng nhận thức của GVMN và thực tế  
sử dụng phương pháp Montessori để giáo dục kĩ năng sử  
dụng vật thật cho trẻ 24-36 tháng tại trường, chỉ ra những  
thành công và khó khăn của việc giáo dục kĩ năng sử  
dụng vật thật cho trẻ.  
Bài viết trình bày kết quả khảo sát thực trạng GVMN sử  
dụng phương pháp Montessori nhằm giáo dục kĩ năng sử  
dụngvậtthậtchotrẻ 24-36thángởTrườngMầmnontưthục  
Montessori, phườngThảo Điền, Quận 2, TP. HồChí Minh.  
+ Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn những giáo  
viên khi xuất hiện vấn đề chưa rõ trong nội dung trả lời  
phiếu hỏi hoặc trong quá trình quan sát.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Tổ chức khảo sát thực trạng  
- Nội dung khảo sát:  
+ Tìm hiểu thực trạng nhận thức của GVMN về việc  
sử dụng phương pháp Montessori để giáo dục kĩ năng sử  
dụng vật thật cho trẻ 24-36 tháng tại trường mầm non tư  
thục Montessori.  
2.2. Phân tích kết quả khảo sát thực trạng  
2.2.1. Nhận thức của giáo viên mầm non trong việc sử  
dụng phương pháp Montessori để giáo dục kĩ năng sử  
dụng vật thật cho trẻ 24-36 tháng  
- Mức độ cần thiết của việc sử dụng phương pháp  
Montessori để giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật cho trẻ  
24-36 tháng:  
142  
Email: hoaithu.cdspbr@gmail.com  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 142-146; 199  
Bảng 1. Kết quả khảo sát mức độ cần thiết  
Khi phỏng vấn về mức độ mà GVMN thường xuyên  
của việc sử dụng phương pháp Montessori để giáo dục tổ chức hoạt động với vật thật cho trẻ, cô N.T.T cho rằng  
kĩ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24-36 tháng  
“Việc tổ chức giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật cho trẻ ở  
giai đoạn này rất cần thiết vì vậy các GVMN trong trường  
thực hiện tổ chức hoạt động với vật thật hằng ngày cho  
trẻ”. Điều này cho thấy, GVMN nhận thức rất tốt về việc  
cần thiết tổ chức hoạt động với vật thật cho trẻ.  
Qua quan sát, với phương pháp này, GVMN tổ chức  
cho trẻ sử dụng vật thật hằng ngày, thông qua các dạng  
hoạt động trong và ngoài lớp; các hoạt động cụ thể là: trẻ  
sử dụng bình tưới cây, lau kính trong lớp học, treo cặp,  
mặc quần áo,… Có thể thấy, phần lớn trẻ rất hứng thú khi  
hoạt động với chúng mặc dù việc sử dụng vật thật vẫn còn  
vụng về, chưa thành thạo. Bên cạnh đó, trẻ có thể tự hoạt  
động một cách độc lập, qua những lần làm sai trẻ sẽ rút ra  
bài học cho những lần tiếp theo để làm tốt hơn.  
