So sánh một số tác dụng không mong muốn của phương pháp gây tê tủy sống - ngoài màng cứng phối hợp với gây tê tủy sống đơn thuần để mổ lấy thai trên sản phụ có nguy cơ cao tụt huyết áp

vietnam medical journal n01&2 - FEBRUARY - 2021  
disease. J Crohns Colitis, 2013. 7(12): p. 982-1018.  
9. Feakins, R.M. and G. British Society of,  
Inflammatory bowel disease biopsies: updated  
British Society of Gastroenterology reporting  
guidelines. J Clin Pathol, 2013. 66(12): p. 1005-26.  
10. M'Koma, A.E., Inflammatory bowel disease: an  
expanding global health problem. Clin Med  
Insights Gastroenterol, 2013. 6: p. 33-47.  
7. Gajendran, M., et al., A comprehensive review  
and update on Crohn's disease. Dis Mon, 2018.  
64(2): p. 20-57.  
8. Gajendran, M., et al., A comprehensive review  
and update on ulcerative colitis(). Dis Mon, 2019.  
65(12): p. 100851.  
SO SÁNH MỘT SỐ TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA  
PHƯƠNG PHÁP GÂY TÊ TỦY SỐNG - NGOÀI MÀNG CỨNG PHỐI HỢP  
VỚI GÂY TÊ TỦY SỐNG ĐƠN THUẦN ĐỂ MỔ LẤY THAI  
TRÊN SẢN PHỤ CÓ NGUY CƠ CAO TỤT HUYẾT ÁP  
Nguyễn Đức Lam*, Nguyễn Thị Thu Ba**  
có sự khác biệt giữa hai nhóm. Không gặp các biến  
chứng nguy hiểm trên mẹ và con.  
TÓM TẮT41  
Mục tiêu: So sánh một số tác dụng không mong  
muốn của phương pháp gây tê tủy sống - ngoài màng  
cứng phối hợp với gây tê tủy sống đơn thuần để vô  
cảm cho mổ lấy thai ở sản phụ có nguy cơ cao tụt  
huyết áp. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu:  
Nghiên cứu tiến hành trên 60 sản phụ có chỉ định mổ  
lấy thai chủ động, có một trong các yếu tố nguy cơ  
cao tụt huyết áp sau gây tê tuỷ sống: đa thai, đa ối,  
thai to, được chia ngẫu nhiên thành hai nhóm để thực  
hiện 2 kỹ thuật vô cảm khác nhau: nhóm I gây tê tuỷ  
sống với liều bupivacaine theo chiều cao của bệnh  
nhân(cao <150cm: 7mg, từ 150 - 160cm: 8mg,  
>160cm: 8,5 mg) và nhóm II gây tê tuỷ sống liều  
5mg bupivacaine phối hợp với tê ngoài màng cứng  
10ml Lidocaine 1% with adrenaline 1: 200 000, cả hai  
nhóm đều được tiêm dưới nhện 30mcg fentanyl. Các  
thuốc co mạch sẽ được dùng điều chỉnh theo mạch,  
huyết áp của sản phụ. Các tác dụng không mong  
muốn trên mẹ và con được theo dõi liên tục trong 48  
giờ sau mổ. Kết quả: Phương pháp gây tê tuỷ sống -  
ngoài màng cứng phối hợp có tỷ lệ nôn, buồn nôn là  
6,67% so với 23,3% ở nhóm gây tê tủy sống đơn  
thuần (p < 0,05). Tỷ lệ ngứa, rét run ở nhóm gây tê  
tuỷ sống - ngoài màng cứng phối hợp là 23,3% và  
13,3% so với 26,6% và 26,6% ở nhóm gây tê tủy  
sống đơn thuần; không gặp bệnh nhân nào bị suy hô  
hấp, an thần sâu, đau đầu, bí tiểu ở cả hai nhóm.  
Điểm Apgar phút thứ nhất và phút thứ 5 của trẻ sơ  
sinh ở hai nhóm đều > 8, không có sự khác biệt).  
Không gặp các biến chứng nguy hiểm trên mẹ và con.  
Kết luận: Phương pháp gây tê tuỷ sống - ngoài màng  
cứng phối hợp ít gặp nôn, buồn nôn hơn so với  
phương pháp gây tê tủy sống đơn thuần. Các tác  
dụng không mong muốn khác trên mẹ và con không  
Từ khóa: Mổ lấy thai, gây tê tuỷ sống, gây tê tuỷ  
sống - ngoài màng cứng phối hợp, tác dụng không  
mong muốn.  
