Phân đoạn mạch máu trên bề mặt cổ tử cung sử dụng hình ảnh phân cực và ngưỡng Sauvola

Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kĩ thuật và Công nghệ, 3(4):523-530  
Bài Nghiên cứu  
Open Access Full Text Article  
Phân đoạn mạch máu trên bề mặt cổ tử cung sử dụng hình ảnh  
phân cực và ngưỡng Sauvola  
Phan Ngọc Khương Cát1,*, Trần Văn Tiến1, Nguyễn Ngọc Quỳnh2, Lý Anh Tú1, Từ Tuyết Dung1, Vũ Quốc Anh1  
TÓM TẮT  
Ung thư cổ tử cung là một trong hai loại ung thư phụ khoa phổ biến nhất trên thế giới, bao gồm  
ung thư vú. Dấu hiệu bệnh lý cổ tử cung, ung thư cổ tử cung thường là sự xuất hiện của các biểu  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
mô không điển hình, hiện tượng chảy máu bề mặt hoặc sự tăng sinh mạch máu bất thường. Hiện  
nay, để phát hiện các tổn thương biểu mô cũng như quan sát hình dạng mạch máu, phương pháp  
chẩn đoán chính được sử dụng là soi cổ tử cung và chẩn đoán bằng mắt thường. Phương pháp  
này có độ nhạy và độ đặc hiệu không cao bởi vẫn còn tồn tại yếu tố chủ quan và chưa phân biệt  
rõ ràng hình dạng của mạch máu tăng sinh. Do đó, để nâng cao hiệu quả trong chẩn đoán bệnh,  
gần đây nhiều nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật xử lý ảnh trong hỗ trợ tự động chẩn đoán đã trở  
thành chủ đề được quan tâm. Tuy nhiên, các nghiên cứu hỗ trợ tự động xác định hình dạng, mật  
độ mạch máu bất thường vẫn còn rất hạn chế. Trong nghiên cứu này, trước hết hình ảnh soi cổ  
tử cung được thu thập bằng mô hình thiết bị soi cổ tử cung điện tử. Các hình ảnh này được chụp  
dưới ánh sáng phân cực giúp giảm sự phản xạ (chóa) từ bề mặt và hỗ trợ cho các bước xử lý ảnh  
đạt hiệu quả tốt hơn. Sau đó, nhóm sử dụng phương pháp ngưỡng Sauvola để tách mạch máu  
trên bề mặt cổ tử cung dựa trên các phương pháp tiền xử lý khác nhau. Cuối cùng, độ nhạy và  
độ đặc hiệu của các phương pháp trên được tính toán và đánh giá. Kết quả của nghiên cứu tạo  
tiền đề trong các nghiên cứu nhận dạng mạch máu cổ tử cung, cũng như đánh giá ung thư cổ tử  
cung.  
Từ khoá: Ung thư cổ tử cung, ánh sáng phân cực, mạch máu, ngưỡng  
thường của bệnh lý CTC. Có hai dạng mạch máu cơ  
GIỚI THIỆU CHUNG  
1Khoa Khoa học ứng dụng – Trường Đại  
học Bách Khoa, ĐHQG-HCM  
2Khoa Y, Trường Đại học Nguyễn Tất  
ành  
bản xuất hiện ở biểu mô CTC bình thường hay biểu  
mô tổn thương ban đầu là mạch máu mạng lưới (Net-  
work capillaries) và dạng kẹp tóc (Hairpin capillar-  
ies)2–4. Bên cạnh đó, các dạng khác của mạch máu  
bao gồm: Dấu câu (Punctation) và Khảm (Mosaic)  
được chỉ ra tại các khu vực loạn sản hoặc ung thư biểu  
mô5,6. Sau khi sàng lọc tế bào học bất thường (Papan-  
icolaou smear), soi CTC là phương pháp chẩn đoán  
chính được sử dụng để phát hiện các tổn thương biểu  
mô và các mô hình mạch máu. Các nghiên cứu cho  
thấy quan sát hình dạng mạch máu là tiêu chí quan  
Cổ tử cung (CTC) là vị trí tiếp nối giữa âm đạo và  
tử cung, đóng vai trò như một lá chắn để ngăn chặn  
bệnh lây lan từ âm đạo đến tử cung. Có nhiều nguyên  
nhân gây ra một số các bệnh lý về CTC với nhiều mức  
độ nặng nhẹ khác nhau, đặc biệt là các bệnh lý liên  
quan đến CTC như viêm CTC, viêm lộ tuyến CTC  
hay Polyp, và nghiêm trọng nhất là căn bệnh ung thư  
CTC. eo thống kê ở Việt Nam, ung thư CTC cũng  
là một trong những loại ung thư gây tử vong hàng đầu  
cho phụ nữ, năm 2018 ghi nhận 4177 ca mắc mới và  
2420 ca tử vong1.  