2.2.2. Biện pháp, nội dung khi sử dụng phương pháp  
Montessori giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24-  
36 tháng tuổi  
- Các biện pháp GVMN sử dụng phương pháp  
Montessori giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24-  
36 tháng tuổi (bảng 2)  
Mức độ nhận thức  
của giáo viên  
Tỉ lệ  
STT  
Số ý kiến  
(%)  
95%  
5%  
1
2
3
4
Rất cần thiết  
Cần thiết  
19  
1
Ít cần thiết  
0
0%  
Không cần thiết  
0
0%  
Qua bảng 1, cho thấy cao nhất là tỉ lệ 95% dành cho  
mức độ rất cần thiết. Tất cả GVMN đều khẳng định rằng  
việc tổ chức giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật là rất cần  
thiết. Theo GVMN, khi sử dụng phương pháp  
Montessori cho việc dạy học này thì GVMN nhận thấy  
việc tổ chức cho trẻ tiếp xúc với vật thật là một hoạt động  
rất cần thiết và có ích với trẻ, trẻ rất hứng thú, say sưa khi  
được sử dụng vật thật để phục vụ bản thân, giúp đỡ mọi  
người và giữ gìn môi trường xung quanh. Khi hoạt động  
với vật thật, đặc biệt là những đồ vật dễ vỡ như: thủy tinh,  
gốm sứ… Nếu vô tình trẻ lỡ tay làm rơi thì đây cũng là  
Bảng 2. Tổng hợp lựa chọn của GVMN về mức độ sử dụng các biện pháp  
để giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24 - 36 tháng  
Tỉ lệ (%)  
STT  
Biện pháp  
Thường  
Ít thường  
Không thường  
xuyên  
xuyên  
10  
xuyên  
1
2
3
4
5
6
Làm mẫu cho trẻ xem sau đó trẻ bắt chước theo cô thực hiện  
Cùng làm với trẻ  
90  
60  
40  
75  
70  
80  
0
10  
25  
0
20  
Dùng lời hướng dẫn  
35  
Cho trẻ hoạt động tự do  
25  
Động viên, khích lệ trẻ  
30  
0
Giao nhiệm vụ cho trẻ thực hiện  
15  
5
Sắp xếp môi trường vật thật có mục đích giúp trẻ liên tưởng  
cách sử dụng  
7
8
55  
65  
45  
35  
0
0
Tạo bầu không khí tâm lí thoải mái, không áp đặt, gò bó trẻ  
cơ hội để giáo dục trẻ, vì bản thân trẻ cũng cảm thấy rất  
buồn khi mất đi một thứ đồ ưa thích, chính sự tiếc nuối  
này sẽ giúp trẻ rút ra bài học kinh nghiệm, biết hoạt động  
với những đồ vật thật một cách nhẹ nhàng và cꢀn thận  
hơn, nắm được tính chất của vật mà trẻ sử dụng cũng là  
giúp cho trẻ tránh được những tai nạn do sử dụng vật thật  
không đúng cách, dần dần hình thành kĩ năng sử dụng  
vật thật cho trẻ. Chính vì vậy, đa số GVMN tại Trường  
Mầm non tư thục Montessori cho rằng rất cần thiết để tổ  
chức giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật cho trẻ trong giai  
đoạn 24-36 tháng tuổi.  
Bảng 2 cho thấy:  
+ Biện pháp được GVMN lựa chọn mức độ thường  
xuyên sử dụng nhiều nhất là “Làm mẫu cho trẻ xem sau  
đó trẻ bắt chước theo cô thực hiện” (90%). Qua quan sát,  
GVMN đã sử dụng biện pháp này trong giờ chơi - tập có  
chủ đích và giờ hoạt động tự do. Ở giờ chơi - tập có chủ  
đích, GVMN làm mẫu về cách sử dụng vật thật mới cho  
cả lớp xem; sau đó cho từng trẻ lên làm lại, các trẻ còn  
lại sẽ quan sát cách làm của bạn, một số trẻ làm sai  
GVMN đã làm mẫu một lần nữa và cho trẻ thực hiện lại.  
Bên cạnh đó, giờ hoạt động tự do, trẻ đã được thực hành,  
143  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 142-146; 199  
luyện tập để tự trẻ tìm ra được cách sử dụng đúng vật chúng, GVMN cần hỗ trợ trẻ bằng cách cùng làm với trẻ,  
thật. Một số trẻ làm sai nhiều lần, cần sự hỗ trợ thì trẻ vừa làm vừa quan sát thao tác của cô. Như vậy, trẻ sẽ  
GVMN đã đến làm mẫu cho trẻ xem để trẻ làm theo cô. dễ dàng theo dõi và nắm bắt cách làm của cô; từ đó, trẻ  
có thể tự mình làm tốt hơn ở những lần sau. Biện pháp  
này khá hiệu quả vì có thể can thiệp kịp thời giúp trẻ  
không mất đi hứng thú khi hoạt động, nếu không can  
thiệp kịp thời bằng cách cùng làm với trẻ thì trẻ sẽ trở nên  
chán nản vì không biết cách làm.  
+Biệnpháp“Giaonhiệmvụchotrẻthựchiện”có80%  
GVMN lựa chọn thường xuyên sử dụng biện pháp này.  