SUMMARY  
THE COMPARISON OF THE SIDE EFFECTS  
OF COMBINED SPINAL EPIDURAL  
ANESTHESIA VERSUS SPINAL ANESTHESIA  
FOR CESAREAN SECTION IN PREGNANT  
WOMEN WITH HIGH RISK OF  
HYPOTENSION  
Objective: To compare  
the side effects of  
combined spinal epidural anesthesia versus spinal  
anesthesia for cesarean section in pregnant women  
with high risk of hypotension. Methods: 60 pregnant  
women with high risk of hypotension (polyhydramnios,  
macrosomia or twins) underwent elective cesarean  
delivery were enrolled into this prospective,  
randomized, double-blind study. Patients were  
randomly divided into spinal anesthesia group (Group  
I) or combined spinal – epidural anaesthesia – CSE  
group (Group II). Group I received bupivacaine either  
7 mg, 8 mg or 8,5 mg bupivacaine depending on the  
heigh of patients (<150cm, 150 – 160 cm, >160cm)  
with fentanyl 30mcg ; Group II received bupivacaine 5  
mg with fentanyl 30mcg followed by epidural 1%  
lidocaine 10 mL with adrenaline 1:200 000. The side  
effects were recorded during the surgery and 48 hours  
after surgery. Results: The rate of vomiting and  
nausea was 6.67% in CSE group and was 23.3% in  
the spinal anesthesia group (p <0.05). The rates of  
pruritus and chills in the group of combined spinal-  
epidural anesthesia group were 23.3% and 13.3%  
compared with 26.6% and 26.6% in spinal anesthesia  
group. No patient suffered from respiratory distress,  
deep sedation, headache, and urinary retention in  
both groups. The infants' 1st and 5th minute Apgar  
scores in both groups were > 8, no significant  
difference). No dangerous complication of mothers  
and newborns was recognized. Conclusions: The  
rate of vomiting and nausea in CSE group was lower  
than in spinal anesthesia group, p < 0.05. Other side  
*Trường ĐHY Hà Nội  
**Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc  
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Đức Lam  
Ngày nhận bài: 14.12.2020  
Ngày phản biện khoa học: 25.01.2021  
Ngày duyệt bài: 11.2.2021  
164  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 499 - THÁNG 2 - SỐ 1&2 - 2021  
effects on mothers and newborns did not differ  
trên 250mm) không có dị tật thai nhi đã được  
chẩn đoán, thai to (ước tính cân nặng con >3,5  
kg); ASA I,II.  
- Tiêu chuẩn loại trừ: Các sản phụ có bệnh lý  
như: tiền sản giật nặng, suy tim, bệnh lý tim có  
tăng áp động mạch phổi, viêm gan, suy thận,  
Basedow tiến triển, sản phụ có chống chỉ định  
của gây tê tủy sống và ngoài màng cứng, có mất  
máu quá 500ml trong mổ, sản phụ không đồng ý  
tham gia nghiên cứu.  
between the two groups. No dangerous complication  
on mothers and newborns was recognized.  
Keywords: Cesarean section, spinal anaesthesia,  
combined spinal epidural anesthesia, side effects.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Tụt huyết áp sau gây tê tủy sống để mổ lấy  
thai là tác dụng không mong muốn khá thường  
gặp trong gây tê tủy sống sản khoa, tỷ lệ này có  
thể lên tới 80%, tụt huyết áp nặng có thể gây  
trụy mạch, ngừng tuần hoàn, mất ý thức, viêm  
phổi hít ở người mẹ và có thể gây thiếu oxy,  
toan hoá, tổn thương thần kinh ở thai nhi[1].  
