Nhận thức, thái độ và hành động của cộng đồng đối với du lịch có trách nhiệm ở Kiên Hải, Kiên Giang

1
CHUYÊN MỤC  
TRIẾT HỌC - CHÍNH TRỊ HỌC - XÃ HỘI HỌC  
NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA  
CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI DU LỊCH CÓ TRÁCH NHIỆM  
Ở KIÊN HẢI, KIÊN GIANG  
NGUYỄN TRỌNG NHÂN*  
Du lịch có trách nhiệm    v   ang nhận  ược sự quan tâm của toàn cầu và sẽ  
l  xu hướng phát triển của ngành công nghiệp du lịch trong tương lai. Để phát  
triển hình thức du lịch này hiệu quả,  òi hỏi cộng  ồng phải có nhận thức, thái  
 ộ v  h nh  ộng một cách  úng  ắn. Từ dữ liệu thu thập qua phỏng vấn 123  
người dân ở huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang, bài viết phân tích nhận thức, thái  
 ộ, v  h nh  ộng  ối với du lịch có trách nhiệm;  ồng thời  ề xuất một  ố  iện  
pháp nhằm nâng cao nhận thức của cộng  ồng về du lịch có trách nhiệm ở  iểm  
 ến Kiên Hải.  
Từ khóa: cộng đồng, du lịch, du lịch có trách nhiệm, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên  
Giang  
Nhận bài ngày: 16/10/2020;  ưa v o  iên tập: 5/11/2020; phản biện: 9/12/2020;  
duyệt  ăng: 27/1/2021  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
cần đảm bảo chất lượng môi trường,  
giảm những tác động tiêu cực của du  
khách, doanh nghiệp du lịch và người  
dân địa phương; phân phối lợi ích  
công bằng hơn cho người dân địa  
phương; đảm bảo quyền lợi và hình  
thành thói quen tiêu dùng của du  
khách… ở điểm đến. Để giải quyết  
những vấn đề này, một trong những  
giải pháp đáng lưu ý là tiếp cận và  
thực hành phát triển du lịch có trách  
nhiệm.  
Trong thế kỷ XXI, nhu cầu du lịch của  
du khách và ngành công nghiệp du  
lịch tiếp tục tăng trưởng nhanh (Leslie,  
2012: ix). Đây là tín hiệu tích cực đối  
với những quốc gia, địa phương định  
hướng phát triển du lịch trở thành  
ngành kinh tế quan trọng, mũi nhọn và  
những doanh nghiệp kinh doanh dịch  
vụ du lịch. Tuy nhiên, phát triển du lịch  
* Trường Đại học Cần Thơ.  
2
NGUYỄN TRỌNG NHÂN – NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH ĐỘNG…  
Huyện Kiên Hải tỉnh Kiên Giang là một chính phủ bắt đầu quan tâm nhiều hơn  
trong những điểm du lịch hấp dẫn có  
nhiều triển vọng ở vùng Đồng bằng  
sông Cửu Long trong việc thu hút du  
khách. Sự phát triển du lịch ở Kiên  
Hải đã giải quyết nhiều việc làm và  
mang lại thu nhập cho một bộ phận  
người dân địa phương. Tuy nhiên,  
điều này cũng gây sức ép lên tài  
nguyên, môi trường... Vì vậy cần thiết  
có nhận thức, thái độ và hành động  
của cộng đồng về phát triển du lịch có  
trách nhiệm, và đó là hướng đi phù  
hợp với điều kiện đặc thù của Kiên  
Hải, đồng thời kéo dài thời gian phát  
triển du lịch của điểm đến.  
đến việc bảo vệ môi trường trước sự  
tác động của du lịch đại chúng (mass  
tourism) và kỳ vọng vào hình thức du  
lịch thay thế (alternative tourism) ít gây  
tác động tiêu cực đối với môi trường.  
