Research on postpartum urinary retentuon and some related factors in vaginal delivery in Da Nang hospital for women and chidren
Journal of Community Medicine, Vol 62, No 4 (2021) 140-146
INSTITUTE OF COMMUNITY HEALTH
RESEARCH ON POSTPARTUM URINARY RETENTUON
AND SOME RELATED FACTORS IN VAGINAL DELIVERY
IN DA NANG HOSPITAL FOR WOMEN AND CHIDREN
Le Thi Mong Tuyen1,*, Nguyen Thai Nghia2, Nguyen Thi Tuyen2
Dang Thi Yen2, Doan Ngoc Tu2, Vo Xuan Que Ninh1, Ho Ngoc Bich Thuy2
1General Obstetrics and Gynecology, Da Nang Hospital For Women And Chidren
2Faculty of Medicine, Da Nang University of Medical Technology and Pharmacy
Received 26/03/2021
Revised 06/04/2021; Accepted 14/04/2021
ABSTRACT
Objective: To determine the rate of urinary retention after vaginal delivery and evaluation some factors
related to urinary retention after vaginal delivery at Da Nang Hospital For Women And Chidren.
Methods: Cross-sectional study describing 673 women giving birth vaginally, at Da Nang Hospital
For Women And Chidren from March 2018 to the end of September 2018. The pregnant women
in the research group will be examined, interviewed, and refer to the medical records to record the
variables according to the research questionnaire.
Results: Women who are primigravida with postpartum urinary retention rate 6.6%, higher than
2.4% for multigravida who have postpartum urinary retention. In infants with a weight of ≥ 3500
grams, the prevalence of birth urinary retention was 16.7%, higher than that of women with babies
<3500 grams with neonatal urinary retention (1.7%). The rate of postpartum urinary retention among
women who had a baby with a head circumference ≥ 36 cm was 24.3% higher than for women with a
head circumference <36 cm (3.6%). The rate of urinary retention in pregnant women: asisted vaginal
delivery was 50.0%; time of labor in stage 1 lasted ≥ 12 hours was 13.0%; the duration of second stage
labor was 16.4% prolonged, higher than the rate of urinary retention in the group of pregnant women:
vaginal delivery (4.6%); period of labor for stage 1 <12 hours (2.1%); period of labor for stage 2 did
not last long (3.3%). In the group of women who did not exercise early after giving birth, the rate of
urinary retention was 37.5%, higher than this group of women with early movement after birth, 1.3%.
Conclusion: The rate of urinary retention after vaginal delivery is 4.8%. Factors: giving birth in
comparison, giving birth to a large baby with a gestational weight: ≥ 3500 grams, head circumference
≥36 cm, asisted vaginal delivery, long stage 1 labor, long stage 2 labor, early postpartum inactivity
increases the risk of postpartum urinary retention.
Keywords: Postpartum urinary retention, pregnant women, vaginal delivery.
*Corressponding author
Email address: [email protected]
Phone number: (+84) 979 525 990
ttps://doi.org/10.52163/yhcd.v62i4.122
140
L.T.M.Tuyen et al. / Journal of Community Medicine, Vol 62, No 4 (2021) 140-146
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH BÍ TIỂU SAU SINH VÀ MỘT
SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở SẢN PHỤ SINH ĐƯỜNG
ÂM ĐẠO TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN – NHI ĐÀ NẴNG
Lê Thị Mộng Tuyền1,*, Nguyễn Thái Nghĩa2, Nguyễn Thị Tuyền2
Đặng Thị Yên2, Đoàn Ngọc Tú2, Võ Xuân Quế Ninh1, Hồ Ngọc Bích Thủy2
1Khoa Sản tự nguyện, Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng
2Khoa Y, Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng
Ngày nhận bài: 26 tháng 03 năm 2021
Chỉnh sửa ngày: 06 tháng 04 năm 2021; Ngày duyệt đăng: 14 tháng 04 năm 2021
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ bí tiểu sau sinh đường âm đạo và đánh giá một số yếu tố liên quan đến bí
tiểu sau sinh đường âm đạo tại Bệnh viện Phụ sản-Nhi Đà Nẵng.
