Đánh giá các tổn thương nhú và một số đặc điểm lâm sàng - Giải phẫu bệnh của vú

vietnam medical journal n01 - MAY - 2021  
ĐÁNH GIÁ CÁC TỔN THƯƠNG NHÚ VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM  
LÂM SÀNG - GIẢI PHẪU BỆNH CỦA VÚ  
Nguyễn Tiến Quang*  
without ADH.  
Key words:  
TÓM TẮT58  
Tổn thương nhú chỉ chiếm 2% các tổn thương của  
Breast  
Papillary  
lesion,  
Clinicopathological feature, Immunohistochemistry.  
tuyến vú nhưng tổn thương này lại có nhiều đặc điểm  
có thể gây nhẫm lẫn giữa lành tính, không điển hình  
và ác tính trong cả chẩn đoán, phân loại và điều trị.  
Mục tiêu: Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, mô  
bệnh học và hóa mô miễn dịch của các tổn thương  
nhú ở tuyến vú. Đối tượng và phương pháp  
nghiên cứu: 79 bệnh nhân tổn thương nhú được  
phân loại mô bệnh học và ghi nhận một số đặc điểm  
lâm sàng, MBH, nhuộm HMMD với Ki67. Kết quả  
nghiên cứu: 100% típ UNNO có chỉ số Ki-67 thấp.  
Nhóm tổn thương nhú không điển hình có 1 trường  
hợp ghi nhận có chỉ số Ki-67 cao (p <0,05). Trong  
nhóm tổn thương nhú ác tính có 5 trường hợp có chỉ  
số Ki-67 cao chủ yếu gặp ở típ UTBM nhú trong vỏ (p  
>0,05). Kết luận: Tổn thương ADH và DCIS gặp  
nhiều trong nhóm UTBM có cấu trúc nhú hơn so với  
UNNO và khả năng phát triển thành UTBM có cấu trúc  
nhú ở nhóm có ADH cao gấp 6,5 lần so với nhóm  
không có ADH.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Tổn thương nhú chỉ chiếm 2% các tổn  
thương của tuyến vú nhưng tổn thương này lại  
có nhiều đặc điểm có thể gây nhẫm lẫn giữa  
lành tính, không điển hình và ác tính trong cả  
chẩn đoán, phân loại và điều trị [1]. Năm 2012,  
WHO đã phân loại các tổn thương nhú thành các  
nhóm: u nhú nội ống (UNNO) với các dạng  
UNNO kèm quá sản ống không điển hình (ADH),  
UNNO kèm ung thư biểu mô ống tại chỗ (DCIS),  
UNNO kèm tân sản tiểu thùy; UTBM nhú nội  
ống; UTBM nhú trong vỏ loại xâm nhập và  
không xâm nhập; UTBM nhú đặc tại chỗ hoặc  
xâm nhập [2]. Trong tổn thương nhú, việc xác  
định tổn thương lành tính hay ác tính dựa vào sự  
có mặt của tế bào cơ biểu mô [3]. Tổn thương  
nhú rất đa dạng, các hình thái tổn thương đi từ  
lành tính, không điển hình tới ác tính và việc  
phân loại những tổn thương này vẫn là một  
thách thức trong chẩn đoán. Ở Việt Nam rất ít  
nghiên cứu về vấn đề này. Nhằm mục đích giải  
quyết những khó khăn nêu trên chúng tôi thực  
hiện đề tài này với mục tiêu: Nhận xét một số  
đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và hóa mô  
miễn dịch của các tổn thương nhú ở tuyến vú.  
Từ khóa: Tổn thương nhú của vú, Đặc điểm lâm  
sàng – giải phẫu bệnh, Hóa mô miễn dịch.  