Các GVMN sử dụng biện pháp này cho rằng việc giao  
nhiệm vụ cho trẻ thực hiện sẽ giúp giáo viên dễ dàng theo  
dõi, nắmbắt mức độthực hiệnkĩ năngsửdụng vậtthật của  
trẻ; từ đó, có những cách rèn luyện phù hợp với từng trẻ.  
+ Biện pháp: “Sắp xếp môi trường vật thật có mục  
Tuy nhiên, còn lại 15% GVMN ít thường xuyên và 5% đích giúp trẻ liên tưởng cách sử dụng”. có 55% GVMN  
GVMN không thường xuyên sử dụng biện pháp này thì lựa chọn ở mức độ thường xuyên. Các GVMN đều cho  
cho rằng việc giao nhiệm vụ cho trẻ thực hiện sẽ làm giảm rằng việc “Sắp xếp môi trường vật thật có mục đích giúp  
đi sự hứng thú của trẻ trong quá trình hoạt động như: tại trẻ liên tưởng cách sử dụng” sẽ góp phần quan trọng  
khu vực “Thực hành cuộc sống”, trẻ muốn chọn việc sử trong việc giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật cho trẻ. Theo  
dụng dao nhựa để cắt chuối nhưng GVMN giao nhiệm vụ quan điểm khảo sát, môi trường là một trong những yếu  
chotrẻ phải xếp khănăn, điềunàykhông đúng với sởthích tố quan trọng không thể thiếu trong việc dạy học này vì  
của trẻ; từ đó, việc giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật cũng trong môi trường vật thật, hầu hết trẻ đều bị lôi cuốn bởi  
bị ảnh hưởng, thậm chí có thể không đạt được yêu cầu mà những đồ dùng này và làm việc theo ý thích của trẻ.  
cô đặt ra. Như vậy, việc thường xuyên giao nhiệm vụ cho Những vật thật đó có ảnh hưởng trực tiếp đến kĩ năng sử  
trẻ thực hiện sẽ giúp cho GVMN dễ dàng quan sát, cũng dụng vật thật của trẻ thông qua việc trẻ cầm, nắm, đặt,  
như nắm được mức độ thực hiện kĩ năng sử dụng vật thật để, cắt, rửa,… Chính vì vậy, việc sắp xếp môi trường vật  
của từng trẻ. Tuy nhiên, trong quá trình giao nhiệm vụ cho thật có mục đích giúp trẻ liên tưởng cách sử dụng, tránh  
trẻ thực hiện, GVMN không nên quá cứng nhắc mà phải tình trạng tạo nên sự nhàm chán ở trẻ và đồng thời củng  
khéo léo, linh hoạt trong từng hoạt động.  
cố kĩ năng sử dụng vật thật ở trẻ. Tuy nhiên, 45% GVMN  
lựa chọn biện pháp này ở mức độ ít thường xuyên, hầu  
hết giáo viên đều cho rằng đây là biện pháp có ảnh hưởng  
trực tiếp đến kĩ năng sử dụng vật thật của trẻ nhưng do  
điều kiện vật chất của trường còn chưa đầy đủ, chưa đáp  
ứng được nhu cầu vật chất khi sử dụng biện pháp này.  
+ Biện pháp “Động viên, khích lệ trẻ” có tỉ lệ giáo  
+ Biện pháp “Cho trẻ hoạt động tự do” có 75%  
GVMN lựa chọn mức độ thường xuyên. Qua phỏng vấn  
cho thấy, cô P.T.Q cho rằng GVMN sử dụng biện pháp  
này vì: “Phương pháp Montessori luôn đề cao tự do của  
trẻ”. Theo Montessori: “Tự do là chìa khóa của quá trình  
phát triển”. Khi trẻ cảm thấy tự do thì trẻ sẽ vui vẻ, thoải  
mái, hứng thú trong công việc mà trẻ thực hiện. Để thực viên lựa chọn ở mức độ 70% thường xuyên. Phần lớn  
hiện được điều này thì GVMN phải sẵn sàng tạo cho trẻ GVMN cho rằng đây là biện pháp hỗ trợ nhằm kích  
những tương trợ cần thiết, GVMN để trẻ tự chủ trong thích, gây hứng thú cho trẻ.  
hoạt động, không can thiệp sâu vào công việc của trẻ.  