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả 673 sản phụ sinh đường âm đạo, tại khoa Phụ sản Bệnh
viện Phụ sản-Nhi Đà Nẵng từ tháng 03/2018 đến hết tháng 09/2018. Các sản phụ ở trong nhóm
nghiên cứu sẽ được thăm khám, phỏng vấn, tham khảo bệnh án để ghi nhận các biến số theo phiếu
nghiên cứu.
Kết quả: Tỉ lệ bí tiểu sau sinh đường âm đạo là 4,8%. Sản phụ sinh con so có tỷ lệ BTSS là 6,6% cao
hơn nhóm sản phụ sinh con rạ có BTSS là 2,4%. ꢀ những trẻ sơ sinh có trọng lượng ≥ 3500gram thì
sản phụ có tỷ lệ BTSS là 16,7% cao hơn so với các sản phụ có trẻ sơ sinh trọng lượng < 3500gram có
BTSS (1,7%). Tỷ lệ BTSS ở những sản phụ sinh con có chu vi vòng đầu ≥ 36 cm là 24,3% cao hơn
sản phụ sinh con có chu vi vòng đầu < 36 cm (3,6%). Tỷ lệ bí tiểu ở những sản phụ: sinh bằng phương
pháp thủ thuật là 50,0%; thời gian chuyển dạ giai đoạn 1 kéo dài ≥12 giờ là 13,0%; thời gian chuyển
dạ giai đoạn 2 kéo dài là 16,4% cao hơn tỷ lệ bí biểu ở nhóm sản phụ: sinh tự nhiên (4,6%); thời gian
chuyển dạ giai đoạn 1<12 giờ (2,1%); thời gian chuyển dạ giai đoạn 2 không kéo dài (3,3%). ꢀ nhóm
sản phụ không vận động sớm sau sinh, tỷ lệ bí tiểu là 37,5% cao hơn nhóm sản phụ này có vận động
sớm sau sinh là 1,3%.
Kết luận: Tỉ lệ bí tiểu sau sinh đường âm đạo là 4,8%. Các yếu tố: sinh con so, sinh con to với trọng
lượng thai: ≥ 3500 gram, chu vi vòng đầu ≥36 cm, sinh thủ thuật, chuyển dạ giai đoạn 1 kéo dài,
chuyển dạ giai đoạn 2 kéo dài, không vận động sớm sau sinh làm tăng nguy cơ bí tiểu sau sinh.
Từ khoá: Bí tiểu sau sinh, sản phụ, sinh đường âm đạo.
*Tác giả liên hệ
Email: [email protected]
Điện thoại: (+84) 979 525 990
ttps://doi.org/10.52163/yhcd.v62i4.122
141
L.T.M.Tuyen et al. / Journal of Community Medicine, Vol 62, No 4 (2021) 140-146
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
viện Phụ sản-Nhi Đà Nẵng từ tháng 03/2018 đến hết
tháng 9/2018.
Bí tiểu sau sinh (BTSS) là một trong những biến chứng
thường gặp, nhất là các trường hợp sinh đường âm
đạo. Bí tiểu sau sinh tuy không gây nguy hiểm cho tính
mạng nhưng lại làm cho sản phụ nhiều cảm giác: đau
tức bụng và không tiểu được. Bệnh này kéo dài dễ gây
nhiễm khuẩn đường tiết niệu [1],[7].
Cỡ mẫu: Sử dụng công thức tính cỡ mẫu và phương
pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn. Cỡ mẫu thu thập được
là 673 trường hợp.
Tiêu chuẩn chọn mẫu:
- Sinh đường âm đạo thai đủ tháng (có tuổi thai > 37
tuần theo siêu âm hay kinh cuối).
Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến một số yếu
tố sản khoa có liên quan đến tình trạng bí tiểu sau sinh
như: sinh con lần đầu, sinh dụng cụ bằng kềm hay giác
hút, chuyển dạ kéo dài, thai to, chu vi vòng đầu sơ sinh
lớn, mức độ tổn thương tầng sinh môn, gây mê ngoài
màng cứng trong đẻ không đau [2],[7].
- Các sản phụ này phải được khám toàn diện trước,
trong và sau sinh, có xét nghiệm công thức máu.