Một trong các cơ chế gây tụt huyết áp nặng ở  
sản phụ sau gây tê tủy sống là do “Hội chứng  
chèn ép chủ”. Theo Corke BC, các sản phụ có  
nguy cơ cao tụt huyết áp sau gây tê tủy sống để  
mổ lấy thai là: các sản phụ đa thai, đa ối, thai  
to… do tình trạng chèn ép tĩnh mạch chủ nặng  
nề hơn [2]. Vì vậy, các phương pháp nhằm hạn  
chế tụt huyết áp ở các đối tượng sản phụ này là  
đặc biệt cần thiết để đảm bảo an toàn cho cả mẹ  
và con. Tê tuỷ sống với liều thấp thuốc tê là một  
phương pháp hiệu quả để giảm những biến động  
huyết động do tê tuỷ sống gây ra cho mổ lấy  
thai [3. Để đạt được độ tê mong muốn tê tủy  
sống liều thấp cần phối hợp với tê ngoài màng  
cứng phối hợp bởi có thể tiêm thêm thuốc tê  
qua ngoài màng cứng khi mức tê chưa đủ mà  
không làm tăng tác dụng phụ của hai phương  
pháp này [4]. Đã có nhiều nghiên cứu về gây tê  
tủy sống và ngoài màng cứng phối hợp để giảm  
liều thuốc tê khi gây tê tủy sống nhưng chưa có  
nghiên cứu đánh giá các tác dụng không mong  
muốn của phương pháp này trên các sản phụ có  
nguy cơ cao tụt huyết áp khi gây tê tủy sống. Vì  
vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm  
mục tiêu: So sánh một số tác dụng không mong  
muốn của phương pháp gây tê tủy sống -ngoài  
màng cứng phối hợp với gây tê tủy sống đơn  
thuần để vô cảm cho mổ lấy thai ở sản phụ có  
nguy cơ cao tụt huyết áp.  
*Phương pháp: thử nghiệm lâm sàng, ngẫu  
nhiên, có so sánh.  
*Cách thức tiến hành: Bệnh nhân được lựa  
chọn vào nghiên cứu và đồng ý tham gia nghiên  
cứu sẽ được bốc thăm ngẫu nhiên để chia thành  
hai nhóm bằng nhau. Cả hai nhóm đều được  
chuẩn bị khám, kiểm tra xét nghiệm, giải thích  
phương pháp gây tê, đặt đường truyền tĩnh  
mạch kim G18, truyền dịch Ringerlactac  
10ml/kg, theo dõi SpO2, huyết áp, điện tim, gây  
tê bệnh nhân ở tư thế nằm nghiêng trái cong  
lưng tôm hoặc tư thế ngồi đầu cúi.  
- Nhóm I (Nhóm gây tê tủy sống đơn thuần):  
Tiến hành gây tê tủy sống ở L2-L3. Liều  
Bupivacaine tính theo chiều cao (Bệnh nhân cao  
< 150cm: 7mg, từ 150 - 160cm: 8mg, cao >  
160cm: 8,5mg) phối hợp với 0,03mg Fentanyl.  
- Nhóm II (Nhóm gây tê tủy sống - ngoài  
màng cứng phối hợp): gây tê ngoài màng cứng  
ở L2-3, xác định khoang ngoài màng cứng bằng  
kỹ thuật mất sức cản với bơm tiêm chứa dịch  
NaCl 0,9%. Luồn catheter lên phía đầu sản phụ  
và để sâu 3-5 cm trong khoang ngoài màng  
cứng, dùng liều test là 60 mg Lidocain 2%, gây  
tê tủy sống ở L3-4 với 5mg Bupivacaine và  
0,03mg fentanyl, sau đó tiêm thêm 100mg  
lidocaine 2% qua catheter ngoài màng cứng và  
đánh giá mức độ ức chế cảm giác 2 phút/lần. Bổ  
sung các liều thuốc tê Lidocain 2% mỗi lần 40  
mg/cách 2-4 phút cho đến khi ức chế cảm giác  
đau đến T6.  
Tất cả các bệnh nhân đều được theo dõi  
mạch, huyết áp, nhịp tim 2 phút 1 lần trong 10  
phút đầu tiên, 5 phút 1 lần cho tới kết thúc phẫu  
thuật, mức ức chế cảm giác, vận động và các tác  
dụng không mong muốn tại các thời điểm của  
phẫu thuật và 24 giờ đầu sau mổ. Sử dụng các  
thuốc vận mạch để duy trì huyết áp tâm thu trên  
10% huyết áp nền của bệnh nhân bằng ephedrin  
hoặc phenylephrin.  
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
1. Đối tượng nghiên cứu. Nghiên cứu được  
tiến hành trên 60 sản phụ có chỉ định mổ lấy  
thai chủ động tại Khoa Gây mê hồi sức, Bệnh  
viện Phụ sản Hà Nội từ tháng 1/2020 đến tháng  
8/2020.  