Dấu hiệu bệnh lý CTC thường là sự xuất hiện của biểu  
mô không điển hình, đặc biệt có đi kèm các mô hình  
mạch máu bất thường hoặc tổn thương nội mô vảy  
cấp thấp hay cấp cao (LSIL và HSIL) tùy thuộc vào  
mức độ nghiêm trọng của các tổn thương. Mạch máu  
ở CTC được phân ra nhiều loại, dựa theo cấp độ ung  
thư hoặc tổn thương biểu mô2–4. Các tế bào ác tính  
khi phát triển sẽ kèm theo sự xuất hiện của các mạch  
máu nuôi tế bào. Quan sát sự phát triển của mô hình  
mạch máu trên bề mặt CTC cho thấy mạch máu càng  
xuất hiện dày đặc với những hình dạng không đặc thù  
Liên hệ  
Phan Ngọc Khương Cát, Khoa Khoa học  
ứng dụng – Trường Đại học Bách Khoa,  
ĐHQG-HCM  
Lịch sử  
• Ngày nhận: 22-2-2020  
• Ngày chấp nhận: 22-12-2020  
• Ngày đăng: 31-12-2020  
trọng hàng đầu trong việc đánh giá bệnh lý CTC2–6  
.
Bình thường, trong phương pháp soi CTC, kính lọc  
xanh lá được sử dụng nhằm mục đích tăng cường  
tương phản vùng mạch máu và vùng xung quanh.  
Ngày nay, với sự phát triển của máy tính, việc sử dụng  
các kỹ thuật xử lý hình ảnh để nâng cao hiệu quả sử  
dụng các thiết bị chẩn đoán đo lường bằng hình ảnh là  
một vấn đề thời sự luôn được quan tâm và phát triển  
trong lĩnh vực kỹ thuật y sinh. Phát hiện và chỉ ra đặc  
điểm hình thái của mạch máu trong hình ảnh CTC  
kỹ thuật số là rất quan trọng, từng bước hướng tới  
DOI : 10.32508/stdjet.v3i4.673  
Bản quyền  
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố  
mở được phát hành theo các điều khoản của  
the Creative Commons Attribution 4.0  
International license.  
thì khả năng cao là khu vực tập trung dấu hiệu bất phát triển hệ thống chẩn đoán hỗ trợ máy tính (CAD)  
Trích dẫn bài báo này: Cát P N K, Tiến T V, Quỳnh N N, Tú L A, Dung T T, Anh V Q. Phân đoạn mạch máu  
trên bề mặt cổ tử cung sử dụng hình ảnh phân cực và ngưỡng Sauvola. Sci. Tech. Dev. J. - Eng. Tech.;  
3(4):523-530.  
523  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kĩ thuật và Công nghệ, 3(4):523-530  
trong sàng lọc và chẩn đoán ung thư CTC7. Nhiều hơn (Hình 1). Trong đó, nguồn sáng sử dụng 3 Led  
tác giả đã đề xuất các phương pháp khác nhau để làm  
nổi bật hình dạng mạch máu từ hình ảnh soi CTC  
ban đầu. Năm 2010, nhóm Venkataraman sử dụng  
tính năng hình thái học để phát hiện các dạng mạch  
máu không điển hình trên bề mặt CTC sử dụng hình  
ảnh kỹ thuật số8. Phương pháp này hữu ích trong  
việc chẩn đoán cũng như phát hiện ung thư CTC8.  
