Research on postpartum urinary retentuon and some related factors in vaginal delivery in Da Nang hospital for women and chidren

Journal of Community Medicine, Vol 62, No 4 (2021) 140-146  
INSTITUTE OF COMMUNITY HEALTH  
RESEARCH ON POSTPARTUM URINARY RETENTUON  
AND SOME RELATED FACTORS IN VAGINAL DELIVERY  
IN DA NANG HOSPITAL FOR WOMEN AND CHIDREN  
Le Thi Mong Tuyen1,*, Nguyen Thai Nghia2, Nguyen Thi Tuyen2  
Dang Thi Yen2, Doan Ngoc Tu2, Vo Xuan Que Ninh1, Ho Ngoc Bich Thuy2  
1General Obstetrics and Gynecology, Da Nang Hospital For Women And Chidren  
2Faculty of Medicine, Da Nang University of Medical Technology and Pharmacy  
Received 26/03/2021  
Revised 06/04/2021; Accepted 14/04/2021  
ABSTRACT  
Objective: To determine the rate of urinary retention after vaginal delivery and evaluation some factors  
related to urinary retention after vaginal delivery at Da Nang Hospital For Women And Chidren.  
Methods: Cross-sectional study describing 673 women giving birth vaginally, at Da Nang Hospital  
For Women And Chidren from March 2018 to the end of September 2018. The pregnant women  
in the research group will be examined, interviewed, and refer to the medical records to record the  
variables according to the research questionnaire.  
Results: Women who are primigravida with postpartum urinary retention rate 6.6%, higher than  
2.4% for multigravida who have postpartum urinary retention. In infants with a weight of ≥ 3500  
grams, the prevalence of birth urinary retention was 16.7%, higher than that of women with babies  
<3500 grams with neonatal urinary retention (1.7%). The rate of postpartum urinary retention among  
women who had a baby with a head circumference ≥ 36 cm was 24.3% higher than for women with a  
head circumference <36 cm (3.6%). The rate of urinary retention in pregnant women: asisted vaginal  
delivery was 50.0%; time of labor in stage 1 lasted ≥ 12 hours was 13.0%; the duration of second stage  
labor was 16.4% prolonged, higher than the rate of urinary retention in the group of pregnant women:  
vaginal delivery (4.6%); period of labor for stage 1 <12 hours (2.1%); period of labor for stage 2 did  
not last long (3.3%). In the group of women who did not exercise early after giving birth, the rate of  
urinary retention was 37.5%, higher than this group of women with early movement after birth, 1.3%.  
Conclusion: The rate of urinary retention after vaginal delivery is 4.8%. Factors: giving birth in  
comparison, giving birth to a large baby with a gestational weight: ≥ 3500 grams, head circumference  
≥36 cm, asisted vaginal delivery, long stage 1 labor, long stage 2 labor, early postpartum inactivity  
increases the risk of postpartum urinary retention.  
Keywords: Postpartum urinary retention, pregnant women, vaginal delivery.  
*Corressponding author  
Email address: [email protected]  
Phone number: (+84) 979 525 990  
ttps://doi.org/10.52163/yhcd.v62i4.122  
140  
L.T.M.Tuyen et al. / Journal of Community Medicine, Vol 62, No 4 (2021) 140-146  
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH BÍ TIỂU SAU SINH VÀ MỘT  
SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở SẢN PHỤ SINH ĐƯỜNG  
ÂM ĐẠO TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN – NHI ĐÀ NẴNG  
Lê Thị Mộng Tuyền1,*, Nguyễn Thái Nghĩa2, Nguyễn Thị Tuyền2  
Đặng Thị Yên2, Đoàn Ngọc Tú2, Võ Xuân Quế Ninh1, Hồ Ngọc Bích Thủy2  
1Khoa Sản tự nguyện, Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng  
2Khoa Y, Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng  
Ngày nhận bài: 26 tháng 03 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày: 06 tháng 04 năm 2021; Ngày duyệt đăng: 14 tháng 04 năm 2021  
TÓM TẮT  
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ bí tiểu sau sinh đường âm đạo và đánh giá một số yếu tố liên quan đến bí  
tiểu sau sinh đường âm đạo tại Bệnh viện Phụ sản-Nhi Đà Nẵng.  