+ Biện pháp “Dùng lời hướng dẫn cách sử dụng” có  
+ Biện pháp “Tạo bầu không khí tâm lí thoải mái, 40% GVMN lựa chọn ở mức độ thường xuyên. Các  
không áp đặt, gò bó trẻ”, có 65% GVMN lựa chọn mức GVMN cho rằng biện pháp này giúp trẻ định hướng được  
độ thường xuyên. Việc tạo bầu không khí tâm lí thoải những điều trẻ sẽ thực hiện trong suốt quá trình trẻ hoạt  
mái, không áp đặt, gò bó trẻ giúp duy trì hoạt động và động. Tuy nhiên, vẫn còn 35% GVMN lựa chọn biện  
góp phần rèn luyện kĩ năng sử dụng vật thật ở trẻ. Trẻ ở pháp này ở mức độ ít thường xuyên và không đạt hiệu  
lứa tuổi nàythời gian để trẻ tập trung hoàn thành một việc quả cao do một số trẻ bất đồng ngôn ngữ với GVMN và  
rất ngắn, trẻ hay tỏ ra chán nản và dễ bỏ cuộc; vì vậy, GVMN ở trường mầm non tư thục Montessori cho rằng:  
việc tạo bầu không khí tâm lí thoải mái, không áp đặt, gò “Trẻ ở độ tuổi này, GVMN cần hành động hơn là lời nói  
bó trẻ là việc cần thiết.  
+ Biện pháp “Cùng làm với trẻ” có 60% GVMN lựa  
chọn mức độ thường xuyên; còn lại 20% GVMN lựa  
vì lúc này trẻ có thể tiếp nhận hình ảnh bên ngoài một  
cách dễ dàng hơn”.  
Để giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật cho trẻ thông qua  
chọn mức độ ít thường xuyên và 10% GVMN lựa chọn việc sử dụng phương pháp Montessori có hiệu quả thì việc  
mức độ không thường xuyên vì trong quá trình trẻ hoạt lựa chọn và sử dụng hệ thống các biện pháp đóng vai trò  
động, giáo viên đóng vai trò là người “giám thị” để cho quan trọng. Do đó, trước tiên phải có một hệ thống biện  
trẻ được sử dụng vật thật theo ý của trẻ. Tuy nhiên, do trẻ pháp phù hợp, đảm bảo tính khoa học và thực tiễn. Đồng  
ở độ tuổi 24-36 tháng vốn kinh nghiệm chưa nhiều nên thời, việc phối hợp linh hoạt, khéo léo giữa các biện pháp  
có những vật thật trẻ vẫn còn lúng túng khi sử dụng vớinhaucũngảnhhưởngđếnhiệuquảcủacôngtácnày.Từ  
144  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 142-146; 199  
số liệu trên, có thể thấy GVMN đã lựa chọn sử dụng một số mình thì lúc đó trẻ sẽ làm tốt những việc khác như: sử dụng  
biện pháp tổ chức giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật theo dụngcụ nhà bếp để chế biếnthức ănphục vụ chotrẻ và mọi  
phương pháp Montessori cho trẻ tương đối phù hợp.  
- Nội dung giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật cho trẻ  
24-36 tháng theo phương pháp Montessori:  
người, sử dụng công cụ lao động để chăm sóc và bảo vệ  
thiên nhiên quanh trẻ”. Điều này, giúp trẻ cảm thấy thích  
thú, say sưa khi được trải nghiệm cùng chúng.  
Bêncạnhđó, để làmrõhơn giáo dục kĩ năngsửdụng vật  
thật thuộc lĩnh vực giáo dục nào của phương pháp  
Trẻ ở giai đoạn này đã bắt đầu phải học cách tự lập,  
điều này đòi hỏi trẻ phải có kĩ năng sử dụng vật thật, cho  
nên những nội dung được thiết kế trong chương trình Montessori, côL.K.C cho rằng“Việc giáo dục trẻ kĩ năngsử  
giảng dạy nhằm giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật tại lớp  
24-36 tháng luôn theo sát khả năng của từng trẻ và đi từ  
dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Nội dung giáo dục  
mà GVMN thường đề cập để rèn kĩ năng sử dụng vật thật  
cho trẻ được thể hiện ở bảng 3:  
dụng vật thật thuộc lĩnh vực thực hành cuộc sống trong năm  
lĩnh vực giáo dục của phương pháp Montessori và nội dung  
giáo dục giúp cho trẻ luyện tập các kĩ năng sử dụng các vật  
thật xung quanh cuộc sống của trẻ để trẻ có thể tự phục vụ  
Bảng 3. Tổng hợp lựa chọn của GVMN về mức độ sử dụng các nội dung  
để giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24-36 tháng  
Tỉ lệ (%)  
STT  
Nội dung  
Thường  
Ít  
Không  
xuyên  
thường xuyên thường xuyên  
Sử dụng những đồ dùng tự phục vụ bản thân như: ăn  
uống, ngủ, vệ sinh, đi lại...  