Gần đây hơn, năm 2016, nhóm Daniel đã kết hợp  
hình ảnh từ kênh xanh lá và kênh màu bão hòa của  
ảnh trắng, sau đó sử dụng ngưỡng Niblack xác định  
mạch máu có dạng tròn trên bệnh sán máng ở cơ  
quan sinh dục nữ9. Năm 2017, nhóm Botero-Rosas  
đã tăng độ tương phản của hình ảnh soi CTC bằng  
cách điều chỉnh phổ cường độ sáng. Hình ảnh đầu  
tiên được tách ra kênh màu xanh lá cây, sau đó áp  
dụng bộ lọc Laplacian, khử ánh sáng chóa, tiếp tục lọc  
qua các bộ lọc thông thấp và cuối cùng là điều chỉnh  
cường độ sáng của từng điểm ảnh làm mô hình mạch  
máu trên hình ảnh CTC trở nên nổi bật hơn10. Các  
nghiên cứu phát hiện hình dạng mạch máu không chỉ  
được nghiên cứu trên bề mặt CTC. Như năm 2018,  
nhóm Ozkava tiến hành phân đoạn mạch máu trên  
võng mạc11. Đầu tiên, nhóm này tiến hành tách hình  
ảnh kênh xanh lá từ hình ảnh ban đầu, sau đó, áp  
dụng bộ lọc Gaussian để làm mượt, tiếp theo, bộ lọc  
sắt nét được sử dụng để làm rõ các mạch máu và bộ  
lọc Wiener hai chiều được sử dụng để loại bỏ nhiễu  
thích ứng, cuối cùng, mạch máu được phân tách theo  
ngưỡng Otsu11. Tuy nhiên, yếu tố liên quan đến chất  
lượng hình ảnh như: độ phân giải, độ chói, hiệu ứng  
chiếu sáng không đồng đều và dịch nhầy ở bề mặt  
trắng (Cree Led), kết hợp với thấu kính hội tụ chiếu  
sáng toàn vùng bề mặt CTC. Hệ camera (Amscope -  
USA) sử dụng camera có độ phân giải chuẩn 1080p,  
cho phép quay video 60 hình trên giây, cũng như chụp  
ảnh với độ phân giải 2 mega pixel kết hợp với ống kính  
có tiêu cự 22 mm (Amscope - USA). Hệ phân cực chéo  
được thiết lập với kính phân cực (P) đặt trước nguồn  
sáng, và kính phân tích (A) đặt trước camera giúp khử  
chóa sáng trên bề mặt CTC.  
Hình 1: Hệ máy soi cổ tử cung (hình trên), sơ đồ  
quang học hệ nguồn sáng và camera thu nhận (hình  
dưới): thấu kính (L), kính phân cực (P), kính phân tích  
(A), nguồn sáng (Led), và bề mặt cổ tử cung (CTC).  
CTC ảnh hưởng rất nhiều đến các thuật toán7–11  
.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng thiết bị soi  
CTC sử dụng nguồn sáng phân cực. Kỹ thuật phân  
cực chéo giúp loại bỏ hiện tượng chóa do phản xạ từ  
nước, dịch nhầy trên bề mặt, ngoài ra, ánh sáng phân  
cực còn giúp tăng độ tương phản của hình ảnh các mô  
và cấu trúc của mạch máu sâu bên trong12,13. Hình  
ảnh được thu lại có độ phân giải full hd (1920 x 1080  
pixels). Phần xử lý ảnh, nhóm ứng dụng các bộ lọc  
tiền xử lý của các nhóm đề xuất bên trên8,9, sau đó  
sử dụng ngưỡng Sauvola để phân tách mạch máu trên  
bề mặt CTC14. Các nghiên cứu ban đầu được tiến  
hành tách mạch máu trên CTC có Polyp15. Các kết  
quả phân tách mạch máu theo các phương pháp khác  
nhau được đánh giá thông qua độ nhạy và độ đặc hiệu.  
Tình nguyện viên  
Nghiên cứu các đặc trưng trên bề mặt CTC sử dụng  
máy soi CTC với: nguồn sáng vùng khả kiến (400 –  
700 nm) kết hợp kỹ thuật phân cực ánh sáng và các  
phương pháp xử lý ảnh được thông qua bởi Hội đồng  
Y Đức thuộc Đại học Quốc gia ành phố Hồ Chí  
Minh (Số 135/ĐHQG-KHCN ngày 24 tháng 01 năm  
2019). Trong nghiên cứu này, các bệnh lý thường  
gặp trên bề mặt CTC là viêm, lộ tuyến, nang polyp...  
Nguồn dữ liệu thu nhận được bao gồm hình ảnh  
trắng, và ảnh sau khi áp dụng phương pháp phết Lu-  
gol, cùng với đánh giá sơ khởi tình trạng bệnh lý bệnh  
nhân của bác sĩ. Tất cả hình ảnh thu được có độ phân  
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Thiết bị soi cổ tử cung  
Trên cơ sở của máy soi CTC truyền thống, nguồn sáng  
và hệ camera được nâng cấp để thu được hình ảnh tốt giải Full HD (1920 x 1080 pixels).  