SUMMARY  
ASSESSMENT OF THE BREAST PAPILLARY  
LESSIONS AND SOME  
CLINICOPATHOLOGICAL FEATURES  
Papillary lesions only account for 2% of the  
mammary lesions, but this lesion ownes many  
features that can confuse between benign, atypical  
and malignant characteristic in the diagnosis,  
classification and treatment. Purpose: Comment on  
some  
clinical  
features,  
histopathology  
and  
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Đối tượng nghiên cứu: gồm mẫu bệnh  
phẩm kèm theo hồ sơ bệnh án 79 bệnh nhân có  
tổn thương nhú của vú được sinh thiết hoặc  
phẫu thuật cắt u hoặc phẫu thuật cắt vú tại Bệnh  
viện K, từ tháng 5/2016 đến tháng 5/2018.  
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân  
- Có ghi nhận đầy đủ các dữ liệu: Họ tên, tuổi,  
ngày vào viện, vị trí khối u, chẩn đoán lâm sàng.  
- Được phẫu thuật cắt khối u hoặc cắt bỏ  
tuyến vú.  
- Khối u nguyên phát và chưa được điều trị  
hóa chất trước mổ cắt u.  
- Có chẩn đoán MBH là tổn thương nhú của  
vú theo phân loại của WHO.  
- Có khối nến đủ tiêu chuẩn để nhuộm  
HMMD.  
immunohistochemistry of papillary lesions in breast.  
Methods: 79 patients with papillary lesion were  
classified in histopathological subgroups by WHO  
classification, reviewing some  
clinicopathological  
characteristics, IHC stain of Ki67 marker. Results:  
100% intraductal papilloma has a low Ki67. Atypical  
papillary lesion group was seen in 1 case with a high  
Ki67 score (p <0.05). In the group of malignant  
papillary lesions, there were 5 cases with high Ki67,  
mainly seen in type of encapsulated papillary  
carcinoma (p <0,05). Conclusion: ADH and DCIS  
were more common in the group of papillary  
carcinoma than intraductal papilloma, and the  
likelihood of developing papillary carcinoma of the  
ADH group was 6.5 times higher than in the lession  
*Bệnh viện K  
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Tiến Quang  
Ngày nhận bài: 2.3.2021  
Ngày phản biện khoa học: 23.4.2021  
Ngày duyệt bài: 4.5.2021  
Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân không thỏa  
mãn các tiêu chuẩn trên  
- BN có kèm các UT khác.  
248  
TẠP CHÍ Y h c vi t nam tẬP 502 - th ng 5 - s 1 - 2021  
- UT từ nơi khác di căn tới vú  
Nhóm tổn thương nhú  
57,64±14,22  
- Tổn thương vú ở nam giới.  
ác tính  
Phương pháp nghiên cứu  
Nhận xét: Tuổi trung bình của nhóm tổn  
thương nhú ác tính cao nhất 57,64 tuổi. Sự khác  
biệt về tuổi trung bình của các nhóm là có ý  
nghĩa với p=0,036<0,05.  
Bảng 2: Tỉ lệ phân bố theo vị trí của tổn  
thương nhú của vú  
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt  
ngang, hồi cứu kết hợp với tiến cứu.  
Các bước tiến hành nghiên cứu  
Ghi nhận các thông tin: Tên, tuổi, vị trí u,  
kích thước u, chẩn đoán lâm sàng.  
Nghiên cứu MBH: Phân loại mô học theo  
WHO 2012.  
Nghiên cứu HMMD: Các mẫu mô được  
nhuộm HMMD bằng máy Ventana với các dấu  
ấn: Ki67. Đánh giá kết quả HMMD theo St Gallen  
năm 2013, chỉ số K67 được chia thành 2 mức  
độ: thấp (<20%) và cao (≥20%).  
Các biến số nghiên cứu: tuổi trung bình,  
nhóm tuổi; vú phải, vú trái, típ MBH, các biến đổi  
lành tính về biểu mô kèm theo (ADH, DCIS); sự  
bộc lộ của Ki-67.  
Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu này  
được thực hiện tại Bệnh viện K.  
Vị trí  
Trái  
Phải  
Số trường hợp  
Tỉ lệ (%)  
51,9  
41  
38  
48,1  
Nhận xét: Vị trí của tổn thương nhú gặp ở  
hai bên vú phải và vú trái lần lượt là 48,1% và  
51,9% với p=0,736 (>0.05). Như vậy, tổn  
thương nhú của vú phân bố không có sự khác  
biệt ở hai bên với mức ý nghĩa là 95%.  