1
2
3
80  
55  
35  
20  
45  
65  
0
0
0
Sử dụng dụng cụ nhà bếp trong các giờ học ngoại khóa  
Sử dụng công cụ lao động trong vườn trường hoặc trong  
hoạt động dã ngoại.  
Bảng 4. Những khó khăn của GVMN khi giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật  
cho trẻ 24-36 tháng theo phương pháp Montessori  
Tỉ lệ (%)  
STT  
Những khó khăn  
Mất nhiều thời gian  
Thường  
xuyên  
Ít  
Không  
thường xuyên thường xuyên  
1
2
60  
0
40  
0
0
0
Thời gian cho hoạt động chưa đủ  
Không biết cách kích thích trẻ động não, nên thường  
làm mẫu cho trẻ làm theo  
3
4
5
6
7
8
40  
90  
75  
45  
50  
30  
55  
10  
15  
40  
50  
70  
5
0
Khả năng tiếp thu của trẻ không đồng đều  
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên chưa  
đồng đều  
10  
15  
0
Trình độ ngoại ngữ  
Phụ huynh chưa quan tâm đúng mức đến việc giáo dục  
kĩ năng sử dụng vật thật của trẻ  
Cơ sở vật chất còn hạn chế  
0
bản thân, giúp đỡ mọi người và bảo vệ môi trường xung  
quanh trẻ làm cho nó trở nên sạch đẹp hơn, hình thành và  
phát triểnkĩ năngchotrẻ khi sử dụngcác vật dụng được bày  
biện trên kệ. Ví dụ: qua hoạt động rót nước từ li này sang li  
kia,trẻthaotác mộtcáchnhịp nhàngmàkhônglàm đổnước  
ra ngoài hoặc không làm vỡ li; qua đó, trẻ đã có thể tự phục  
Bảng 3 cho thấy, nội dung được GVMN lựa chọn  
thường xuyên nhất là nội dung giáo dục kĩ năng sử dụng  
những đồ dùng tự phục vụ bản thân (80%), còn nội dung ít  
đượclựachọnnhấtlàsửdụngcôngcụlaođộng.Quaphỏng  
vấn về vấn đề này, cô P.T.T.A cho biết vì “khi trẻ có được  
những kĩ năng tự phục vụ bản thân, hoàn thiện được chính  
145  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 142-146; 199  
vụ bằng cách lấy nước từ bình cô rót sẵn để uống và có thể ở nhiều quốc gia nên nói nhiều ngôn ngữ khác nhau. GVMN  
tại trường Montessori ngoài việc nắm vững trình độ chuyên  
môncònphảicókhảnănggiaotiếptiếngAnhtốtthìmớihỗtrợ  
chocôngtácgiảngdạytạitrườngđạthiệuquả.  
giúp bạn nhỏ hơn. Thông qua đó, cũng đã giáo dục trẻ được  
tínhtựlập,cẩnthận,khéoléo,biếtgiúpđỡngườikhác”.Điều  
nàychothấy, những nội dung giáo dục tại kệ thực hànhcuộc  
sốngrất thiết thựcvà gần gũi với đời sốngcủa trẻ. Tại đâytrẻ  
có thể tự mình sử dụng vật thật như: dao, thớt, đồ cài nút,  
khóa... một cách tự do, thoải mái, thỏa mãn nhu cầu của trẻ;  
dần dần phát triển cho trẻ kĩ năng sử dụng chúng ngày càng  
thànhthạo hơn khi được luyệntậpthường xuyên.  