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Các sản phụ có  
nguy cơ cao bị tụt huyết áp khi gây tê tủy sống:  
đa thai (từ hai thai trở lên), đa ối (chỉ số ối AFI  
165  
vietnam medical journal n01&2 - FEBRUARY - 2021  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu  
Bảng 1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu  
Thông số NC  
BMI  
Chiều cao (m)  
Tuổi (năm)  
Tuổi thai (tuần)  
Đa thai  
Nhóm GTTS (n = 30)  
21,35 ±1,40  
1,59±0,49  
Nhóm GTTS+NMC (n = 30)  
21,15±1,23  
p
>0,05  
>0,05  
>0,05  
>0,05  
>0,05  
>0,05  
>0,05  
1,57±0,06  
28,57±4,26  
38,77±1,33  
5 (16,6%)  
23 (76,6%)  
6 (20%)  
31,433±5,56  
38,87±1,19  
2 (6,6%)  
Con to (>3500 g)  
Đa ối  
24 (80%)  
3 (10%)  
Nhận xét: Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về các đặc điểm của bệnh nhân ở hai nhóm.  
2. Ảnh hưởng trên hô hấp  
2.1. Ảnh hưởng lên tần số thở  
Nhóm I  
Nhóm II  
20  
18  
16  
Biểu đồ 1. Thay đổi tần số thở trong mổ  
Nhận xét: Tần số thở của các bệnh nhân ở hai nhóm có xu hướng giảm dần và trở về bình  
thường. Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm tại tất cả các thời điểm nghiên cứu.  
2.2. Ảnh hưởng lên bão hòa oxy mao mạch  
Nhóm I  
Nhóm II  
99.5  
99  
98.5  
98  
97.5  
97  
96.5  
T0 T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12 T13 T14 T15 T16 T17 T18 T19 T20  
Biểu đồ 2. Thay đổi tần bão hòa oxy trong mổ  
Nhận xét: Không có sự khác biệt về bão hòa oxy của các bệnh nhân hai nhóm tại tất cả các thời  
điểm nghiên cứu.  
3. Các tác dụng không mong muốn khác  
Bảng 3.2. Tác dụng không mong muốn trên mẹ  
Thông số NC  
An thần sâu  
Suy hô hấp  
Ngứa  
Rét run  
Buồn nôn, nôn  
Bí tiểu  
Nhóm GTTS (n = 30)  
Nhóm GTTS+NMC (n = 30)  
p
0 (0%)  
0(0%)  
8(26,6%)  
8(26,6%)  
7(23,3%)  
0(0%)  
0(0%)  
0(0%)  
7(23,3%)  
4(13,3%)  
2(6,67%)  
0(0%)  
>0,05  
>0,05  
>0,05  
>0,05  
<0,05  
>0,05  
>0,05  
Đau đầu  
0(0%)  
0(0%)  
166  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 499 - THÁNG 2 - SỐ 1&2 - 2021  
Nhận xét: Tỷ lệ nôn, buồn nôn của nhóm gây tê tủy sống - ngoài màng cứng phối hợp thấp hơn  
so với nhóm gây tê tủy sống đơn thuần.  
Bảng 3.3. Tình trạng trẻ sơ sinh  
Nhóm GTTS  
(n = 30)  
Nhóm GTTS+NMC  
(n = 30)  
Thông số NC  
p
Hỗ trợ hô hấp  
Apgar 1 phút >8  
Apgar 5 phút >8  
0 (0%)  
0(0%)  
30(100%)  
30(100%)  
3,772±0,244  
2,62 ±0,125  
>0,05  
>0,05  
>0,05  
>0,05  
>0,05  
30(100%)  
30(100%)  
3,704±0,325  
2,67± 0,245  
Cân nặng trung bình (kg) - 1 thai  
Cân nặng trung bình con (kg) - đa thai  
Nhận xét: Ở cả 2 nhóm không trẻ nào có điểm Apgar < 8 điểm ở phút thứ 1, không có trẻ nào  
cần sự hỗ trợ hô hấp. Chỉ số Apgar của trẻ sơ sinh ở 2 nhóm không có sự khác biệt với p> 0.05  
phối hợp có tỷ lệ tụt huyết áp thấp hơn so với  
gây tê tủy sống đơn thuần nên nguy cơ quá tải  
dịch cũng sẽ thấp hơn.  