Bảng 3. Phân loại típ tổn thương nhú  
của vú  
Típ tổn thương nhú của Số trường Tỉ lệ  
vú  
Lành tính  
hợp  
52  
52  
13  
11  
2
(%)  
65,8  
65,8  
16,4  
13,9  
2,5  
Xử lý số liệu: Xử lý số liệu trên phần mềm  
SPSS 20.0.  
UNNO  
Không điển hình  
1. UNNO kèm ADH  
2. UNNO kèm DCIS  
Ác tính  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Phân bố theo nhóm tuổi  
14  
7
17,8  
8,9  
3,8  
3,8  
1,3  
1. UTBM nhú nội ống  
2. UTBM nhú trong vỏ  
3. UTBM nhú trong vỏ xâm  
nhập  
4. UTBM nhú đặc xâm nhập  
Tổng  
Nhận xét: UNNO là típ MBH có tỉ lệ cao nhất  
với 52 trường hợp chiếm 65,8%, tiếp theo là  
UNNO kèm ADH với 11 trường hợp chiếm 13,9%.  
UTBM nhú đặc xâm nhập chiếm tỉ lệ thấp nhất là  
1,3 % với 1 trường hợp được ghi nhận.  
Bảng 4: Mối liên quan giữa ADH với các  
tổn thương nhú của vú  
3
30.3  
34.3  
3
1
79  
100  
35.4  
45-59  
<45  
>=60  
Biểu đồ 1: Phân bố nhóm tuổi của tổn  
thương nhú của vú  
Nhận xét: Tuổi mắc các tổn thương nhú của  
vú trung bình trong nghiên cứu là 50,42±11,66  
tuổi. Bệnh nhân trẻ tuổi nhất trong nghiên cứu là  
30 tuổi và lớn tuổi nhất trong nghiên cứu là 81  
tuổi. Nhóm tuổi gặp tổn thương nhú nhiều nhất  
là 45-59 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất 35,4%. Nhóm  
tuổi nhỏ hơn 45 ít gặp tổn thương nhú của vú  
hơn (30,3%).  
UTBM  
dạng nhú  
UNNO  
p
n
%
n
8
6
%
57,1  
42,9  
có  
11 16,9  
ADH  
0,01  
Không 54 83,1  
OR=6,55 Khoảng tin cậy 95%: 1,89-22,6  
Nhận xét: Nhóm UTBM có cấu trúc nhú có  
kèm ADH nhiều hơn so với nhóm UNNO ghi nhận  
8 trường hợp (chiếm 57,1%). Nhóm UTBM có  
cấu trúc nhú kèm ADH nhiều hơn so với nhóm  
Bảng 1. Tuổi trung bình của các nhóm  
tổn thương nhú của vú  
Tuổi trung  
p
bình  
UNNO kèm ADH có  
ý
nghĩa thống kê  
Nhóm tổn thương nhú  
48,87±10,43  
p=0,01<0,05. Khảo sát hai yếu tố là UTBM có  
cấu trúc nhú và ADH ta có tỉ suất chênh  
OR=6,55, có ý nghĩa thống kê do khoảng tin cậy  
95% của OR nhận giá trị từ 1,89 đến 22,6 không  
lành tính  
0,036  
Nhóm tổn thương nhú  
48,85±11,34  
không điển hình  
249  
vietnam medical journal n01 - MAY - 2021  
chứa giá trị 1. Như vậy, khả năng phát triển  
IV. BÀN LUẬN  
thành UTBM có cấu trúc nhú của nhóm UNNO có  
kèm ADH cao gấp 6,5 lần so với nhóm UNNO  
không kèm ADH.  