524  
 
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kĩ thuật và Công nghệ, 3(4):523-530  
Venkataraman và cộng sự8. Cụ thể, toán tử hình  
thái là bộ lọc mũ trên (top-hat) và mũ dưới (bottom-  
hat) được kết hợp để loại bỏ chóa sáng và tăng cường  
mô hình mạch máu. Bộ lọc mũ trên xác định các  
vùng cường độ cao (sáng) trong ảnh, trong khi bộ lọc  
mũ dưới xác định các vùng cường độ thấp (tối hơn)  
chẳng hạn như các cấu trúc mạch máu. Sau khi tăng  
cường độ tương phản, mạch máu được phân tách theo  
ngưỡng Sauvola. Sơ đồ giải thuật của phương pháp  
được thể hiện ở Hình 3.  
Phương pháp xử lý ảnh  
CTC bình thường có màu hồng nhạt (biểu mô tuyến),  
trong các trường hợp như viêm, bề mặt CTC sẽ xảy  
ra hiện tượng xung huyết tạo thành các vết đỏ. Các  
vết đỏ này chính là sự tập trung của máu và tùy vào  
mức độ bệnh mà chúng có kích thước khác nhau, đôi  
khi tạo thành vệt dài hoặc phân bố rải rác trên bề mặt  
CTC. Ngoài ra, biểu hiện của mạch máu trên bề mặt  
CTC cũng là những đường đỏ, hoặt chấm đỏ trên nền  
hồng nhạt (biểu mô tuyến) hoặc nền đỏ (biểu mô trụ),  
lúc này, mạch máu có cường độ gần như tương đương  
với vùng xung quanh; diện tích mạch máu nhỏ, rất  
khó xác định hình dạng và mật độ trên bề mặt CTC.  
Để phân đoạn mạch máu, đầu tiên hình ảnh CTC  
được chụp dưới ánh sáng trắng và lưu lại theo chuẩn  
“png” gọi là ảnh trắng. Từ ảnh trắng, nhóm chọn thủ  
công vùng quan sát (ROI) và tiến hành tách ảnh để  
được ảnh kênh xanh lá. Việc tách thành ảnh kênh  
màu xanh lá sẽ cho thông tin mạch máu tốt hơn8,11  
.
Tiếp theo, nhóm tiến hành tiền xử lý nhằm tăng tương  
phản của mạch máu so với mô xung quanh với 3  
phương pháp khác nhau. Quá trình phân đoạn mạch  
máu trên nền CTC được tiến hành theo phương pháp  
ngưỡng Sauvola. Sauvola là phương pháp xác định  
ngưỡng cục bộ cải tiến từ phương pháp của Niblack,  
được thử nghiệm và cho các kết quả tốt với trường  
chiếu sáng phức tạp14. Các bước thực hiện giải thuật  
thể hiện trong Hình 2. Cuối cùng, kết quả tách mạch  
máu từ các phương pháp trên sẽ được đánh giá, so  
sánh thông qua độ nhạy và độ đặc hiệu.  
Hình 3: Sơ đồ giải thuật phương pháp tiền xử lý  
Venkataraman.  
Phương pháp thứ 2 dựa trên phương pháp tăng tương  
phản mạch máu trên bề mặt CTC do nhóm Hol-  
men đề xuất9. Với phương pháp thứ 2, nhóm đã  
tăng cường các cấu trúc mạch máu bằng cách tách  
hình ảnh màu gốc thành ”kênh màu xanh lá cây” (của  
không gian màu RGB) và ”kênh bão hòa” (của không  
gian màu HSV). Các mạch máu, xuất hiện màu đỏ  
tươi, có giá trị rất thấp ở màu xanh lá cây và do đó  
sẽ có màu tối trong kênh màu xanh lá cây. Trong khi  
đó, các mạch máu có giá trị bão hòa cao sẽ xuất hiện  
sáng trong kênh bão hòa. Nhóm tiến hành đảo ngược  
kênh màu xanh lá cây và kết hợp với kênh bão hòa cho  
hình ảnh các mạch máu có giá trị cao hơn so với hình  
ảnh ban đầu. Hình ảnh mạch máu được tách sử dụng  
ngưỡng Niblack theo đề xuất của Holmen9. Sơ đồ giải  
thuật của phương pháp được thể hiện ở Hình 4.  