- Có trạng thái tinh thần khỏe mạnh, tình trạng sản phụ
cho phép tiến hành phỏng vấn.
Tiêu chuẩn loại trừ:
Có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước nghiên cứu
về tình hình bí tiểu sau sinh. Tỷ lệ bí tiểu sau sinh dao
động từ 14,1 – 17,9% tùy tác giả, thay đổi theo các
nghiên cứu khác nhau, phụ thuộc và thiết kế nghiên
cứu. Yip S.K. nghiên cứu tiền cứu 752 sản phụ sau sinh
đường âm đạo có tỷ lệ bí tiểu sau sinh hoàn toàn là
4,9% và tỷ lệ bí tiểu không hoàn toàn là 9,7% [7]. ꢀ
Việt Nam, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Quí Khoa
tại Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ, bí tiểu sau sinh đường
âm đạo chiếm tới 13,5% [2]. Theo nghiên cứu của Hồ
Xuân Lãng tại Bệnh viện Trung ương Huế thì tỷ lệ bí
tiểu sau sinh là 4,9% [3].
- Các bệnh lý gây bí tiểu: Chấn thương cột sống, sỏi
bàng quang - niệu đạo, sa bàng quang.
- Các rối loạn tiểu tiện có trước khi mang thai.
- Sản phụ phải lưu thông tiểu theo chỉ định bệnh lý: Sản
giật, tiền sản giật nặng, các trường hợp có choáng, bệnh
tim mạch.
Các bước tiến hành nghiên cứu:
Lấy danh sách các sản phụ sinh đường âm đạo tại khoa
Phụ sản Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng từ ngày
01/3/2018 đến ngày 30/9/2018. Từ danh sách đó lựa
chọn các bà mẹ đáp ứng đủ điều kiện của mẫu nghiên
cứu. Sau đó chọn ngẫu nhiên đơn các sản phụ từ danh
sách đã được chọn lọc. Các sản phụ ở trong nhóm
nghiên cứu sẽ được thăm khám, phỏng vấn, tham khảo
bệnh án để ghi nhận các biến số theo phiếu nghiên cứu.
Tại Bệnh viên Phụ sản-Nhi Đà Nẵng, vấn đề bí tiểu
sau sinh được ghi nhận khá phổ biến ở phòng hậu sản
nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về tình trạng
này. Do đó, chúng tôi thực hiện: “Nghiên cứu tình hình
bí tiểu sau sinh và một số yếu tố liên quan ở sản phụ sinh
đường âm đạo tại Bệnh viện Phụ sản-Nhi Đà Nẵng”.
BTSS gồm hoàn toàn và không hoàn toàn: sản phụ sau
sinh đường âm đạo 6 giờ, mắc tiểu nhưng không tự
tiểu được hoặc tiểu được nhưng rất ít, lắc rắc, cầu bàng
quang dương tính, lượng nước tiểu trong bàng quang
khi thông ≥150 ml.
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tỷ lệ bí tiểu sau sinh đường âm đạo tại Bệnh
viên Phụ sản-Nhi Đà Nẵng và đánh giá một số yếu tố
liên quan đến bí tiểu sau sinh đường âm đạo tại Bệnh
viện Phụ sản-Nhi Đà Nẵng.
Xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để xử lý và tính: tần số,
tỷ lệ %, so sánh sự khác biệt giữa các tỷ lệ bằng thuật
toán Chi-square.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Đối tượng nghiên cứu
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Sản phụ sinh đường âm đạo, tại khoa Phụ sản, Bệnh 1. Tỉ lệ bí tiểu sau sinh
142
L.T.M.Tuyen et al. / Journal of Community Medicine, Vol 62, No 4 (2021) 140-146
Nhận xét: Tỉ lệ bí tiểu sau sinh là 4,8%.
2. Mối liên quan giữa BTSS với số lần sinh
Bảng 1. Mối liên quan sinh con so và BTSS
BTSS Không BTSS
Số lần sinh con
p
n
25
7
%
6,6
2,4
4,8
n
%
1 lần
353
288
641
93,4
97,6
95,2
≥ 2 lần
Tổng số
0,01
32
3. Mối liên quan giữa BTSS với trọng lượng trẻ
sơ sinh
Nhận xét: Sản phụ sinh con so có tỷ lệ BTSS là 6,6%
cao hơn nhóm sản phụ sinh con rạ có BTSS là 2,4%. Sự
khác biệt này có ý nghĩa thống kê p <0,05.