Nghiên cứu 79 bệnh nhân có tổn thương nhú  
ở vú của chúng tôi cho thấy tuổi mắc trung bình  
của bệnh nhân có tổn thương nhú của vú là  
50,42±11,66 tuổi, bệnh nhân trẻ tuổi nhất trong  
nghiên cứu là 30 tuổi và lớn nhất trong nghiên  
cứu là 81 tuổi. Tổn thương nhú của vú có nhóm  
tuổi phổ biến nhất là 45-59 tuổi (chiếm 35,4%).  
Tuổi mắc bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi  
có sự khác biệt so với một số nghiên cứu khác  
như tác giả Tokiniwa và cộng sự (2011) ghi nhận  
tuổi trung bình của bệnh nhân có tổn thương  
nhú là 48,8 tuổi, trẻ hơn so với nghiên cứu của  
chúng tôi với tuổi trẻ nhất là 22 và lớn nhất là 88  
tuổi [4]. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tuổi  
mắc trung bình các tổn thương nhú không phải  
ác tính là 48,7 tuổi gần tương đương với nghiên  
cứu của Fu và cộng sự là 47 tuổi. Tuy nhiên, tuổi  
mắc trung bình của bệnh nhân có các tổn  
thương nhú ác tính trong nghiên cứu của chúng  
tôi là 57,64 tuổi, cao hơn so với nghiên cứu của  
Fu và cộng sự là 48,5 tuổi [6]. Điều này có thể là  
do ở Việt Nam việc phát hiện ung thư vẫn còn  
muộn dẫn đến phát hiện thường ở bệnh nhân  
lớn tuổi hơn, nhưng lại ở giai đoạn muộn hơn.  
Về vị trí tổn thương, nghiên cứu của chúng tôi  
cho thấy vị trí gặp tổn thương nhú ở vú phải là  
54% khác biệt không có ý nghĩa thống kê với vị  
trí gặp tổn thươngở vú trái là 61% (p=0,514  
>0,05). Như vậy khả năng gặp tổn thương nhú  
của vú là như nhau ở 2 bên trái và phải.  
Típ mô bệnh học của các tổn thương nhú của  
vú: trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 7  
típ mô bệnh học tổn thương nhú. Trong đó, tổn  
thương nhú gặp nhiều nhất có 52 trường hợp  
chiếm tỉ lệ 65,8% là UNNO lành tính.Các típ mô  
bệnh học ác tính ghi nhận 14 trường hợp chiếm  
34,4%, trong đó ung thư biểu mô nhú nội ống  
gặp nhiều nhất với 7 trường hợp. UNNO kèm  
ADH cũng ghi nhận được 11 trường hợp. Các típ  
ít gặp hơn là UNNO kèm DCIS (2 trường hợp  
chiếm 2,5%) và UTBM nhú đặc xâm nhập (1  
trường hợp). Một số nghiên cứu trong nước và  
trên thế giới khác có ghi nhận tỉ lệ phân típ mô  
bệnh học tương đương với nghiên cứu của  
chúng tôi. Pathmanathan và cộng sự (2010) cho  
thấy UNNO chiếm 61%, nhóm các tổn thương  
không điển hình có 26% và nhóm các tổn  
thương ác tính chiếm 18% [7]. Tạ Thị Minh  
Phượng và cộng sự (2015) thấy rằng các tổn  
thương nhú thuộc nhóm lành tính chiếm 50%,  
nhóm các tổn thương không điển hình chiếm  
22% và nhóm các tổn thương ác tính chiếm 28  
[8]. Tỉ lệ gặp của các típ mô bệnh học rất thay đổi  
Bảng 5: Mối liên quan giữa DCIS với các  
tổn thương nhú của vú  
UTBM  
UNNO  
dạng nhú  
p
n
1
%
14,3  
n
6
5
%
83,7  
7,6  
có  
DCIS  
0,00  
Không 61 92,4  
OR=73,1 Khoảng tin cậy 95%: 7,3-733,8  
Nhận xét: Nhóm UNNO có 1 trường hợp duy  
nhất có phối hợp với DCIS, nhóm UTBM có cấu  
trúc nhú ghi nhận nhiều hơn với 6 trường hợp có  
kèm DCIS. Tỉ lệ phối hợp với DCIS của nhóm  
UNNO với nhóm UTBM có cấu trúc nhú là khác  
nhau có ý nghĩa thống kê với p=0.00<0,05.  