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả 673 sản phụ sinh đường âm đạo, tại khoa Phụ sản Bệnh  
viện Phụ sản-Nhi Đà Nẵng từ tháng 03/2018 đến hết tháng 09/2018. Các sản phụ ở trong nhóm  
nghiên cứu sẽ được thăm khám, phỏng vấn, tham khảo bệnh án để ghi nhận các biến số theo phiếu  
nghiên cứu.  
Kết quả: Tỉ lệ bí tiểu sau sinh đường âm đạo là 4,8%. Sản phụ sinh con so có tỷ lệ BTSS là 6,6% cao  
hơn nhóm sản phụ sinh con rạ có BTSS là 2,4%. ꢀ những trẻ sơ sinh có trọng lượng ≥ 3500gram thì  
sản phụ có tỷ lệ BTSS là 16,7% cao hơn so với các sản phụ có trẻ sơ sinh trọng lượng < 3500gram có  
BTSS (1,7%). Tỷ lệ BTSS ở những sản phụ sinh con có chu vi vòng đầu ≥ 36 cm là 24,3% cao hơn  
sản phụ sinh con có chu vi vòng đầu < 36 cm (3,6%). Tỷ lệ bí tiểu ở những sản phụ: sinh bằng phương  
pháp thủ thuật là 50,0%; thời gian chuyển dạ giai đoạn 1 kéo dài ≥12 giờ là 13,0%; thời gian chuyển  
dạ giai đoạn 2 kéo dài là 16,4% cao hơn tỷ lệ bí biểu ở nhóm sản phụ: sinh tự nhiên (4,6%); thời gian  
chuyển dạ giai đoạn 1<12 giờ (2,1%); thời gian chuyển dạ giai đoạn 2 không kéo dài (3,3%). ꢀ nhóm  
sản phụ không vận động sớm sau sinh, tỷ lệ bí tiểu là 37,5% cao hơn nhóm sản phụ này có vận động  
sớm sau sinh là 1,3%.  
Kết luận: Tỉ lệ bí tiểu sau sinh đường âm đạo là 4,8%. Các yếu tố: sinh con so, sinh con to với trọng  
lượng thai: ≥ 3500 gram, chu vi vòng đầu ≥36 cm, sinh thủ thuật, chuyển dạ giai đoạn 1 kéo dài,  
chuyển dạ giai đoạn 2 kéo dài, không vận động sớm sau sinh làm tăng nguy cơ bí tiểu sau sinh.  
Từ khoá: Bí tiểu sau sinh, sản phụ, sinh đường âm đạo.  
*Tác giả liên hệ  
Điện thoại: (+84) 979 525 990  
ttps://doi.org/10.52163/yhcd.v62i4.122  
141  
L.T.M.Tuyen et al. / Journal of Community Medicine, Vol 62, No 4 (2021) 140-146  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
viện Phụ sản-Nhi Đà Nẵng từ tháng 03/2018 đến hết  
tháng 9/2018.  
Bí tiểu sau sinh (BTSS) là một trong những biến chứng  
thường gặp, nhất là các trường hợp sinh đường âm  
đạo. Bí tiểu sau sinh tuy không gây nguy hiểm cho tính  
mạng nhưng lại làm cho sản phụ nhiều cảm giác: đau  
tức bụng và không tiểu được. Bệnh này kéo dài dễ gây  
nhiễm khuẩn đường tiết niệu [1],[7].  
Cỡ mẫu: Sử dụng công thức tính cỡ mẫu và phương  
pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn. Cỡ mẫu thu thập được  
là 673 trường hợp.  
Tiêu chuẩn chọn mẫu:  
- Sinh đường âm đạo thai đủ tháng (có tuổi thai > 37  
tuần theo siêu âm hay kinh cuối).  
Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến một số yếu  
tố sản khoa có liên quan đến tình trạng bí tiểu sau sinh  
như: sinh con lần đầu, sinh dụng cụ bằng kềm hay giác  
hút, chuyển dạ kéo dài, thai to, chu vi vòng đầu sơ sinh  
lớn, mức độ tổn thương tầng sinh môn, gây mê ngoài  
màng cứng trong đẻ không đau [2],[7].  
- Các sản phụ này phải được khám toàn diện trước,  
trong và sau sinh, có xét nghiệm công thức máu.  
- Có trạng thái tinh thần khỏe mạnh, tình trạng sản phụ  
cho phép tiến hành phỏng vấn.  