Phương pháp thứ 3 (phương pháp nhóm) dựa trên  
phương pháp tăng độ tương phản của máu trên cơ  
sở hấp thụ của hemoglobin8,11. Nhóm sử dụng thuật  
toán lồng ghép 2 kênh, kênh xanh lá ứng với đỉnh hấp  
thụ và kênh đỏ ứng với vùng hấp thụ nhỏ nhất của  
hemoglobin. Bằng cách trừ kênh xanh lá với kênh đỏ,  
có thể loại trừ tác động của sự hấp thụ nền trong khi  
vẫn duy trì sự ảnh hưởng của hấp thụ hemoglobin, do  
đó mạch máu có thể quan sát rõ hơn. Sơ đồ giải thuật  
phương pháp 3 được thể hiện trong Hình 5.  
Hình 2: Sơ đồ giải thuật phân tách mạch máu trên  
bề mặt cổ tử cung.  
Phương pháp tiền xử lý đầu tiên được sử dụng trong  
nghiên cứu này là phương pháp tăng cường độ tương  
phản mô hình mạch máu so với mô xung quanh dựa  
Các chỉ số bao gồm: độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính  
trên các tính năng hình thái học, được đề xuất bởi xác được sử dụng để đánh giá vùng mạch máu phân  
525  
   
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kĩ thuật và Công nghệ, 3(4):523-530  
Hình 4: Sơ đồ giải thuật phương pháp tiền xử lý Hol-  
men.  
Hình 6: Tách ký sinh trùng sốt rét sử dụng Sauvola.  
tử cung. Hình ảnh được chụp lại sử dụng ánh sáng  
trắng kết hợp kỹ thuật phân cực ánh sáng (Hình 7a).  
Có thể thấy trên Hình 7a các vết trắng do chóa sáng  
gần như không còn, điều này ảnh hưởng rất tích cực  
đến phương pháp xử lý ảnh tiếp theo vì bề mặt CTC  
chứa nước, dịch nhầy thường gây vùng chóa rất rộng,  
làm mất mát dữ liệu bên dưới vùng chóa cũng như  
làm thay đổi ngưỡng trên hình ảnh rất lớn.  
Hình 5: Sơ đồ giải thuật phương pháp tiền xử lý 3.  
Trên Hình 7a, các mạch máu bắt đầu phát triển bên  
trên bề mặt CTC. Mục tiêu chính của nghiên cứu là  
tách mạch máu trên một số vùng của bề mặt CTC, do  
đó chúng tôi chọn vùng chứa máu là vùng quan tâm  
(ROI) (Hình 7b), các vùng khác được loại bỏ nhằm  
tránh ảnh hưởng của nhiễu. Hình 7c là hình mạch  
máu được tách bởi chuyên gia từ hình ROI; hình này  
được đưa vào để hỗ trợ đánh giá trực quan về kết  
quả của việc tách mạch máu trên bề mặt CTC với các  
phương pháp khử nhiễu khác nhau.  
Hình 8 thể hiện kết quả tăng tương phản mạch máu  
trên hình ROI (Hình 7b) và sau đó tách mạch máu.  
Trong đó Hình 8a, b là kết quả tăng tương phản  
dựa trên phương pháp của Venkataraman (phương  
pháp 1) và tách mạch máu sử dụng ngưỡng Sauvola;  
Hình 8c, d là kết quả sử dụng phương pháp tăng tương  
phản và ngưỡng Niblack của nhóm Holmen (phương  
pháp 2); và Hình 8e, f là kết quả sử dụng phương pháp  
tăng tương phản nhóm đề xuất kết hợp tách mạch  
máu sử dụng ngưỡng Sauvola (phương pháp 3). Nhìn  
trực quan, độ tương phản giữa mạch máu và nền trên  
các Hình 8a, c, e đều được tăng cường so với ảnh gốc.  