Khảo sát hai yếu tố là UTBM có cấu trúc nhú và  
DCIS, chúng tôi ghi nhận tỉ suất chênh OR=73,1,  
có ý nghĩa thống kê do khoảng tin cậy 95% của  
OR nhận giá trị từ 7,3 đến 733,8không chứa giá  
trị 1. Như vậy, khả năng phát triển thành UTBM  
có cấu trúc nhú của nhóm có kèm DCIS cao gấp  
73lần so với nhóm không kèm tổn thương DCIS.  
Bảng 6: Mức độ tăng sinh Ki67 trong các  
tổn thương nhú của vú  
Ki67  
Cao  
Thấp  
n
0
%
0
n
52  
%
100  
UNNO  
Tổn thương nhú  
không điển hình  
Tổn thương nhú  
ác tính  
P=  
0,000  
1
1
5
1
7,7 12 92,3  
35,7  
14,3  
9
6
64,3  
85,7  
UTBM nhú nội  
ống  
P=  
UTBM nhú trong  
vỏ  
UTBM nhú đặc  
4
0
66,6  
0
2
1
33,3 0,061  
100,0  
Nhận xét: 100% típ UNNO có chỉ số Ki-67  
thấp. Nhóm tổn thương nhú không điển hình có  
1 trường hợp ghi nhận có chỉ số Ki-67 cao.  
Trong nhóm tổn thương nhú ác tính có 5 trường  
hợp có chỉ số Ki-67 cao chủ yếu gặp ở típ UTBM  
nhú trong vỏ. Trung bình của chỉ số Ki-67 trong  
nhóm tổn thương nhú ác tính của là 23,08  
±20,87 (dao động từ 5-80%). So sánh mức độ  
tăng sinh Ki-67 giữa các nhóm tổn thương nhú  
lành tính, không điển hình là khác biệt có ý  
nghĩa với p=0,00 <0,05. Tuy nhiên, khi so sánh  
mức độ tăng sinh giữa các típ MBH trong tổn  
thương nhú ác tính thì không có sự khác biệt  
p=0,061>0,05.  
250  
TẠP CHÍ Y h c vi t nam tẬP 502 - th ng 5 - s 1 - 2021  
trong các nghiên cứu khác nhau. Bên cạnh đó, cỡ nhận 100% típ UNNO có chỉ số Ki-67 thấp điều  
mẫu của các nghiên cứu thường nhỏ nên tần suất  
các típ mô bệnh học hiếm gặp rất biến thiên.  
Mối liên quan giữa ADH/DCIS với tổn thương  
nhú của vú: Trong 79 ca nghiên cứu, 17 trường  
hợp tổn thương nhú có kèm ADH, trong đó  
nhóm UNNO ghi nhận 11 trường hợp (chiếm  
16,9%) thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với  
nhóm UTBM có cấu trúc nhú ghi nhận 8 trường  
hơp (chiếm 57,1%) (p=0,01<0,05). Khảo sát  
mối liên quan của ADH với tổn thương nhú của  
vú tính toán được tỉ suất chênh OR=6,55, có ý  
nghĩa thống kê do khoảng tin cậy 95% của OR  
nhận giá trị từ 1,89 đến 22,6 không chứa giá trị  
1. Do đó, khả năng phát triển thành UTBM có  
cấu trúc nhú của nhóm tổn thương lành tính có  
kèm ADH cao gấp 6,6 lần so với nhóm tổn  
thương lành tính không kèm tổn thương ADH.  