Bảng 2. Mối liên quan giữa trọng lượng thai và BTSS
BTSS
Không BTSS
Trọng lượng
p
n
%
1,7
n
%
P < 3500gram
P ≥ 3500gram
Tổng số
9
526
115
641
98,3
83,3
95,2
23
32
16,7
4,8
0,001
Nhận xét: ꢀ những trẻ sơ sinh có trọng lượng ≥ BTSS (1,7%) (p <0,05).
3500gram thì sản phụ BTSS là 16,7% cao hơn so với
các sản phụ có trẻ sơ sinh trọng lượng < 3500gram có
4. Mối liên quan giữa BTSS với chu vi vòng đầu
Bảng 3. Mối liên quan giữa BTSS với chu vi vòng đầu
BTSS
Không BTSS
Chu vi vòng đầu
p
n
%
n
%
< 36 cm
≥ 36 cm
Tổng số
23
9
3,6
24,3
4,8
613
28
96,4
75,7
95,2
0,001
32
641
143
L.T.M.Tuyen et al. / Journal of Community Medicine, Vol 62, No 4 (2021) 140-146
Nhận xét: Tỷ lệ BTSS ở những sản phụ sinh con có chu ý nghĩa thống kê p <0,05.
vi vòng đầu ≥ 36 cm là 24,3% cao hơn sản phụ sinh con
có chu vi vòng đầu < 36 cm (3,6%). Sự khác biệt này có 5. Mối liên quan giữa BTSS với cách sinh
Bảng 4. Mối liên quan giữa BTSS với cách sinh
BTSS
Không BTSS
Cách sinh
p
n
31
1
%
4,6
n
%
Tự nhiên
Thủ thuật
Tổng số
640
1
95,4
50,0
95,2
50,0
4,8
0,003
32
641
6. Mối liên quan giữa BTSS với thời gian chuyển dạ
giai đoạn 1
Nhận xét: Tỷ lệ bí tiểu ở những sản phụ sinh bằng
phương pháp thủ thuật là 50,0% cao hơn những sản phụ
sinh tự nhiên là 4,6% với p<0,05.
Bảng 5. Mối liên quan giữa BTSS với thời gian chuyển dạ giai đoạn1
BTSS Không BTSS
p
Thời gian chuyển dạ
giai đoạn 1
n
%
2,1
n
%
<12 giờ
≥12 giờ
Tổng số
11
21
32
501
140
641
97,9
87,0
95,2
0,001
13,0
4,8
7. Mối liên quan giữa BTSS với thời gian chuyển dạ
giai đoạn 2 kéo dài ≥ 30 phút với con rạ và ≥ 60 phút
với con so
Nhận xét: Khi thời gian chuyển dạ giai đoạn 1 kéo dài
≥12 giờ, sản phụ có BTSS chiếm tỷ lệ là 13,0% cao
hơn sản phụ có thời gian chuyển dạ giai đoạn 1 <12 giờ
BTSS là 2,1% (p<0,05).
Bảng 6. Mối liên quan giữa BTSS với thời gian chuyển dạ giai đoạn 2 kéo dài ≥ 30 phút với con rạ và ≥ 60 phút với con so
BTSS
Không BTSS
p
Thời gian chuyển dạ giai
đoạn 2 kéo dài
n
%
16,4
3,3
n
%
Có
12
20
32
61
83,6
96,7
95,2
0,001
Không
Tổng số
580
641
4,8
Nhận xét: Tỷ lệ sản phụ BTSS có thời gian chuyển dạ là 3,3% với p<0,05.
giai đoạn 2 kéo dài là 16,4% cao hơn tỷ lệ này ở sản
phụ có thời gian chuyển dạ giai đoạn 2 không kéo dài
8. Mối liên quan giữa BTSS với vận động sớm
sau sinh
144
L.T.M.Tuyen et al. / Journal of Community Medicine, Vol 62, No 4 (2021) 140-146
Bảng 7. Mối liên quan giữa BTSS với vận động sớm sau sinh
BTSS
Không BTSS
Vận động sớm sau sinh
p
n
8
%
1,3
n
%
Có
601
40
98,7
62,5
95,2
Không
Tổng số
24
32
37,5
4,8
0,001
641
Nhận xét: Có mối liên quan giữa vận động sớm sau sinh với BTSS. Nhóm sản phụ không vận động sớm sau sinh
tỷ lệ bí tiểu là 37,5% cao hơn nhóm có vận động sớm là 1,3% (p<0,05).