Sau khi tăng cường sự tương phản giữa mạch máu và  
nền bằng ba thuật toán trên, thì mạch máu được phân  
tách ra khỏi nền bằng ngưỡng Sauvola (phương pháp  
đoạn chồng lấp giữa thuật toán và nền16,17. Giá trị  
được xác định theo công thức:  
• Độ nhạy (sensitivity).Sn = Dương tính thật/  
(Dương tính thật+ Âm tính giả)  
• Độ đặc hiệu (Specificity).Sp = Âm tính thật/  
(Âm tính thật + Dương tính giả)  
• Độ chính xác (Accuracy).Acc = (Dương tính  
thật+ Âm tính thật)/Tổng số  
Trước tiên hình ảnh ký sinh trùng sốt rét (Hình 6a)  
được thử nghiệm để đánh giá thuật toán cũng như  
các chỉ số đánh giá. Trong đó Hình 6b là hình ảnh  
kênh xanh, Hình 6c là hình ảnh sử dụng phương pháp  
tiền sử lý của nhóm và Hình 6d là hình ảnh ký sinh  
trùng sốt rét sau khi được tách trên nền là Hình 6c sử  
dụng thuật toán Sauvola. Kết quả đánh giá thu được  
độ nhạy là 99.92 %, độ đặc hiệu là 95.30 %, độ chính  
xác là 99.79 %. Trong đó, độ nhạy và độ chính xác  
cao hơn các phương pháp đề xuất và thử nghiệm của  
nhóm Mustafa với lần lượt độ nhạy là 84,54%, và độ  
chính xác là 98,04%17, trên cùng bài toán tách ký sinh  
trùng sốt rét.  
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
Trong nghiên cứu này, nhóm sử dụng phương pháp  
ngưỡng Sauvola phân tách mạch máu trên bề mặt cổ 1, 3) và ngưỡng Niblack (phương pháp 2). Hình ảnh  
526  
     
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kĩ thuật và Công nghệ, 3(4):523-530  
Hình 7: a) Ảnh soi bề mặt CTC: (1) Âm đạo; (2) Lỗ CTC; (3) mạch máu; b) Hình ROI; c) Mạch máu được tách bởi  
chuyên gia từ hình ROI.  
phân tách mạch máu được thể hiện ở Hình 8b,d,f. Có ảnh tách mạch máu xuất hiện nhiễu nhiều. Qua đó  
thể thấy, mạch máu đã được tách ra khỏi nền thành ta có thể kết luận rằng, có sự đánh đổi giữa thông tin  
công, tuy nhiên vẫn còn nhiễu nhiều, đặc biệt trên kết hình ảnh và độ nhiễu khi tiến hành thuật toán phân  
quả của phương pháp Holmen.  
đoạn, càng giữ được nhiều thông tin thì độ nhiễu cũng  
Chất lượng của hình ảnh được phân đoạn được xác càng lớn. Điều này đặt ra thách thức trong việc cải  
định dựa trên so sánh độ tương đồng các pixel hình thiện hiệu quả thuật toán để có thể cân bằng được độ  
ảnh mạch máu phân đoạn bởi thuật toán và hình ảnh nhạy và độ đặc hiệu, giúp hình ảnh phân đoạn được  
phân đoạn bởi chuyên gia. Một số phương pháp đánh  
giá khách quan đã được tính toán để đánh giá hiệu  
suất tổng thể của các kỹ thuật phân đoạn khác nhau  
như độ chính xác, độ nhạy và độ đặc hiệu. Hiệu suất  
kết quả phân đoạn mạch máu từ cổ tử cung được  
trình bày trong Bảng 1. Từ dữ liệu trong Bảng 1, có  
chính xác với độ nhiễu thấp.  
KẾT LUẬN  
Trong phạm vi nghiên cứu này, nhóm sử dụng  
phương pháp ngưỡng Sauvola để tách mạch máu  
trên bề mặt CTC sử dụng phương pháp tiền sử lý  
thể nhận thấy độ nhạy và độ chính xác tách mạch khác nhau bao gồm phương pháp được đề xuất bởi  
máu từ phương pháp do nhóm đề xuất (độ đặc hiệu nhóm Venkataraman, Holmen và phương pháp kết  
= 92,02% và độ chính xác = 91,53%) là cao hơn so hợp kênh xanh lá và kênh đỏ trên ảnh phân cực ánh  
với nhóm Venkataraman cũng như nhóm Holmen. sáng trắng. Kết quả cho thấy, áp dụng phương pháp  
Phương pháp 2 (Holmen) cho độ đặc hiệu cao nhất Sauvola kết hợp với các phương pháp tiền xử lý khác  
nhưng đồng thời cũng cho độ nhạy thấp nhất, hình nhau đều có thể tách mạch máu, trong đó phương  
527  
 
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kĩ thuật và Công nghệ, 3(4):523-530  
Hình 8: Kết quả tăng tương phản và tách mạch máu sử dụng phương pháp 1, 2, 3  
Bảng 1: So sánh kết quả tách mạch máu dựa trên các phương pháp 1, 2, 3  
Phương pháp  
Đánh giá chất lượng hình ảnh  
Độ nhạy (%)  
89.82  
Độ đặc hiệu (%)  
Độ chính xác (%)  
89.06  
Venkataraman  
Holmen  
60.74  
90.72  
73.34  
69.49  
70.04  
Nhóm  
92.02  
91.53  
528  
   
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kĩ thuật và Công nghệ, 3(4):523-530  
pháp do nhóm đề xuất đạt độ nhạy và độ chính xác lớn  
nhất. Xác định hình dạng mạch máu, mật độ mạch  
máu, đặc biệt là các dạng bất thường như mạch máu  
dạng khảm, kẹp tóc, phân bố bất thường… có vai trò  
quan trọng trong việc đánh giá bệnh lý CTC cũng như  
tầm soát ung thư CTC. Công việc tiếp theo của nghiên  
cứu này là cần đánh giá thêm nhiều trường hợp và cải  
thiện thuật toán để có thể tách mạch máu với độ nhạy,  
độ đặc hiệu và độ chính xác cao hơn.  