Tiêu chuẩn loại trừ:  
Có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước nghiên cứu  
về tình hình bí tiểu sau sinh. Tỷ lệ bí tiểu sau sinh dao  
động từ 14,1 – 17,9% tùy tác giả, thay đổi theo các  
nghiên cứu khác nhau, phụ thuộc và thiết kế nghiên  
cứu. Yip S.K. nghiên cứu tiền cứu 752 sản phụ sau sinh  
đường âm đạo có tỷ lệ bí tiểu sau sinh hoàn toàn là  
4,9% và tỷ lệ bí tiểu không hoàn toàn là 9,7% [7]. ꢀ  
Việt Nam, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Quí Khoa  
tại Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ, bí tiểu sau sinh đường  
âm đạo chiếm tới 13,5% [2]. Theo nghiên cứu của Hồ  
Xuân Lãng tại Bệnh viện Trung ương Huế thì tỷ lệ bí  
tiểu sau sinh là 4,9% [3].  
- Các bệnh lý gây bí tiểu: Chấn thương cột sống, sỏi  
bàng quang - niệu đạo, sa bàng quang.  
- Các rối loạn tiểu tiện có trước khi mang thai.  
- Sản phụ phải lưu thông tiểu theo chỉ định bệnh lý: Sản  
giật, tiền sản giật nặng, các trường hợp có choáng, bệnh  
tim mạch.  
Các bước tiến hành nghiên cứu:  
Lấy danh sách các sản phụ sinh đường âm đạo tại khoa  
Phụ sản Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng từ ngày  
01/3/2018 đến ngày 30/9/2018. Từ danh sách đó lựa  
chọn các bà mẹ đáp ứng đủ điều kiện của mẫu nghiên  
cứu. Sau đó chọn ngẫu nhiên đơn các sản phụ từ danh  
sách đã được chọn lọc. Các sản phụ ở trong nhóm  
nghiên cứu sẽ được thăm khám, phỏng vấn, tham khảo  
bệnh án để ghi nhận các biến số theo phiếu nghiên cứu.  
Tại Bệnh viên Phụ sản-Nhi Đà Nẵng, vấn đề bí tiểu  
sau sinh được ghi nhận khá phổ biến ở phòng hậu sản  
nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về tình trạng  
này. Do đó, chúng tôi thực hiện: “Nghiên cứu tình hình  
bí tiểu sau sinh và một số yếu tố liên quan ở sản phụ sinh  
đường âm đạo tại Bệnh viện Phụ sản-Nhi Đà Nẵng”.  
BTSS gồm hoàn toàn và không hoàn toàn: sản phụ sau  
sinh đường âm đạo 6 giờ, mắc tiểu nhưng không tự  
tiểu được hoặc tiểu được nhưng rất ít, lắc rắc, cầu bàng  
quang dương tính, lượng nước tiểu trong bàng quang  
khi thông ≥150 ml.  
Mục tiêu nghiên cứu  
Xác định tỷ lệ bí tiểu sau sinh đường âm đạo tại Bệnh  
viên Phụ sản-Nhi Đà Nẵng và đánh giá một số yếu tố  
liên quan đến bí tiểu sau sinh đường âm đạo tại Bệnh  
viện Phụ sản-Nhi Đà Nẵng.  
Xử lý số liệu  
Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý và tính: tần số,  
tỷ lệ %, so sánh sự khác biệt giữa các tỷ lệ bằng thuật  
toán Chi-square.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Thiết kế nghiên cứu  
Nghiên cứu mô tả cắt ngang  
Đối tượng nghiên cứu  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Sản phụ sinh đường âm đạo, tại khoa Phụ sản, Bệnh 1. Tỉ lệ bí tiểu sau sinh  
142  
L.T.M.Tuyen et al. / Journal of Community Medicine, Vol 62, No 4 (2021) 140-146  
Nhận xét: Tỉ lệ bí tiểu sau sinh là 4,8%.  
2. Mối liên quan giữa BTSS với số lần sinh  
Bảng 1. Mối liên quan sinh con so và BTSS  
BTSS Không BTSS  
Số lần sinh con  
p
n
25  
7
%
6,6  
2,4  
4,8  
n
%
1 lần  
353  
288  
641  
93,4  
97,6  
95,2  
≥ 2 lần  
Tổng số  
0,01  
32  
3. Mối liên quan giữa BTSS với trọng lượng trẻ  
sơ sinh  
Nhận xét: Sản phụ sinh con so có tỷ lệ BTSS là 6,6%  
cao hơn nhóm sản phụ sinh con rạ có BTSS là 2,4%. Sự  
khác biệt này có ý nghĩa thống kê p <0,05.  