So sánh với các nghiên cứu trên thế giới,  
nghiên cứu của chúng tôi có kể quả tương tự với  
nghiên cứu của Page và cộng sự (1996) , ông ấy  
cũng thu được kết quả là yếu tố nguy cơ UTBM  
xâm nhập ở nữ có UNNO kèm ADH cao gấp >4  
lần so với nhóm UNNO không kèm ADH ở trong  
u nhú hoặc ở xung quanh u nhú [9]. Nghiên cứu  
của Lewis và cộng sự (2006) về phân tích nguy  
cơ ung thư vú ở những phụ nữ có UNNO đơn, đa  
ổ và kèm ADH hoặc tân sản tiểu thùy có kết luận  
rằng: Nguy cơ ung thư vú ở những bệnh nhân có  
UNNO đơn độc kèm ADH tăng gấp 5,11 lần so  
với nhóm không kèm tổn thương không điển  
hình. Nghiên cứu của Dupont (1985) cũng ghi  
nhận nguy cơ ung thư vú ở bệnh nhân có quá  
sản không điển hình cao gấp 5.3 lần so vớinhóm  
không có quá sản không điển hỉnh. Tổn thương  
quá sản không điển hình thì ngoài ADH thì còn  
DCIS cũng rất cần thiết được đánh giá. Nghiên  
cứu của chúng tôi ghi nhận 7 trường hợp tổn  
thương nhú có kèm DCIS, trong đó tỉ lệ phối hợp  
của nhóm UNNO kèm DCIS thấp hơn có ý nghĩa  
so với nhóm UTBM có cấu trúc nhú kèm DCIS  
(p=0,00<0,05). Đồng thời khảo sát hai yếu tố là  
UTBM có cấu trúc nhú với yếu tố DCIS có tỉ suất  
chênh OR=73,1 có ý nghĩa thống kê do khoảng  
tin cậy 95% từ 7,3-733,8 không chứa giá trị 1,  
như vậy nguy cơ tiến triển thành UTBM cao gấp  
rất nhiều lần (73 lần) ở nhóm UNNO kèm DCIS  
so với nhóm UNNO không kèm DCIS. Nghiên cứu  
của chúng tôi và các nghiên cứu trên thế giới  
đều đưa ra chung một kết luận rằng: UNNO có  
kèm ADH/DCIS làm tăng nguy cơ tiến triển  
thành UTBM.  
này phù hợp với một tổn thương lành tính thì chỉ  
số tăng sinh cũng thấp. Nhóm tổn thương nhú  
không điển hình có 1 trường hợp ghi nhận có chỉ  
số Ki-67 cao - trường hợp này được chẩn đoán là  
UNNO kèm DCIS. Trường hợp này ta thấy chỉ số  
Ki- 67 ngoài vai trò tiên lượng còn là yếu tố giúp  
chẩn đoán phân biệt. So sánh mức độ tăng sinh  
Ki-67 giữa các nhóm tổn thương nhú lành tính,  
không điển hình và ác tính khác biệt có ý nghĩa  
với p=0.00<0.05. Tuy nhiên, khi so sánh mức độ  
tăng sinh giữa các típ MBH trong tổn thương nhú  
ác tính thì không có sự khác biệt p=0.11>0.05.  
Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của  
Molino (1997), mức độ của chỉ số tăng sinh Ki-67  
phụ thuộc với tuổi, kích thước khối u, tình trạng  
bộc lộ của u với ER, PR còn không phụ thuộc vào  
típ MBH.  
V. KẾT LUẬN  
- Trong 7 típ MBH: UNNO là típ mô bệnh học  
có tỉ lệ cao nhất (65,8%), UNNO kèm DCIS  
(2,5%) và UTBM nhú đặc xâm nhập (1,3%) có tỉ  
lệ thấp nhất.  
- Tổn thương ADH và DCIS gặp nhiều trong  
nhóm UTBM có cấu trúc nhú hơn so với UNNO  
và khả năng phát triển thành UTBM có cấu trúc  
nhú ở nhóm có ADH cao gấp 6,5 lần so với nhóm  
không có ADH. Khả năng phát triển thành UTBM  
có cấu trúc nhú ở nhóm có DCIS cao gấp 73 lần  
so với nhóm không có DCIS.  
- Típ UNNO có chỉ số Ki-67 thấp (100%).  