4. Prendiville W, Sankaranarayanan R. Colposcopy and Treat-  
ment of Cervical Precancer. IARC Technical Publication.  
2017;(45).  
5. Li W, Poirson A. Detection and characterization of abnormal  
vascular patterns in automated cervical image analysis. Inter-  
national Symposium on Visual Computing, Springer, Berlin,  
Heidelberg. 2006;4292:627–636. Available from: https://doi.  
6. Xue Z, et al. Segmentation of mosaicism in cervicographic im-  
ages using support vector machines. Proc. SPIE 7259, Medical  
Imaging 2009: Image Processing. 2009;7259. Available from:  
7. Fernandes K, Cardoso JS, Fernandes J. Automated Methods  
for the Decision Support of Cervical Cancer Screening Using  
Digital Colposcopies. IEEE Access. 2018;6:33910–33927. Avail-  
8. Venkataraman S, et al. Methods for detection and character-  
ization of atypical vessels in cervical imagery. United States  
Patent, US 2010/0027863 A1. 2010;.  
9. Holmen S, et al. Characteristics of blood vessels in female  
genital schistosomiasis: paving the way for objective diag-  
nostics at the point of care. PLoS Neglected Tropical Diseases.  
2016;10(4). PMID: 27073857. Available from: https://doi.org/  
LỜI CẢM ƠN  
Nghiên cứu này được tài trợ bởi ĐHQG-HCM trong  
đề tài mã số C2019-20-08.  
Nhóm tác giả chân thành cảm ơn bác sĩ CK1 Nguyễn  
Long bệnh viện Từ Dũ đã có nhiều tư vấn y khoa trong  
bài viết này.  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
10. Botero-Rosas DA. A novel image processing method for  
visualizing the vascular pattern of human uterine cervix.  
Rev. Cient. General José María Córdova. 2017;15(19):291–306.  
11. Ozkaya U, et al. An efficient retinal blood vessels segmenta-  
tion using morphological operations. 2nd International Sym-  
posiumonMultidisciplinaryStudiesandInnovativeTechnolo-  
gies (ISMSIT), Ankara. 2018;p. 1–7. Available from: https://doi.  
12. Vizet J, Rehbinder J, Deby S, et al. In vivo imaging of uter-  
ine cervix with a Mueller polarimetric colposcope. Sci Rep.  
2017;7(1):2471. PMID: 28572602. Available from: https://doi.  
13. O’Doherty J, et al. Sub-epidermal imaging using polarized  
light spectroscopy for assessment of skin microcirculation.  
Skin Research and Technology. 2007;13(4):472–484. PMID:  
14. Sauvola J, Pietikainen M. Adaptive document image bina-  
rization. Pattern Recognition. 2000;33(2):225–236. Available  
15. Yang JH, et al. Factors influencing the recurrence potential of  
benign endometrial polyps after hysteroscopic polypectomy.  
PloS One. 2015;10(12). PMID: 26660149. Available from: https:  
CTC: cổ tử cung  
DN: độ nhạy  
DDH: độ đặc hiệu  
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH  
Nhóm tác giả xin cam đoan rằng không có bất kỳ xung  
đột lợi ích nào trong công bố bài báo.  
ĐÓNG GÓP CỦA TÁC GIẢ  
Phan Ngọc Khương Cát, Trần Văn Tiến tham gia vào  
việc đưa ra ý tưởng viết bài, đi thu thập dữ liệu và viết  
bản thảo.  