Bảng 2. Mối liên quan giữa trọng lượng thai và BTSS  
BTSS  
Không BTSS  
Trọng lượng  
p
n
%
1,7  
n
%
P < 3500gram  
P ≥ 3500gram  
Tổng số  
9
526  
115  
641  
98,3  
83,3  
95,2  
23  
32  
16,7  
4,8  
0,001  
Nhận xét: ꢀ những trẻ sơ sinh có trọng lượng ≥ BTSS (1,7%) (p <0,05).  
3500gram thì sản phụ BTSS là 16,7% cao hơn so với  
các sản phụ có trẻ sơ sinh trọng lượng < 3500gram có  
4. Mối liên quan giữa BTSS với chu vi vòng đầu  
Bảng 3. Mối liên quan giữa BTSS với chu vi vòng đầu  
BTSS  
Không BTSS  
Chu vi vòng đầu  
p
n
%
n
%
< 36 cm  
≥ 36 cm  
Tổng số  
23  
9
3,6  
24,3  
4,8  
613  
28  
96,4  
75,7  
95,2  
0,001  
32  
641  
143  
L.T.M.Tuyen et al. / Journal of Community Medicine, Vol 62, No 4 (2021) 140-146  
Nhận xét: Tỷ lệ BTSS ở những sản phụ sinh con có chu ý nghĩa thống kê p <0,05.  
vi vòng đầu ≥ 36 cm là 24,3% cao hơn sản phụ sinh con  
có chu vi vòng đầu < 36 cm (3,6%). Sự khác biệt này có 5. Mối liên quan giữa BTSS với cách sinh  
Bảng 4. Mối liên quan giữa BTSS với cách sinh  
BTSS  
Không BTSS  
Cách sinh  
p
n
31  
1
%
4,6  
n
%
Tự nhiên  
Thủ thuật  
Tổng số  
640  
1
95,4  
50,0  
95,2  
50,0  
4,8  
0,003  
32  
641  
6. Mối liên quan giữa BTSS với thời gian chuyển dạ  
giai đoạn 1  
Nhận xét: Tỷ lệ bí tiểu ở những sản phụ sinh bằng  
phương pháp thủ thuật là 50,0% cao hơn những sản phụ  
sinh tự nhiên là 4,6% với p<0,05.  
Bảng 5. Mối liên quan giữa BTSS với thời gian chuyển dạ giai đoạn1  
BTSS Không BTSS  
p
Thời gian chuyển dạ  
giai đoạn 1  
n
%
2,1  
n
%
<12 giờ  
≥12 giờ  
Tổng số  
11  
21  
32  
501  
140  
641  
97,9  
87,0  
95,2  
0,001  
13,0  
4,8  
7. Mối liên quan giữa BTSS với thời gian chuyển dạ  
giai đoạn 2 kéo dài ≥ 30 phút với con rạ và ≥ 60 phút  
với con so  
Nhận xét: Khi thời gian chuyển dạ giai đoạn 1 kéo dài  
≥12 giờ, sản phụ có BTSS chiếm tỷ lệ là 13,0% cao  
hơn sản phụ có thời gian chuyển dạ giai đoạn 1 <12 giờ  
BTSS là 2,1% (p<0,05).  
Bảng 6. Mối liên quan giữa BTSS với thời gian chuyển dạ giai đoạn 2 kéo dài ≥ 30 phút với con rạ và ≥ 60 phút với con so  
BTSS  
Không BTSS  
p
Thời gian chuyển dạ giai  
đoạn 2 kéo dài  
n
%
16,4  
3,3  
n
%
Có  
12  
20  
32  
61  
83,6  
96,7  
95,2  
0,001  
Không  
Tổng số  
580  
641  
4,8  
Nhận xét: Tỷ lệ sản phụ BTSS có thời gian chuyển dạ là 3,3% với p<0,05.  
giai đoạn 2 kéo dài là 16,4% cao hơn tỷ lệ này ở sản  
phụ có thời gian chuyển dạ giai đoạn 2 không kéo dài  
8. Mối liên quan giữa BTSS với vận động sớm  
sau sinh  
144  
L.T.M.Tuyen et al. / Journal of Community Medicine, Vol 62, No 4 (2021) 140-146  
Bảng 7. Mối liên quan giữa BTSS với vận động sớm sau sinh  
BTSS  
Không BTSS  
Vận động sớm sau sinh  
p
n
8
%
1,3  
n
%
Có  
601  
40  
98,7  
62,5  
95,2  
Không  
Tổng số  
24  
32  
37,5  
4,8  
0,001  
641  
Nhận xét: Có mối liên quan giữa vận động sớm sau sinh với BTSS. Nhóm sản phụ không vận động sớm sau sinh  
tỷ lệ bí tiểu là 37,5% cao hơn nhóm có vận động sớm là 1,3% (p<0,05).  