4. BÀN LUẬN
Tỷ lệ bí tiểu sau sinh
Các nghiên cứu về BTSS, các tác giả có tiêu chuẩn chẩn đoán và mẫu nghiên cứu khá khác nhau do đó dẫn đến
những kêt luận chênh lệch về BTSS.
Bảng 8. So sánh tỷ lệ BTSS của các tác giả
Tác giả
Tiêu chuẩn
Mẫu nghiên cứu
Tỷ lệ BTSS
Không tiểu được 6 giờ sau sinh + Siêu âm thể tích tồn
lưu ≥ 150 ml
Cavkaytar.S [4]
234
8,1%
Không tiểu được 6 giờ sau sinh + Siêu âm thể tích tồn
lưu ≥ 150 ml
Kerke.A.N [5]
771
10,9%
4,9%
Hồ Xuân Lãng [3]
Không tiểu được 6 giờ sau sinh + Thông tiểu ≥ 200ml
1080
Không tiểu được 6 giờ sau sinh + Thông tiểu ≥ 150
ml hoặc tiểu khó + thông tiểu ≥ 150 ml(sau khi đi
tiểu xong)
Nghiên cứu này
673
4,8%
Với những nghiên cứu có tiêu chuẩn chẩn đoán dựa trải qua, do đó tổn thương thần kinh cơ vùng đáy chậu
vào thể tích tồn lưu bàng quang, gồm cả bí tiểu hoàn ít hơn trong lần sinh đầu tiên [6].
toàn và không hoàn toàn đều có tỉ lệ BTSS khá cao.
Nghiên cứu của chúng tôi có 78,1% sản phụ sinh con
Tỉ lệ BTSS trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn
so có bí tiểu, nghiên cứu của Hồ Xuân Lãng 51,9% [3].
những nghiên cứu này. Tuy nhiên tỷ lệ này lại tương
Xét mối liên quan giữa số lần sinh và BTSS cho thấy,
tự với nghiên cứu của Hồ Xuân Lãng, tỷ lệ BTSS là
sinh con so là 1 yếu tố liên quan đến BTSS (p<0,05).
4,9% [3].
Trong nghiên cứu của Hồ Xuân Lãng cũng có kết quả
Một số yếu tố liên quan đến BTSS
Số lần sinh:
tương tự với p = 0,003 và Nguyễn Thị Quí Khoa p =
0,006 [2],[3].
Cách sinh:
Thai kỳ và chuyển dạ là những yếu tố có liên quan đến
những thay đổi ở các cơ quan vùng đáy chậu, thay đổi Nghiên cứu này cho thấy sinh thủ thuật là yếu tố liên
cân bằng của đáy chậu, đặc biệt là trong lần sinh đầu quan đến BTSS (p<0,05). Nghiên cứu của Hồ Xuân
tiên. Đối với những lần sinh sau, sự căng dãn đã được Lãng, Nguyễn Thị Quí Khoa, Kerke cũng cho rằng
145
L.T.M.Tuyen et al. / Journal of Community Medicine, Vol 62, No 4 (2021) 140-146
sinh bằng thủ thuật kềm, giác hút đã làm tăng nguy cơ Tỉ lệ bí tiểu sau sinh đường âm đạo là 4,8%. Các yếu
BTSS. Trong các trường hợp sinh bằng thủ thuật đa số
là sinh khó, chuyển dạ kéo dài làm tăng nguy cơ tổn
thương, phù nề dẫn đến BTSS [2],[3],[5].
tố: sinh con so, sinh con to với trọng lượng thai: ≥ 3500
gram, chu vi vòng đầu ≥36 cm, sinh thủ thuật, chuyển
dạ giai đoạn 1 kéo dài, chuyển dạ giai đoạn 2 kéo dài,
không vận động sớm sau sinh làm tăng nguy cơ BTSS.