Đến thập niên 70 và 80 của thể kỷ XX,  
nhiều hình thức du lịch thay thế thân  
thiện hơn với môi trường và cộng đồng  
ra đời, trong đó có du lịch có trách  
nhiệm (Leslie, 2012: 17). Du lịch có  
trách nhiệm không phải là sản phẩm  
hay nhãn hiệu du lịch mà nó thể hiện  
cách thức quy hoạch, chính sách phát  
triển du lịch đảm bảo phân phối tối ưu  
lợi ích cho cư dân, chính quyền, du  
khách và nhà đầu tư (Scheyvens, 2002;  
dẫn theo Leslie, 2012: 20). Phát triển  
du lịch có trách nhiệm nhằm bảo tồn  
môi trường tự nhiên và văn hóa của  
điểm đến, tạo ra hoạt động kinh doanh  
khả thi và những lợi ích kinh tế cho  
cộng đồng địa phương, cung cấp trải  
nghiệm du lịch chất lượng cao cho du  
khách (Spencely, 2008: xix-xx).  
Nhận thức, thái độ và hành động của  
cộng đồng có ảnh hưởng quyết định  
đến phát triển du lịch có trách nhiệm  
thành công ở điểm đến; tuy nhiên,  
hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu  
được phổ biến ở một số địa phương  
và Kiên Giang. Mục tiêu của nghiên  
cứu này là phân tích nhận thức, thái  
độ và hành động của cộng đồng đối  
với phát triển du lịch có trách nhiệm ở  
huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. Kết  
quả nghiên cứu sẽ có ích cho phát  
triển du lịch địa phương và những  
điểm đến du lịch khác ở Việt Nam  
trong việc thực thi các giải pháp nhằm  
nâng cao ý thức của cộng đồng về  
phát triển của du lịch có trách nhiệm.  
Theo Liên minh Quốc tế: Du lịch có  
trách nhiệm là bất kỳ hình thức phát  
triển hoặc hoạt động du lịch mà tôn  
trọng và bảo tồn các nguồn lực tự  
nhiên, văn hóa và xã hội lâu dài, đóng  
góp tích cực và công bằng cho sự  
phát triển và thăng hoa của những  
người sống, làm việc và dành kỳ nghỉ  
của họ ở điểm đến (dẫn theo Manente,  
Minghetti & Mingotto, 2014: 6). Hiệp  
hội Du lịch có trách nhiệm của Ý cho  
rằng: Du lịch có trách nhiệm là du lịch  
phát triển theo các nguyên tắc công  
bằng kinh tế và xã hội, tôn trọng môi  
2. PHƢƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN  
CỨU  
2.1. Khái niệm về du lịch có trách  
nhiệm  
Vào thập niên 60 của thế kỷ XX, nhiều  
nhà nghiên cứu, quản lý và tổ chức phi  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 2 (270) 2021  
3
trường và văn hóa địa phương, thừa Du lịch có trách nhiệm là một quan  
nhận vai trò trung tâm của cộng đồng điểm phát triển du lịch và nó có liên  
địa phương, hỗ trợ sự tương tác tích quan đến du lịch đạo đức, du lịch  
cực giữa ngành du lịch, cộng đồng địa xanh, du lịch giảm nghèo, du lịch bền  
phương và du khách (dẫn theo vững, du lịch sinh thái, du lịch dựa vào  
Manente, Minghetti & Mingotto, 2014:  
cộng đồng, du lịch thương mại công  
6). Từ đó, có thể hiểu du lịch có trách bằng… (Leslie, 2012: 21-24; Responsible  
nhiệm là hình thức du lịch tôn trọng và Travel Hanbook, 2006: 11-12). Điểm  
bảo tồn tài nguyên, môi trường của khác biệt quan trọng của du lịch có  
điểm đến, tạo ra những lợi ích kinh tế trách nhiệm với du lịch bền vững là du  
trực tiếp cho cộng đồng địa phương, lịch có trách nhiệm nhấn mạnh các  
đảm bảo hài hòa lợi ích của các chủ hành động nhằm khuyến khích du  
thể tham gia hoạt động du lịch và duy khách tôn trọng thiên nhiên, văn hóa  
trì sự tương tác tích cực giữa nhiều và con người, đồng thời mang lại  
bên liên quan.  
phúc lợi cho con người ở địa phương  
nơi họ viếng thăm. Trong khi đó, du  
lịch bền vững chủ yếu tập trung vào  
việc hoạch định chính sách phát triển  
và chiến lược quản lý điểm đến nhằm  
mang lại lợi ích cho nhiều bên liên  
quan (Manente, Minghetti & Mingotto,  
2014: 11).  