IV. BÀN LUẬN  
Kết quả ở bảng 3.1. cho thấy: Không có sự  
khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm  
nghiên cứu về các đặc điểm chung như: tuổi mẹ,  
tuổi thai, chiều cao, cân nặng, BMI… Tỷ lệ bệnh  
nhân có các yếu tố nguy cơ tụt huyết áp cũng  
không có sự khác biệt giữa nhóm I và nhóm II,  
phần lớn bệnh nhân có thai to 80%, 10% đa thai  
và 10% đa ối.  
1. Tác dụng không mong muốn trên  
người mẹ  
1.1. Ảnh hưởng lên hô hấp. Trong nghiên  
cứu của chúng tôi, không gặp bệnh nhân nào ở  
cả hai nhóm có biểu hiện khó thở, suy hô hấp,  
giảm tần số thở < 10 lần/phút, tụt bão hoà oxy  
mao mạch (SPO2<90 %), cũng không gặp bệnh  
1.2. Tác dụng an thần. Trong nghiên cứu  
của chúng tôi có sử dụng fentanyl cho cả nhóm  
gây tê tủy sống đơn thuần và nhóm gây tê tủy  
sống - ngoài màng cứng phối hợp, đây là thuốc  
họ morphin nên thuốc cũng có tác dụng ức chế  
chọn lọc trên hệ thần kinh trung ương, tác dụng  
lên hệ limbic, do đó, có tác dụng an thần. Tuy  
nhiên, tất cả các bệnh nhân ở hai nhóm của  
chúng tôi đều tỉnh táo, không gặp trường hợp  
nào bị an thần sâu (ngủ gà hoặc ngủ khó đánh  
thức) phải điều trị.  
1.3. Nôn, buồn nôn. Nôn là một trong  
những tác dụng không mong muốn thường gặp  
nhất trong gây mê và gây nên khó chịu cho  
nhân nào phải hỗ trợ hô hấp trong và sau mổ.  
người bệnh chỉ sau đau. Nôn, buồn nôn có thể  
Nguyên nhân gây suy hô hấp sau gây tê tủy  
sống, gây tê ngoài màng cứng thường là do:  
xảy ra trong mổ hoặc sau mổ. Nếu xảy ra trong  
mổ ngay sau gây tê thường do tụt huyết áp gây  
Thuốc tê lan lên cao khi gây tê tủy sống mức  
thiếu máu não gây kích thích trung tâm nôn ở  
cao, liều cao hoặc gây tê ngoài màng cứng tiêm  
hành não.Trong nghiên cứu này, tỷ lệ bệnh nhân  
nhầm thuốc tê vào khoang dưới nhện (gây tê tuỷ  
nôn hoặc buồn nôn ở nhóm 1 là 23,3%, nhóm 2  
sống toàn bộ) gây ức chế trung tâm hô hấp, ức  
là 6,67%. Kết quả này tương đương với Nguyễn  
chế cơ hoành… Trong nghiên cứu của chúng tôi,  
Đức Lam là 13,33% và 6,67%[7]. Trong nghiên  
không có bệnh nhân nào có mức ức chế cảm  
cứu của chúng tôi, nhóm gây tê tủy sống - ngoài  
giác lên trên D2, do đó, không gặp biến chứng  
màng cứng phối hợp có tỷ lệ tụt huyết áp là  
suy hô hấp trong mổ. Suy hô hấp sau mổ lấy  
10% thấp hơn nhóm gây tê tủy sống (66,7%)  
thai ở bệnh nhân được vô cảm bằng gây tê tủy  
nên tác dụng phụ nôn và buồn nôn cũng ít hơn  
sống, gây tê ngoài màng cứng cũng có thể do sử  
(6,67% so với 23,33%). Đây cũng là một trong  
dụng morphin liều thấp khi gây tê tủy sống hoặc  
những ưu điểm của phương pháp gây tê tủy  
morphin tiêm ngoài màng cứng vì morphin gây  
sống - ngoài màng cứng phối hợp.  