4. BÀN LUẬN  
Tỷ lệ bí tiểu sau sinh  
Các nghiên cứu về BTSS, các tác giả có tiêu chuẩn chẩn đoán và mẫu nghiên cứu khá khác nhau do đó dẫn đến  
những kêt luận chênh lệch về BTSS.  
Bảng 8. So sánh tỷ lệ BTSS của các tác giả  
Tác giả  
Tiêu chuẩn  
Mẫu nghiên cứu  
Tỷ lệ BTSS  
Không tiểu được 6 giờ sau sinh + Siêu âm thể tích tồn  
lưu ≥ 150 ml  
Cavkaytar.S [4]  
234  
8,1%  
Không tiểu được 6 giờ sau sinh + Siêu âm thể tích tồn  
lưu ≥ 150 ml  
Kerke.A.N [5]  
771  
10,9%  
4,9%  
Hồ Xuân Lãng [3]  
Không tiểu được 6 giờ sau sinh + Thông tiểu ≥ 200ml  
1080  
Không tiểu được 6 giờ sau sinh + Thông tiểu ≥ 150  
ml hoặc tiểu khó + thông tiểu ≥ 150 ml(sau khi đi  
tiểu xong)  
Nghiên cứu này  
673  
4,8%  
Với những nghiên cứu có tiêu chuẩn chẩn đoán dựa trải qua, do đó tổn thương thần kinh cơ vùng đáy chậu  
vào thể tích tồn lưu bàng quang, gồm cả bí tiểu hoàn ít hơn trong lần sinh đầu tiên [6].  
toàn và không hoàn toàn đều có tỉ lệ BTSS khá cao.  
Nghiên cứu của chúng tôi có 78,1% sản phụ sinh con  
Tỉ lệ BTSS trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn  
so có bí tiểu, nghiên cứu của Hồ Xuân Lãng 51,9% [3].  
những nghiên cứu này. Tuy nhiên tỷ lệ này lại tương  
Xét mối liên quan giữa số lần sinh và BTSS cho thấy,  
tự với nghiên cứu của Hồ Xuân Lãng, tỷ lệ BTSS là  
sinh con so là 1 yếu tố liên quan đến BTSS (p<0,05).  
4,9% [3].  
Trong nghiên cứu của Hồ Xuân Lãng cũng có kết quả  
Một số yếu tố liên quan đến BTSS  
Số lần sinh:  
tương tự với p = 0,003 và Nguyễn Thị Quí Khoa p =  
0,006 [2],[3].  
Cách sinh:  
Thai kỳ và chuyển dạ là những yếu tố có liên quan đến  
những thay đổi ở các cơ quan vùng đáy chậu, thay đổi Nghiên cứu này cho thấy sinh thủ thuật là yếu tố liên  
cân bằng của đáy chậu, đặc biệt là trong lần sinh đầu quan đến BTSS (p<0,05). Nghiên cứu của Hồ Xuân  
tiên. Đối với những lần sinh sau, sự căng dãn đã được Lãng, Nguyễn Thị Quí Khoa, Kerke cũng cho rằng  
145  
L.T.M.Tuyen et al. / Journal of Community Medicine, Vol 62, No 4 (2021) 140-146  
sinh bằng thủ thuật kềm, giác hút đã làm tăng nguy cơ Tỉ lệ bí tiểu sau sinh đường âm đạo là 4,8%. Các yếu  
BTSS. Trong các trường hợp sinh bằng thủ thuật đa số  
là sinh khó, chuyển dạ kéo dài làm tăng nguy cơ tổn  
thương, phù nề dẫn đến BTSS [2],[3],[5].  
tố: sinh con so, sinh con to với trọng lượng thai: ≥ 3500  
gram, chu vi vòng đầu ≥36 cm, sinh thủ thuật, chuyển  
dạ giai đoạn 1 kéo dài, chuyển dạ giai đoạn 2 kéo dài,  
không vận động sớm sau sinh làm tăng nguy cơ BTSS.  