Theo The Cape Town Declaration (2002:  
3) đặc điểm của du lịch có trách nhiệm  
là (i) hạn chế những tác động tiêu cực  
đối với môi trường, xã hội và văn hóa;  
(ii) tạo ra lợi ích kinh tế lớn hơn cho  
người dân địa phương và nâng cao  
phúc lợi của cộng đồng địa phương  
thông qua cải thiện điều kiện làm việc  
và khả năng tiếp cận; (iii) thu hút  
người dân địa phương tham gia vào  
các quyết định ảnh hưởng đến cuộc  
sống và cơ hội; (iv) tạo ra những đóng  
góp tích cực đối với bảo tồn di sản tự  
nhiên, văn hóa và duy trì sự đa dạng  
của thế giới; (v) tạo cho du khách sự  
trải nghiệm thú vị thông qua sự kết nối  
ý nghĩa với người dân địa phương và  
sự hiểu biết những vấn đề môi trường,  
văn hóa địa phương; (vi) tạo điều kiện  
tiếp cận cho những người gặp khó  
khăn về thể chất; (vii) tôn trọng văn  
hóa giữa khách du lịch và quốc gia  
đón khách, xây dựng niềm tự hào và  
niềm tin địa phương.  
Cũng như du lịch bền vững, du lịch có  
trách nhiệm có thể mang lại lợi ích  
cho doanh nghiệp, khách hàng, người  
dân địa phương.  
Những biểu hiện của sự phát triển du  
lịch có trách nhiệm ở điểm đến là phát  
triển sản phẩm du lịch có trách nhiệm,  
truyền thông có trách nhiệm, sử dụng  
lao động có trách nhiệm, hỗ trợ điểm  
đến du lịch có trách nhiệm, quản lý du  
lịch có trách nhiệm, vận hành cơ sở  
lưu trú có trách nhiệm, điều hành cơ  
sở ăn uống có trách nhiệm, hành  
động của người dân có trách nhiệm.  
Trường hợp huyện Kiên Hải của tỉnh  
Kiên Giang, nhận thức, thái độ và  
hành động của cộng đồng đối với du  
4
NGUYỄN TRỌNG NHÂN – NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH ĐỘNG…  
lịch có trách nhiệm, tác giả tập trung dân; 46 doanh nghiệp dịch vụ du lịch -  
nghiên cứu các nội dung: nghe/biết về nhà nghỉ, khách sạn, quán ăn, nhà  
du lịch có trách nhiệm, kênh thông tin hàng, công ty du lịch, đại lý bán vé tàu;  
nghe/biết về du lịch có trách nhiệm, 16 nhân viên lao động trong ngành du  
hiểu về du lịch có trách nhiệm; hình lịch; 4 đại diện chính quyền cấp xã; 1  
thức du lịch liên quan đến du lịch có đại diện cơ quan quản lý nhà nước về  
trách nhiệm; các đối tượng chủ yếu có du lịch cấp huyện) ở 4 xã (Hòn Tre,  
được lợi ích từ du lịch có trách nhiệm, Lại Sơn, An Sơn và Nam Du). Cấu  
đối tượng phải hành động có trách trúc của bảng hỏi gồm 2 phần, phần 1  
nhiệm trong phát triển du lịch; những có 9 câu hỏi về thông tin cá nhân của  
lợi ích từ phát triển du lịch có trách đáp viên. Phần 2 có 13 đến 14 câu hỏi  
nhiệm; huyện Kiên Hải có nên phát về nhận thức, thái độ và hành động  
triển du lịch có trách nhiệm, lý do của cộng đồng ở Kiên Hải đối với du  
huyện Kiên Hải nên phát triển du lịch lịch có trách nhiệm. Thời gian phỏng  
có trách nhiệm?; những hoạt động vấn từ 22/7/2020 đến 1/8/2020. Dữ  
của cộng đồng thể hiện phát triển du liệu được mã hóa, nhập và phân tích  
lịch có trách nhiệm, tham gia hoạt trên phần mềm SPSS 16.0. Thống kê  
động tiếp cận kiến thức, kỹ năng về mô tả được sử dụng để phân tích dữ  
du lịch có trách nhiệm.  
liệu. Một số thông tin cá nhân của  
cộng đồng như Bảng 1.  