Có 50% GVMN lựa chọn mức độ thường xuyên gặp  
khó khăn “Phụ huynh chưa quan tâm đúng mức đến việc  
giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật của trẻ”. Thực tế, cô  
P.T.T.A cho biết “Phụ huynh vì một vài nguyên nhân nên  
lơ là đến việc giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật cho trẻ,  
đặc biệt là phụ huynh Việt Nam thường cho rằng con còn  
quá nhỏ, chưa tự mình phục vụ bản thân, nên thường  
giao phó cho GVMN dạy trẻ trên lớp mà không kết hợp  
cùng GVMN thực hiện ở gia đình, họ cũng rất ít khi tham  
gia hoạt động với vật thật trên trường cùng trẻ”.  
Mặc dù điều kiện cơ sở vật chất, đồ dùng, vật thật có  
trang bị khá đầy đủ nhưng 30% GVMN vẫn lựa chọn mức  
độ thường xuyên khó khăn do cơ sở vật chất chưa đáp ứng  
yêu cầu để thực hiện tốt hoạt động này. Cụ thể, diện tích  
phòng học còn nhỏ, nên không đủ không gian để bày biện  
thêm vật thật lên kệ cho trẻ hoạt động, rất ít sử dụng đồ  
dùng bằng sành sứ, thủy tinh; vì thế GVMN rất khó để  
giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật. Điều này gâyảnh hưởng  
không nhỏ tới kĩ năng sử dụng vật thật cho trẻ.  
Có 40% GVMN lựa chọn thường xuyên gặp khó khăn  
khi “không biết cách kích thích trẻ động não nên thường  
làm mẫu cho trẻ làm theo”. Qua trao đổi, cô N.T.T cho  
biết “Kích thích trẻ động não ở lứa tuổi này là một vấn đề  
không dễ dàng thực hiện, vì trẻ rất hiếu động, vốn kinh  
nghiệm còn nghèo nàn nên GVMN thường xuyên làm  
mẫu cho trẻ thực hiện theo”. Theo quan điểm khảo sát,  
GVMN đã quá lạm dụng việc làm mẫu mà không để trẻ  
tự do hoạt động bằng cách thử - sai nhằm kích thích trẻ  
động não để trẻ tìm ra được cách làm phù hợp.  
Những khó khăn trên đã làm ảnh hưởng đến kết quả  
của việc sử dụng phương pháp Montessori giáo dục kĩ  
năng sử dụng vật thật cho trẻ từ 24-36 tháng tuổi.  
3. Kết luận  
2.2.3. Khó khăn của giáo viên mầm non khi sử dụng  
phương pháp Montessori để giáo dục kĩ năng sử dụng  
vật thật cho trẻ từ 24-36 tháng  
Trong quá trình tổ chức dạy học, GVMN còn gặp  
phải một số khó khăn nhất định. Những khó khăn này  
làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của trẻ về  
mọi mặt, đặc biệt là về mặt kĩ năng sử dụng vật thật.  
Bảng 4 cho thấy “Khả năng tiếp thu của trẻ không đồng  
đều” là khó khăn mà GVMN thường xuyên gặp trong việc  
giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24-36 tháng (90%).  
Điều này cũng dễ dàng nhận thấy qua quan sát, khả năng tập  
trung chú ý của trẻ chưa cao và số trẻ trong lớp chênh lệch  
nhiềuvềthángtuổigâykhókhănkhitổchứcgiáodụckĩnăng  
sử dụng vật thật cho trẻ, trong lớp những trẻ lớn tháng tuổi  
hơn sẽ chú ý và làm tốt hơn khi GVMN hướng dẫn. Mặc  
khác, đasốcáctrẻởtrườngmầmnontưthục Montessoriđều  
là trẻ đến từ nhiều quốc gia, khả năng tiếp thu “tiếng Anh”  
của trẻ còn hạn chế, trẻ phải mất một khoảng thời gian dài  
mớithíchnghi.Vìvậy,việcdạyhọcnàycủaGVMNcòngặp  
nhiều khó khăn, trẻ không hiểu ngôn ngữ của cô dẫn đến trẻ  
không tập trung chú ý, thường không quan sát GVMN làm  
mẫu nên khả năngtiếpthucủa trẻ sẽ không đồngđều. Chỉ có  
nhữngtrẻhọctừđầunămhaytiếngAnhlàtiếngmẹđẻthìtrẻ  
mới hứng thú lắng nghe GVMN hướng dẫn và làm đúng  
chức năng của vật thật; đối với những trẻ còn bất đồng ngôn  
ngữ, trẻ thường làmsai và chậm hơncác bạn khác.  