Thời gian chuyển dạ.
Nghiên cứu cho thấy rằng thời gian chuyển dạ giai đoạn
1 và 2 kéo dài đều là yếu tố nguy cơ cho BTSS. Hồ
Xuân Lãng, Nguyễn Thị Quí Khoa, Kerke cũng cho
kết quả tương tự [2],[3],[5]. Cavkaytar.S cũng cho kết
quả rằng thời gian chuyển dạ giai đoạn 2 kéo dài làm
tăng nguy cơ BTSS [4]. Yếu tố này có ý nghĩa tầm soát
BTSS hiệu quả.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Department of Obstetrics and Gynecology, Ho
Chi Minh City University of Medicine, Obstetrics
and Gynecology Volume 1, Ho Chi Minh City
Publishing Company, 2008. (in Vietnamese)
[2] Khoa NTQ, Postpartum urinary retention and
some related factors on pregnant women at Tu
Du Hospital, Master's thesis in medicine, Ho Chi
Minh City University of Medicine and Pharmacy,
2002. (in Vietnamese)
Trọng lượng thai
Sinh con to làm cho bàng quang-niệu đạo bị chèn ép
khi thai đi xuống trong qua trình sinh, gây tổn thương
hệ thống thần kinh quanh bàng quang-niệu đạo dẫn đến
BTSS [11]. Trong nghiên cứu này có mối tương quan
giữa thai to (>3500 gram) và BTSS với p < 0,05. Theo
nghiên cứu của Cavkaytar.S cũng kết luận rằng thai to
(≥4000 gram) có liên quan với BTSS với OR 0,04, độ
tin cậy 95%, p<0,01 [4].
[3] Lang HX, Postpartum urinary retention and related
factors in vaginal delivery at Hue Central Hospital,
Master thesis in medicine, Hue University of
Medicine and Pharmacy, 2006. (in Vietnamese)
[4] Cavkaytar S, Kokanalı MK, Baylas A et al.,
Postpartum urinary retention after vaginal
delivery: Assessment of risk factors in a case-
control study, J Turk Ger Gynecol Assoc., 2014;
15(3): 140-3.
Chu vi vòng đầu
Khi khảo sát mối liên quan giữa BTSS và chu vi vòng
đầu thấy rằng, chu vi vòng đầu của nhóm BTSS lớn
hơn so với nhóm không BTSS. Và chọn ngưỡng chu vi
vòng đầu sơ sinh lớn 36 cm thì đều thấy có mối tương
quan với BTSS ở các nghiên cứu của các tác giả: Hồ
Xuân Lãng, Nguyễn Thị Quí Khoa [2],[3].
[5] Kekre AN, Vijayanand S, Dasgupta R et al.,
Postpartum urinary retention after vaginal
delivery, Int J Gynaecol Obstet., 2011; 112(2):
112-5.
Vận động sớm sau sinh
Vận động sớm sau sinh có nhiều lợi ích: tránh bế sản
dịch, phòng viêm tắc tĩnh mạch, thúc đẩy quá trình
lành vết thương, giảm phù nề vết may TSM. Đa phần
sản phụ không hoạt động sớm là do đau nên vấn đề
giảm đau ở những thai phụ có nguy cơ cao BTSS như
chuyển dạ kéo dài, sinh con to, sinh thủ thuật hay
rách TSM.
[6] Rizvi RM, Khan ZS, Khan Z, Diagnosis and
management of postpartum urinary retention, Int
J Gynaecol Obstet., 2005; 91(1): 71-2.
[7] Yip SK, Brieger G, Hin LY et al., Urinary retention
in the post-partum period. The relationship
between obstetric factors and the post-partum
post-void residual bladder volume, Acta Obstet
Gynecol Scand., 1997; 76(7): 667-72.
5. KẾT LUẬN
146
Bạn đang xem tài liệu "Research on postpartum urinary retentuon and some related factors in vaginal delivery in Da Nang hospital for women and chidren", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
research_on_postpartum_urinary_retentuon_and_some_related_fa.pdf