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Song song phỏng vấn bằng bảng hỏi,  
tác giả còn sử dụng nguồn dữ liệu thứ  
Dữ liệu thu thập bằng bảng hỏi từ 123  
người ở huyện Kiên Hải (56 người  
Bảng 1. Thông tin cá nhân của 123 đáp viên  
Đối tượng  
Biến  
Giới tính  
Tuổi  
Diễn giải  
Nam  
CQĐP  
4/4  
0
CQQLNNDL DNDVDL  
NVDL  
9/16  
7/16  
10/16  
3/16  
0
NDĐP  
27/56  
29/56  
13/56  
24/56  
12/56  
7/56  
1/1  
0
30/46  
16/46  
8/46  
Nữ  
21-33  
34-38  
39-46  
47-71  
0
0
1/4  
3/4  
0
0
4/46  
1/1  
0
14/46  
20/46  
26/46  
18/46  
2/46  
3/16  
6/16  
4/16  
6/16  
16/16  
0
Trình độ học Dưới THPT  
vấn/chuyên  
môn  
0
0
26/56  
24/56  
6/56  
THPT  
0
0
Trên THPT  
Kinh  
4/4  
4/4  
0
1/1  
1/1  
0
Dân tộc  
46/46  
0
54/56  
2/56  
Khmer  
Ghi chú: CQĐP (chính quyền địa phương), CQQLNNDL (cơ quan quản lý nhà nước về du  
lịch), DNDVDL (doanh nghiệp dịch vụ du lịch), NVDL (nhân viên phục vụ du lịch), NDĐP  
(người dân địa phương).  
Nguồn: Kết quả phỏng vấn cộng đồng của tác giả, 2020.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 2 (270) 2021  
5
cấp (sách, bài báo khoa học, số liệu Kiên Hải của công ty du lịch đã đóng  
thống kê) và thông tin điền dã.  
góp quan trọng cho phát triển du lịch  
ở địa phương trong thời gian qua.  
Theo Phòng Văn hóa và Thông tin  
huyện Kiên Hải (2020), từ năm 2015  
đến năm 2019, số lượt du khách đến  
địa phương không ngừng gia tăng, từ  
34.900 lượt khách năm 2015 lên  
441.659 lượt năm 2019. Du khách  
tăng dẫn đến cơ sở lưu trú cũng tăng,  
năm 2015 có 31 cơ sở lưu trú, đến  
năm 2019 là 137 cơ sở. Nhu cầu ăn  
uống, tham quan, đi lại, mua sắm của  
du khách tăng và doanh thu du lịch  
của địa phương tăng hàng năm. Năm  
2015 là 102 tỷ đồng, đến năm 2019 là  
637 tỷ đồng. Các điểm du lịch quan  
trọng ở huyện là bãi Chén (xã Hòn  
Tre), bãi Bàng, bãi Bấc, bãi Xếp, đỉnh  
Ma Thiên Lãnh, làng bè, lăng Ông  
Nam Hải (xã Lại Sơn), bãi cây Mến,  
dinh Nam Hải Ngư thần (xã An Sơn),  
bãi biển Hòn Mấu (xã Nam Du)...  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1. Khái quát về tiềm năng và thực  
trạng phát triển du lịch ở Kiên Hải  
Huyện Kiên Hải có diện tích 24,61km2,  
gồm 4 đơn vị hành chính cấp xã: Hòn  
Tre, Lại Sơn, An Sơn và Nam Du, với  
dân số 17.591 người (2019). Phần lớn  
người dân ở Kiên Hải thuộc dân tộc  
Kinh (97,78%); các dân tộc khác  
(Khmer, Hoa…) khoảng 2,22%. Sinh  
kế chính của người dân Kiên Hải nuôi  
trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản,  
sản xuất công nghiệp, kinh doanh dịch  
vụ, sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp.  