Do rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan mà  
các GVMN chưa có điều kiện bồi dưỡng thường xuyên để  
nâng cao trình độ hiểu biết về phương pháp Montessori; vì  
vậy, trình độ chuyên môn, nghiệp vụcủa GVMNchưa đồng  
đều(75%GVMNlựachọnmứcđộthườngxuyênkhókhăn).  
Qua quan sát, khi tổ chức giáo dục kĩ năng sử dụng vật  
thật cho trẻ, GVMN đã dành thời gian quan sát, hướng dẫn  
và sửa sai cho từng trẻ vì họ cho rằng trẻ ở độ tuổi này các  
thao tác còn vụng về, chưa nhanh nhẹn, trẻ cần thời gian để  
rènluyện nên GVMN đã mất nhiềuthời gianchohoạt động  
này. Vì vậy, 60% GVMN lựa chọn mức độ thường xuyên  
cho rằng mất nhiều thời gian để tổ chức giáo dục kĩ năng sử  
dụng vật thật cho trẻ khi sử dụng phương pháp Montessori.  
Vềtrìnhđộngoạingữ,quađiềutrađượcbiết45%GVMN  
lựa chọn mức độ thường xuyên còn hạn chế về trình độ tiếng  
Anhnênviệctiếpxúc vớitrẻ banđầucòngặpkhókhăndotrẻ  
Mặc dù nhận thức của GVMN về việc sử dụng phương  
pháp Montessori để giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật cho  
trẻ ở mức cao nhưng hoạt động này vẫn còn gặp nhiều khó  
khăn khi sử dụng. GVMN vẫn còn can thiệp vào hoạt động  
của trẻ khi tổ chức thực hiện hay trong các hoạt động khác,  
giáo viên chưa tạo điều kiện cho trẻ được tham gia, cũng  
nhưchưa biết linhhoạt tổchức hoạt độngliênlớp. Điềunày  
vô tình đã làm ảnh hưởng đến kết quả của việc giáo dục kĩ  
năng sử dụng vật thật cho trẻ. Thực trạng này sẽ là cơ sở để  
xâydựng các biệnpháp giúp GVMNsửdụngphương pháp  
Montessori giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24-36  
tháng tuổi đạt kết quả cao; qua đó, phát triển nhân cách toàn  
diện cho trẻ, đặc biệt là kĩ năng sử dụng vật thật của trẻ.  
(Xem tiếp trang 199)  
146  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 195-199  
thu tri thức của người học sẽ mang lại những kết quả tốt  
đẹp trong quá trình dạy và học.  
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ…  
(Tiếp theo trang 179)  
Tài liệu tham khảo  
Tài liệu tham khảo  
[1] Little, D. (1991). Learner Autonomy and second/  
foreign Language Learning. Dublin: Authentik.  
[2] Thái Duy Tuyên (2003). Dạy tự học cho sinh viên  
trong các nhà trường cao đẳng, đại học chuyên  
nghiệp. Chuyên đề Phương pháp dạy học cho học  
viên cao học, Đại học Huế.  
[3] Rindley, G. (1989). Assessing achievement in the  
learner-centered curriculum. Sydney: National  
Center for English Language Teaching and  
Research.  
[4] Đặng Xuân Hải (2007). Tính tự chủ và tự chịu trách  
nhiệm của giảng viên và của sinh viên trong đào tạo  
theo hệ thống tín chỉ. Tạp chí Giáo dục, số 175, tr 5-7.  
[5] Dominique Rabine-Bucknor (2010). Adult  
Teaching and Learning: Self Directed Learning,  
Application Paper, Colorado State University.  
[6] Henri Holec (1979). Autonomy and Foreign  
Language Learning, Council for Cultural  
Cooperation, Strasbourg (France).  
[1] Ban Thanh niên trường học (2007). Định hướng giá  
trị cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay. NXB  
Thanh niên.  