Thời gian chuyển dạ.  
Nghiên cứu cho thấy rằng thời gian chuyển dạ giai đoạn  
1 và 2 kéo dài đều là yếu tố nguy cơ cho BTSS. Hồ  
Xuân Lãng, Nguyễn Thị Quí Khoa, Kerke cũng cho  
kết quả tương tự [2],[3],[5]. Cavkaytar.S cũng cho kết  
quả rằng thời gian chuyển dạ giai đoạn 2 kéo dài làm  
tăng nguy cơ BTSS [4]. Yếu tố này có ý nghĩa tầm soát  
BTSS hiệu quả.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Department of Obstetrics and Gynecology, Ho  
Chi Minh City University of Medicine, Obstetrics  
and Gynecology Volume 1, Ho Chi Minh City  
Publishing Company, 2008. (in Vietnamese)  
[2] Khoa NTQ, Postpartum urinary retention and  
some related factors on pregnant women at Tu  
Du Hospital, Master's thesis in medicine, Ho Chi  
Minh City University of Medicine and Pharmacy,  
2002. (in Vietnamese)  
Trọng lượng thai  
Sinh con to làm cho bàng quang-niệu đạo bị chèn ép  
khi thai đi xuống trong qua trình sinh, gây tổn thương  
hệ thống thần kinh quanh bàng quang-niệu đạo dẫn đến  
BTSS [11]. Trong nghiên cứu này có mối tương quan  
giữa thai to (>3500 gram) và BTSS với p < 0,05. Theo  
nghiên cứu của Cavkaytar.S cũng kết luận rằng thai to  
(≥4000 gram) có liên quan với BTSS với OR 0,04, độ  
tin cậy 95%, p<0,01 [4].  
[3] Lang HX, Postpartum urinary retention and related  
factors in vaginal delivery at Hue Central Hospital,  
Master thesis in medicine, Hue University of  
Medicine and Pharmacy, 2006. (in Vietnamese)  
[4] Cavkaytar S, Kokanalı MK, Baylas A et al.,  
Postpartum urinary retention after vaginal  
delivery: Assessment of risk factors in a case-  
control study, J Turk Ger Gynecol Assoc., 2014;  
15(3): 140-3.  
Chu vi vòng đầu  
Khi khảo sát mối liên quan giữa BTSS và chu vi vòng  
đầu thấy rằng, chu vi vòng đầu của nhóm BTSS lớn  
hơn so với nhóm không BTSS. Và chọn ngưỡng chu vi  
vòng đầu sơ sinh lớn 36 cm thì đều thấy có mối tương  
quan với BTSS ở các nghiên cứu của các tác giả: Hồ  
Xuân Lãng, Nguyễn Thị Quí Khoa [2],[3].  
[5] Kekre AN, Vijayanand S, Dasgupta R et al.,  
Postpartum urinary retention after vaginal  
delivery, Int J Gynaecol Obstet., 2011; 112(2):  
112-5.  
Vận động sớm sau sinh  
Vận động sớm sau sinh có nhiều lợi ích: tránh bế sản  
dịch, phòng viêm tắc tĩnh mạch, thúc đẩy quá trình  
lành vết thương, giảm phù nề vết may TSM. Đa phần  
sản phụ không hoạt động sớm là do đau nên vấn đề  
giảm đau ở những thai phụ có nguy cơ cao BTSS như  
chuyển dạ kéo dài, sinh con to, sinh thủ thuật hay  
rách TSM.  
[6] Rizvi RM, Khan ZS, Khan Z, Diagnosis and  
management of postpartum urinary retention, Int  
J Gynaecol Obstet., 2005; 91(1): 71-2.  
[7] Yip SK, Brieger G, Hin LY et al., Urinary retention  
in the post-partum period. The relationship  
between obstetric factors and the post-partum  
post-void residual bladder volume, Acta Obstet  
Gynecol Scand., 1997; 76(7): 667-72.  
5. KẾT LUẬN  
146  
pdf 7 trang yennguyen 10660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Research on postpartum urinary retentuon and some related factors in vaginal delivery in Da Nang hospital for women and chidren", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfresearch_on_postpartum_urinary_retentuon_and_some_related_fa.pdf