Huyện Kiên Hải có địa hình đa dạng  
và độ tương phản cao, thuận lợi cho  
việc phát triển các loại hình du lịch  
tắm biển, ngắm cảnh, nghỉ dưỡng, thể  
thao trên biển, leo núi, cắm trại…; khí  
hậu ôn hòa, nền nhiệt tương đối ổn  
định trong năm, ít bão và áp thấp nhiệt  
đới, nên thích hợp cho vui chơi, tắm  
biển, tham quan trên biển; sinh vật  
biển đa dạng nên vừa hỗ trợ cho ẩm  
thực vừa hỗ trợ cho du lịch câu cá, lặn  
ngắm cá, san hô,… Bên cạnh đó, Kiên  
3.2. Nhận thức của cộng đồng ở  
huyện Kiên Hải đối với du lịch có  
trách nhiệm  
Nhận thức của cộng đồng ở huyện  
Kiên Hải về du lịch có trách nhiệm là  
Hải sở hữu nhiều cơ sở thờ tự và sự biết và hiểu của những người đang  
nghề truyền thống, là nền tảng quan sinh sống ở Kiên Hải đối với nhiều  
trọng để khai thác loại hình du lịch văn  
hóa tâm linh, tín ngưỡng và du lịch  
làng nghề.  
khía cạnh liên quan đến du lịch có  
trách nhiệm.  
Cấp độ thấp nhất, đầu tiên nhưng  
Với thế mạnh về thiên nhiên, văn hóa cũng quyết định nhất đối với nhận  
thức của cộng đồng là biết. Khi được  
cùng sự quan tâm, đầu tư phát triển  
du lịch của chính quyền địa phương, hỏi đã từng biết về du lịch có trách  
doanh nghiệp, người dân ở Kiên Hải nhiệm chưa thì có 65 người (52,8%)  
và đặc biệt là nhu cầu đến Kiên Hải trả lời chưa biết và 58 người (47,2%)  
của du khách và việc tổ chức tour đến trả lời có biết.  
6
NGUYỄN TRỌNG NHÂN – NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH ĐỘNG…  
Hình 1. Tỷ lệ biết và chưa biết của cộng  
đồng về du lịch có trách nhiệm  
có hiểu, cộng đồng mới quan tâm và  
thực hiện du lịch có trách nhiệm một  
cách tích cực, mang lại nhiều lợi ích  
cho tài nguyên, môi trường và các bên  
liên quan. Để đo lường phần nào sự  
hiểu của cộng đồng ở Kiên Hải về du  
lịch có trách nhiệm, 1 định nghĩa về du  
lịch sinh thái, 1 định nghĩa về du lịch  
bền vững, 1 định nghĩa về du lịch có  
trách nhiệm, 1 định nghĩa về du lịch  
văn hóa được soạn thảo. Kết quả, có  
43,9  người chọn đúng định nghĩa du  
lịch có trách nhiệm. Bên cạnh những  
người nhận diện được du lịch có trách  
nhiệm, vẫn còn nhiều người chưa  
hiểu bản chất của hình thức du lịch  
này nên đã nhầm với khái niệm du lịch  
sinh thái (26,8%), du lịch văn hóa  
(20,3%) và du lịch cộng đồng (8,9%).  
Đối với nhà quản lý và lãnh đạo,  
không có đại diện của chính quyền địa  
phương cấp xã nhận diện đúng khái  
niệm của du lịch có trách nhiệm (0/4),  
trong khi đó, đại diện của cơ quan  
quản lý nhà nước về du lịch cấp  
huyện lại chọn đúng khái niệm du lịch  
có trách nhiệm (1/1). Trong những đối  
Nguồn: Kết quả phỏng vấn cộng đồng của  
tác giả, 2020.  