Từ Tuyết Dung, Vũ Quốc Anh tham gia quá trình xử  
lý số liệu.  
Nguyễn Ngọc Quỳnh, Lý Anh Tú đã đóng góp giải  
thích dữ liệu và kiểm tra, chỉnh sửa lại bài viết.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bruni L, et al. Human Papillomavirus and Related Diseases in  
Viet Nam. ICO/IARC Information Centre on HPV and Cancer.  
2019;.  
2. Kolstad P. The development of the vascular bed in tumours  
as seen in squamous-cell carcinoma of the cervix uteri. Brit.  
J. Radiol. 1965;38:216–223. PMID: 14264025. Available from:  
3. Ohri N, et al. An update on intraoral application of colposcopy.  
J Oral Maxillofac Pathol. 2014;18(3):403–410. PMID: 25948996.  
16. Altman DG, Bland JM. Diagnostic tests. 1: Sensitivity and  
specificity. BMJ (Clinical research ed.). 1994;308(6943):1552.  
17. Mustafa WA, et al. Malaria parasites segmentation based on  
sauvola algorithm modification. Malaysian Applied Biology.  
2018;47(2):71–76.  
529  
                               
Science & Technology Development Journal – Engineering and Technology, 3(4):523-530  
Research Article  
Open Access Full Text Article  
Segmentation of blood vessels in colposcopic images using  
polarized light and Sauvola thresholding  
Phan Ngoc Khuong Cat1,*, Tran Van Tien1, Nguyen Ngoc Quynh2, Ly Anh Tu1, Tu Tuyet Dung1, Vu Quoc Anh1  
ABSTRACT  
Cervical cancer is one of the two most common gynecological cancers in the world, including  
breast cancer. Signs of cervical disease are usually the presence of atypical epithelium, superficial  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
bleeding or abnormal vascular proliferation. Most of these signs are directly related to cervical in-  
traepithelial neoplasia (CIN) and cervical cancer. Currently, to detect epithelial lesions as well as to  
observe the shape of blood vessels, the main diagnostic methods used are colposcopy and visual  
examination. This method has low sensitivity and specificity because subjective factors still exist  
and the method does not clearly distinguish the shape of proliferating blood vessels. Therefore,  
in order to improve the efficiency of disease diagnosis, many studies applying image processing  
techniques to support auto-diagnosis have become topics of interest. However, studies that sup-  
port automatic identify abnormal blood vessel shape and density are very limited. In this study,  
colposcopy images were recorded by digital colposcopes. These images are taken under polarized  
light to help reduce reflections from the surface and support for better image processing steps.  
Then, Sauvola threshold method is used to separate blood vessels on the surface of the cervix. It  
is combined with three different image preprocessing methods to enhance the contrast between  
the blood and the background. Finally, the sensitivity and specificity of these methods were calcu-  
lated and evaluated. The results of the study set the stage for cervical blood vessel identification  
studies as well as cervical cancer assessment.  
1Department of Applied Physics, Faculty  
of Applied Science, Ho Chi Minh City  
University of Technology, VNU-HCM  
Key words: Cevical cancer, polarized light, vascular pattern, thresholding  
2Department of Medicine, Nguyen Tat  
anh University  
Correspondence  
Phan Ngoc Khuong Cat, Department of  
Applied Physics, Faculty of Applied  
Science, Ho Chi Minh City University of  
Technology, VNU-HCM  
Email: [email protected].vn  
Correspondence  
Tran Van Tien, Department of Applied  
Physics, Faculty of Applied Science, Ho  
Chi Minh City University of Technology,  
VNU-HCM  
History  
• Received: 22-2-2020  
• Accepted: 22-12-2020  
• Published: 31-12-2020  
DOI : 10.32508/stdjet.v3i4.673  
Copyright  
© VNU-HCM Press. This is an open-  
access article distributed under the  
terms of the Creative Commons  
Attribution 4.0 International license.  
Citethisarticle : Cat P N K, Tien T V, Quynh N N, Tu L A, Dung T T, Anh V Q. Segmentationof blood vessels  
in colposcopic images using polarized light and Sauvola thresholding. Sci. Tech. Dev. J. – Engineering  
and Technology; 3(4):523-530.  
530  
pdf 8 trang yennguyen 11480 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân đoạn mạch máu trên bề mặt cổ tử cung sử dụng hình ảnh phân cực và ngưỡng Sauvola", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_doan_mach_mau_tren_be_mat_co_tu_cung_su_dung_hinh_anh_p.pdf