ức chế trung tâm hô hấp ở hành não, ở đây  
1.4. Ngứa. Trong nghiên cứu của chúng tôi,  
chúng tôi không dùng morphin tuỷ sống hoặc  
tỷ lệ ngứa của hai nhóm lần lượt là 26,6% và  
morphin ngoài màng cứng nên hạn chế được  
23,3%. Tỷ lệ này thấp hơn của Nguyễn Hoàng  
biến chứng này. Ngoài ra, suy hô hấp cũng còn  
Ngọc (37,4% ở nhóm sử dụng 0,1mg morphin  
có thể do phù phổi cấp khi bù dịch tinh thể quá  
và 42,31% ở nhóm sử dụng 0,15mg morphin) có  
nhanh, chúng tôi có sử dụng dịch truyền nhanh  
thể do chúng tôi không sử dụng morphin khi gây  
để nâng huyết áp nhưng có kết hợp với thuốc co  
mạch (ephedrin, phenylephrin), do đó, lượng  
dịch truyền không quá nhiều nên không gây biến  
chứng này. Gây tê tủy sống, ngoài màng cứng  
tê tủy sống [8]. Tuy tỷ lệ ngứa khá cao nhưng  
tất cả các bệnh nhân của chúng tôi đều ngứa ở  
mức độ nhẹ, chịu đựng được và tự hết sau 1-2  
giờ và không cần điều trị.  
167  
vietnam medical journal n01&2 - FEBRUARY - 2021  
1.5. Rét run. Rét run gặp ở 26,6% bệnh  
V. KẾT LUẬN  
nhân nhóm gây tê tủy sống và 13,3% bệnh nhân  
ở nhóm gây tê tủy sống - ngoài màng cứng phối  
hợp, không có sự khác biệt với p >0,05. Rét run  
tuy không nguy hiểm nhưng gây khó chịu cho  
bệnh nhân. Cơ chế của rét run sau gây tê vùng  
đến nay vẫn chưa được hiểu biết đầy đủ nhưng  
thường gặp trong các trường hợp sản phụ lo  
lắng, nhiệt độ môi trường lạnh, truyền nhiều  
dịch, nhất là truyền vào bệnh nhân dịch lạnh,  
do kích thích các ổ cảm thụ nhiệt của ống sống  
do thuốc tê lạnh. Có thể giải thích kết quả của  
chúng tôi: một phần là do truyền nhiều dịch và  
truyền tốc độ nhanh trong gây tê. Các bệnh  
nhân rét run của chúng tôi đều được điều trị dễ  
dàng bằng ủ ấm, nếu không đỡ thì tiêm tĩnh  
mạch 30mg dolargan.  
1.6. Bí tiểu. Bí tiểu là do tác dụng của thuốc  
tê lên tủy sống do ức chế thần kinh phó giao  
cảm chi phối bàng quang làm giãn cơ vòng bàng  
quang gây tăng thể tích tối đa của bàng quang.  
Trong nghiên cứu của chúng tôi không có bệnh  
nhân có bí tiểu sau khi rút sonde tiểu 24 giờ sau  
mổ lấy thai, không có sự khác biệt có ý nghĩa  
thống kê giữa hai nhóm.  
1.7. Đau đầu. Trong nghiên cứu của chúng  
tôi không gặp trường hợp nào đau đầu sau gây  
tê ở cả hai nhóm. Có thể giải thích điều này là  
do chúng tôi gây tê tủy sống bằng kim nhỏ loại  
27G. Điều này cho thấy: Phương pháp gây tê tủy  
sống - ngoài màng cứng phối hợp nếu không  
gây thủng màng cứng khi gây tê ngoài màng  
cứng thì tỷ lệ đau đầu sẽ không khác biệt so với  
gây tê tủy sống đơn thuần.  
2. Tác dụng không mong muốn trên con.  
Tất cả các trẻ sơ sinh của hai nhóm đều có điểm  
Apgar phút thứ nhất và phút thứ 5 lớn hơn 8  
điểm, không gặp trẻ sơ sinh nào cần hỗ trợ hô  
hấp hoặc hồi sức sơ sinh. Tuy nhiên, để đánh giá  
tác động của phương pháp vô cảm trên thai nhi  
cần xét nghiệm pH máu động mạch rốn của trẻ  
sơ sinh, nghiên cứu của chúng tôi không làm xét  
nghiệm này, đây cũng là hạn chế của nghiên cứu  
của chúng tôi, tuy nhiên, theo các nghiên cứu  
nước ngoài, chỉ số này cũng không khác biệt  
giữa sơ sinh của bà mẹ được vô cảm bằng hai  
phương pháp trên, có thể do thời gian tụt huyết  
áp trong mổ của hai nhóm đều không kéo dài  
nên ít ảnh hưởng đến tình trạng sơ sinh [5], [6].  