Với những người đã từng biết về thuật  
ngữ du lịch có trách nhiệm, khi được  
hỏi biết qua những kênh nào, thì hầu  
hết họ biết qua internet (40 người,  
chiếm 32,5%), qua truyền hình là 26  
người (21,1%), qua sách, báo và tạp  
chí, hội thảo và hội nghị, radio và  
truyền thanh địa phương (lần lượt là  
12 người - 9,8 ; 12 người - 9,8%; và  
11 người - 8,9%).  
Cộng đồng hiểu đầy đủ về bản chất,  
vai trò của du lịch có trách nhiệm có ý  
nghĩa to lớn đối với điểm đến, bởi chỉ  
Hình 2. Kênh thông tin giúp cộng đồng biết đến du lịch có trách nhiệm  
Nguồn: Kết quả phỏng vấn cộng đồng của tác giả, 2020.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 2 (270) 2021  
7
Bảng 2. Đối tượng chủ yếu có được lợi ích từ du lịch có  
trách nhiệm theo sự hiểu của cộng đồng ở Kiên Hải  
tượng được khảo sát  
(ngoài cơ quan công  
quyền), người dân  
địa phương có tỷ lệ  
trả lời đúng khái niệm  
du lịch có trách  
Đối tượng chủ yếu có được lợi ích  
Người dân địa phương  
Số ý kiến Phần trăm  
102  
62  
55  
51  
28  
15  
82,9  
50,4  
44,7  
41,5  
22,8  
12,2  
Khách du lịch  
Chính quyền địa phương  
Doanh nghiệp dịch vụ du lịch  
Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch  
Hiệp hội du lịch  
nhiệm  
cao  
nhất  
(29/56 - 51,79%), kế  
đến là doanh nghiệp  
Nguồn: Kết quả phỏng vấn cộng đồng của tác giả, 2020.  
dịch vụ du lịch (18/46  
cho thấy sự hiểu biết của cộng đồng  
ở Kiên Hải về lợi ích mang lại của du  
lịch có trách nhiệm đối với các bên  
liên quan tương đối phù hợp với lý  
-39,13%). Mặc dù được đào tạo về du  
lịch hoặc các ngành có liên quan đến  
du lịch nhưng tỷ lệ nhân viên phục vụ  
trong ngành du lịch trả lời đúng khái  
niệm du lịch có trách nhiệm thấp nhất thuyết.  
(6/16 - 37,5 ). Như vậy, tần suất  
Để phát triển du lịch có trách nhiệm,  
chọn đúng khái niệm du lịch có trách  
nhiệm theo thứ tự giảm dần là đại  
diện cơ quan quản lý nhà nước về du  
lịch, người dân địa phương, doanh  
nghiệp dịch vụ du lịch, nhân viên lao  
động trong ngành du lịch, chính quyền  
địa phương.  
đòi hỏi các bên liên quan (doanh  
nghiệp, chính quyền địa phương,  
khách du lịch, người dân địa phương,  
nhân viên phục vụ du lịch) phải hành  
động có trách nhiệm (67,5%). Tỷ lệ  
thừa nhận người dân địa phương,  
chính quyền địa phương phải hành  
động có trách nhiệm trong phát triển  
du lịch (lần lượt 22,8% và 19,5%).  
Không có nhiều người cho rằng hành  
động có trách nhiệm trong du lịch  
Với câu hỏi du lịch có trách nhiệm  
chủ yếu mang lại lợi ích cho doanh  
nghiệp dịch vụ du lịch, khách du lịch,  
người dân địa phương, có 82,9% ý  
kiến cho rằng du lịch có trách nhiệm thuộc về doanh nghiệp dịch vụ du lịch,  
chủ yếu mang lại lợi ích cho người nhân viên lao động trong ngành du  
lịch và khách du lịch (lần lượt 8,9%,  
6,5% và 6,5%). Kết quả cho thấy, bên  
cạnh nhiều người nhận diện được  
mấu chốt của vấn đề thì vẫn còn  
không ít người chưa thấy được  
nhiệm vụ tổng thể của các bên liên  
quan trong phát triển du lịch có trách  
nhiệm.  