Nhóm tổn thương nhú ác tính có chỉ số Ki67  
trung bình là 21.85%.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Gendler L.S., Feldman S.M., Balassanian R.  
và cộng sự. (2004). Association of breast cancer  
with papillary lesions identified at percutaneous  
image-guided breast biopsy. Am J Surg, 188(4),  
365–370.  
2. S.R L., Elis I.O, S.J S. và cộng sự. (2012),  
WHO Classification of Tumors of the Breast, IARC,  
Lyon, France.  
3. Kraus F.T. và Neubecker R.D. (1962). The  
differential diagnosis of papillary tumors of the  
breast. Cancer, 15(3), 444–455.  
4. Tokiniwa H., Horiguchi J., Takata D. và cộng  
sự. (2011). Papillary lesions of the breast  
diagnosed using core needle biopsies. Exp Ther  
Med, 2(6), 1069–1072.  
5. Bhargava, R, N.N E., và Dabbs D.J (2010).  
Immunohistology of the Breast. Diagnostic  
Immunohistochemistry: Theranostic and genomic  
application. Sauders, USA, 763–819.  
6. Fu C.-Y., Chen T.-W., Hong Z.-J. và cộng sự.  
(2012). Papillary breast lesions diagnosed by core  
biopsy require complete excision. Eur J Surg Oncol  
J Eur Soc Surg Oncol Br Assoc Surg Oncol,  
Tỉ lệ bộc lộ của chỉ số Ki-67 trong tổn thương  
nhú của vú: Trong nghiên cứu của chúng tôi, ghi  
251  
vietnam medical journal n01 - MAY - 2021  
38(11), 1029–1035.  
H.T.N. (2015). Đặc điểm giải phẫu bệnh, hóa mô  
miễn dịch trong tổn thương dạng nhú tuyến vú.  
Học TP Hồ Chí Minh, 19.  
7. Pathmanathan N., Albertini A.-F., Provan P.J.  
và cộng sự. (2010). Diagnostic evaluation of  
papillary lesions of the breast on core biopsy. Mod  
Pathol Off J U S Can Acad Pathol Inc, 23(7),  
1021–1028.  
9. Page D.L., Salhany K.E., Jensen R.A. và cộng  
sự. (1996). Subsequent breast carcinoma risk  
after biopsy with atypia in a breast papilloma.  
Cancer, 78(2), 258–266.  
8. Tạ Thị Minh Phượng, Âu Nguyệt Diệu, và Hà  
VIÊM MÀNG BỒ ĐÀO TRƯỚC CẤP TÍNH DO VIRUS  
TRÊN NGƯỜI BỆNH KHÔNG MẮC SUY GIẢM MIỄN DỊCH  
Vũ Tuấn Anh1, Hà Trung Kiên2  
Viêm màng bồ đào (VMBĐ) trước là một  
bệnh lý hay gặp nhất viêm nhiễm tổ chức nội  
nhãn, thường hay tái phát và có nhiều biến  
chứng, di chứng nặng nề, để lại hậu quả nghiêm  
trọng làm ảnh hưởng đến chức năng thị giác và  
cấu trúc nhãn cầu của người bệnh1. Việc điều trị  
VMBĐ trước hầu hết mới chỉ dừng lại ở điều trị  
triệu chứng và di chứng do không tìm được  
nguyên nhân gây bệnh rõ ràng.  