[2] Nguyễn Thanh Bình (2007). Giáo trình Giáo dục kĩ  
năng sống (dành cho sinh viên cao đẳng sư phạm).  
NXB Đại học Sư phạm.  
[3] Tăng Bình - Thu Huyền - Ái Phương (2012). Ứng  
xử sư phạm và giáo dục kĩ năng mềm trong nền giáo  
dục hiện nay. NXB Hồng Đức.  
[4] Lê Văn Chiến (2006). Kĩ năng sống dành cho bạn  
trẻ. NXB Trẻ.  
[5] Chu Văn Đức (2005). Giáo trình kĩ năng giao tiếp.  
NXB Hà Nội.  
[6] Hoàng Thị Hiền (2014). Giáo trình kĩ năng mềm  
- Tiếp cận theo hướng sư phạm tương tác. NXB Đại  
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.  
[7] Huỳnh Văn Sơn (2013). Thử nghiệm một vài biện  
pháp phát triển kĩ năng mềm cho sinh viên đại học  
Sư phạm. Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư  
phạm Thành phố Hồ Chí Minh, số 50, tr 68-77.  
[7] Lâm Quang Thiệp (2008). Về việc áp dụng học chế  
tín chỉ trên thế giới và ở Việt Nam. Kỉ yếu Hội thảo  
khoa học, Trường Đại học Vinh.  
[8] Leslie Dickinson (1992). Learner Autonomy:  
Learner Training for Language Learning  
(Volume 2). Paperback - November.  
THỰC TRẠNG GIÁO VIÊN MẦM NON…  
(Tiếp theo trang 146)  
[9] Lưu Xuân Mới (2000). Lí luận dạy học đại học.  
NXB Giáo dục.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Phạm Thị Mai Chi - Bùi Kim Tuyến - Lương Thị  
Bình - Phan Lan Anh (2005). Hướng dẫn hoạt động  
cho trẻ 1-3 tuổi. NXB Giáo dục TP. Hồ Chí Minh.  
[2] Ngọc Thị Thu Hằng (2014). Giới thiệu phương pháp  
giáo dục Montessori. Tạp chí Khoa học, Trường Đại  
học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, số 57, tr 125-139.  
[3] Ngô Hiểu Huy (2013). Phương pháp giáo dục  
Montessori - Phương pháp giáo dục tối ưu dành cho  
trẻ 0-6 tuổi. NXB Văn hóa - Thông tin.  
[4] Lý Lợi (2014). Phương pháp Giáo dục Montessori  
- Thời kì nhạy cảm của trẻ. NXB Đại học Sư phạm.  
[5] Maria Montessori (2008). Dạy con trước tuổi lên 3.  
NXB Lao động.  
[10]Nguyễn Thị Thu Huyền (4/2016). Vai trò của kĩ  
năng tự học (ngoài lớp học). Cổng thông tin điện tử  
Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.  
[11]Phil Banson (2005). Autonomy in language  
learning, Longman.  
[12]The glossary of Education Reform (2014).  
[13]Vygotsky S.L.(2004). Imagination and Creativity in  
Childhood. Journal of Russian and East European  
Psychology, Vol. 42, No. 1, January-February,  
pp. 7-97, M.E. Sharpe, Inc.  
[14]Chính phủ (2012). Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày  
13/6/2012 về việc Phê duyệt Chiến lược phát triển  
giáo dục 2011-2020.  
[15]Citation: Huitt, W. (1998). Critical thinking: An  
overview. Educational Psychology Interactive.  
Valdosta, GA: Valdosta State University.  
[6] Patricia Giardiello (2014). Pioneers in early  
childhood education. Routledge, London and New  
York.  
[7] Rambusch Nancy Mccormick (1988). Dr. Montessori's  
own handbook. Schocken books, New York.  
by step. Harper & Row, pp. 300. ISBN 0-14- [8] Aline D. Wolf. (1995). A parents' guide to the  
021978-1. Montesssori classroom. Parent child press.  
199  
pdf 6 trang yennguyen 11480 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng giáo viên mầm non sử dụng phương pháp Montessori để giáo dục kĩ năng sử dụng vật thật cho trẻ từ 24-36 tháng tại trường mầm non tư thục Montessori, phường Thảo Điền, Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_giao_vien_mam_non_su_dung_phuong_phap_montessori.pdf