Trong vô cảm để mổ lấy thai ở sản phụ có  
nguy cao tụt huyết áp, phương pháp gây tê tuỷ  
sống - ngoài màng cứng phối hợp (liều 5 mg  
bupivacaine kết hợp với ngoài màng cứng 10 ml  
lidocain 1% và bổ sung lidocain ngoài màng  
cứng nếu cần) ít gặp nôn, buồn nôn hơn so với  
phương pháp gây tê tủy sống đơn thuần (6,67%  
so với 23,3%; p < 0,05). Các tác dụng không  
mong muốn khác trên mẹ và con không có sự  
khác biệt giữa hai nhóm (Tỷ lệ ngứa, rét run ở  
nhóm gây tê tuỷ sống - ngoài màng cứng phối  
hợp là 23,3% và 13,3% so với 26,6% và 26,6%  
ở nhóm gây tê tủy sống đơn thuần; không gặp  
bệnh nhân nào bị suy hô hấp, an thần sâu, đau  
đầu, bí tiểu ở cả hai nhóm. Điểm Apgar phút thứ  
nhất và phút thứ 5 của trẻ sơ sinh ở hai nhóm  
đều > 8, không có sự khác biệt). Không gặp các  
biến chứng nguy hiểm trên mẹ và con.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Corke BC, Datta S, Ostheimer GW, Weiss JB,  
Alper MH. Spinal anaesthesia for Caesarean  
section. The influence of hypotension on neonatal  
outcome.  
Anaesthesia.  
Tháng  
Sáu  
1982;37(6):658-62.  
2. Kiefer RT, Ploppa A, Dieterich HJ. [Aortocaval  
compression syndrome]. Anaesthesist. Tháng  
Mười-Một 2003;52(11):1073-83; quiz 1084.  
3. Roofthooft E, Van de Velde M. Low-dose spinal  
anaesthesia for Caesarean section to prevent  
spinal-induced  
hypotension.  
Curr  
Opin  
Anaesthesiol. Tháng Sáu 2008;21(3):259-62.  
4. Choi D-H, Ahn H-J, Kim J-A. Combined low-  
dose spinal-epidural anesthesia versus single-shot  
spinal anesthesia for elective cesarean delivery. Int  
J Obstet Anesth. Tháng Giêng 2006;15(1):13-7.  
5. Teoh WHL, Thomas E, Tan HM. Ultra-low dose  
combined  
spinal-epidural  
anesthesia  
with  
intrathecal bupivacaine 3.75 mg for cesarean  
delivery: a randomized controlled trial. Int J Obstet  
Anesth. 1 Tháng Mười 2006;15(4):273-8.  
6. Wang LZ, Zhang YF, Hu XX, Chang XY. A  
randomized comparison of onset of anesthesia  
between spinal bupivacaine 5 mg with immediate  
epidural 2% lidocaine 5 mL and bupivacaine 10 mg  
for cesarean delivery. Int J Obstet Anesth. 1 Tháng  
Hai 2014;23(1):40-4.  
7. Nguyễn Đức Lam. Đánh giá hiệu quả của  
phương pháp gây tê tuỷ sống và gây tê tuỷ sống -  
Ngoài màng cứng phối hợp để mổ lấy thai ở bệnh  
nhân tiền sản giật nặng. đại học y Hà Nội; 2013.  
8. Nguyễn Hoàng Ngọc. Đánh giá tác dụng gây tê  
dưới màng nhện bằng bupivacain liều thấp kết hợp  
với fentanyl trong mổ lấy thai. 2003.  
168  
pdf 5 trang yennguyen 16000 Free
Bạn đang xem tài liệu "So sánh một số tác dụng không mong muốn của phương pháp gây tê tủy sống - ngoài màng cứng phối hợp với gây tê tủy sống đơn thuần để mổ lấy thai trên sản phụ có nguy cơ cao tụt huyết áp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfso_sanh_mot_so_tac_dung_khong_mong_muon_cua_phuong_phap_gay.pdf