Năm 2006, các tác giả Schryver, Rozenberg,  
Casonx2 khi nghiên cứu tìm nguyên nhân trên 5  
bệnh nhân bị VMBĐ trước bằng cách lấy thủy  
dịch làm phản ứng chuỗi Polymerase (PCR) thì  
TÓM TẮT59  
Mục tiêu: mô tả bệnh cảnh lâm sàng và đối chiếu  
với kết quả xét nghiệm PCR thủy dịch của bệnh nhân  
không bị suy giảm miễn dịch mắc viêm màng bồ đào  
trước cấp tính Đối tượng và phương pháp nghiên  
cứu: nghiên cưú mô tả cắt ngang trên 30 bệnh nhân  
bị VMBĐ trước cấp tính 1 bên mắt, lấy dịch tiền phòng  
làm xét nghiêm PCR. Kết quả: 2 mắt có tăng nhãn  
áp; 100% bị đau đỏmắt; tỷ lệ Tyndall tiền phòng 2+,  
3+, 4+ lần lượt là 60%, 30%, 10% ; 6/30 ca có kết  
quả PCR dương tính với CMV tương ứng với tủa trắng,  
không có ca nào dương tính với virus khác. Kết luận:  
cần xét nghiệm thường quy PCR dịch tiền phòng trên  
bệnh nhân VMBĐ 1 mắt cấp tính để tìm nguyên nhân,  
qua đó có thể xác định phương pháp điều trị nguyên  
nhân hiệu quả.  
cả  
5
trường hợp đều dương tính với  
Từ khóa: viêm màng bồ đào trước cấp, CMV, PCR  
thủy dịch  
Cytomegalovirus (CMV). Khi có bằng chứng về  
sự có mặt của CMV nội nhãn, 1 số tác giả đã  
điều trị nguyên nhân bằng Ganciclovir tiêm nội  
nhãn cho kết quả khả quan, tỷ lệ khỏi bệnh cao,  
SUMMARY  
VIRAL ACUTE ANTERIOR UVEITIS IN  
IMMUNOCOMPETENT PATIENTS  
tỷ lệ tái phát thấp2,5,6,7  
.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này  
mục tiêu: Mô tả bệnh cảnh lâm sàng và đối  
chiếu với kết quả xét nghiệm PCR thủy dịch của  
bệnh nhân không bị suy giảm miễn dịch mắc  
viêm màng bồ đào trước cấp tính  
Purpose:  
unilateral acute  
Descibe the clinical features of  
anterior  
uveitis  
in  
the  
immunocompetent patients and comparing PCR result  
of humous aqueus sample. Materials and Methods:  
coss-sectional study, 30 eyes (30 patients) diagnosed  
of unilateral acute anterior uveitis, were taken the  
humous aqueus sample in anterior chamber to PCR  
test. Results: in 30 eyes, 2 eyes (6,7%) were  
hypertonic, 100% were circumlimbal redness; 6 eyes  
were CMV + in PCR test regarding white keratic  
precipitates and none was positive with other virus.  
Conclusions: PCR test of humous aqueus sample  
should be the routine exam for unilateral acute  
anterior uveitis in the immunocompetent patients.  
Keyword: acute anterior uveitis, CMV, humous  
aqueous PCR  
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
2.1. Đối tượng nghiên cứu. 30 bệnh nhân  
bị VMBĐ trước cấp tính 1 mắt trong 2 năm 2016-  
2017 đến khám và điều trị tại Bệnh viện Mắt  
Trung ương.  
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân: là những  
bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định VMBĐ  
trước cấp một mắt, không bị suy giảm miễn dịch.  
Tiêu chuẩn loại trừ:  
- Những người bệnh già yếu trên 75 tuổi và  
trẻ dưới 15 tuổi do khó hợp tác trong nghiên  
cứu, những người có bệnh toàn thân không cho  
phép tham gia nghiên cứu như mắc bệnh tâm  
thần, bệnh tăng huyết áp, bệnh tim mạch…  
- Người bệnh đang có tổn thương viêm, loét  
giác mạc kèm theo.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
1Bệnh viện Mắt Trung ương  
2Sở Y tế Thái Bình  
Chịu trách nhiệm chính: Vũ Tuấn Anh  
Ngày nhận bài: 9.3.2021  
Ngày phản biện khoa học: 28.4.2021  
Ngày duyệt bài: 7.5.2021  
- Viêm MBĐ thứ phát sau chấn thương đụng  
252  
pdf 5 trang yennguyen 19740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá các tổn thương nhú và một số đặc điểm lâm sàng - Giải phẫu bệnh của vú", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_cac_ton_thuong_nhu_va_mot_so_dac_diem_lam_sang_giai.pdf