dân địa phương. Trên 50 trường hợp  
(50,4%) thừa nhận du khách có được  
lợi ích từ sự phát triển du lịch có  
trách nhiệm. Tỷ lệ người tán thành du  
lịch có trách nhiệm mang lại lợi ích  
cho chính quyền địa phương là  
44,7%, doanh nghiệp dịch vụ du lịch  
là 41,5 , cơ quan quản lý nhà nước  
về du lịch là 22,8% và Hiệp hội Du  
lịch là 12,2% (Bảng 2). Kết quả này  
Phát triển du lịch có trách nhiệm nhằm  
thực hiện hành động có trách nhiệm  
8
NGUYỄN TRỌNG NHÂN – NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH ĐỘNG…  
Bảng 3. Hành động có trách nhiệm đối với  
những đối tượng trong phát triển du lịch  
có trách nhiệm theo sự hiểu của cộng  
đồng  
đối với thiên nhiên và văn hóa, môi  
trường, người dân địa phương, khách  
du lịch, nhân viên lao động trong  
ngành du lịch. Kết quả khảo sát của  
chúng tôi cho thấy, có 65% cho rằng  
phát triển du lịch có trách nhiệm nhằm  
thực hiện hành động có trách nhiệm  
đối với tất cả các đối tượng. Ý kiến  
cho rằng phát triển du lịch có trách  
nhiệm nhằm thực hiện hành động có  
trách nhiệm đối với môi trường, người  
dân địa phương, thiên nhiên và văn  
hóa chiếm tỷ lệ lần lượt là 22,8%,  
13% và 11,4%. Số ý kiến cho rằng  
phát triển du lịch có trách nhiệm nhằm  
thực hiện hành động có trách nhiệm  
đối với khách du lịch, nhân viên lao  
động trong ngành du lịch chỉ chiếm tỷ  
lệ lần lượt là 8,1  và 6,5 . Qua đó  
cho thấy, người dân địa phương đã  
nhận thức được trách nhiệm của phát  
triển du lịch có trách nhiệm đối với các  
đối tượng liên quan. Tuy nhiên, vẫn  
còn không ít người chưa thấy được  
tính tổng thể trách nhiệm của phát  
triển du lịch đối với nhiều đối tượng  
liên quan.  
Hành động có trách  
Số ý kiến Phần trăm  
nhiệm đối với đối tượng  
Thiên nhiên và văn hóa  
Môi trường  
14  
28  
16  
10  
8
11,4  
22,8  
13  
Người dân địa phương  
Khách du lịch  
8,1  
Nhân viên lao động  
6,5  
trong ngành du lịch  
Tất cả các đối tượng  
80  
65  
trên  
Nguồn: Kết quả phỏng vấn cộng đồng của  
tác giả, 2020.  
3.3. Thái độ và hành động của cộng  
đồng đối với du lịch có trách nhiệm  
ở huyện Kiên Hải  
Mặc dù người dân ở Kiên Hải chưa  
nhận thức đầy đủ về du lịch có trách  
nhiệm, nhưng họ thể hiện thái độ ủng  
hộ rất tích cực đối với sự phát triển du  
lịch có trách nhiệm. Với câu hỏi “Kiên  
Hải có nên phát triển du lịch có trách  
nhiệm không?” thì 100  ý kiến trả lời:  
Kiên Hải cần phát triển du lịch có trách  
nhiệm.  
Kết quả khảo sát cho thấy đa số  
người dân đều cho rằng phát triển du  
lịch có trách nhiệm sẽ bảo tồn thiên  
nhiên và văn hóa, bảo vệ môi trường,  
phát triển du lịch bền vững, tạo việc  
làm, mang lại lợi ích kinh tế cho người  
dân địa phương và doanh nghiệp, bảo  
vệ cảnh quan. Nhìn chung, nhận thức  
của cộng đồng về lợi ích của phát  
triển du lịch có trách nhiệm tương đối  
phù hợp với quan điểm chung của thế  
giới.  
Thời gian qua, cộng đồng ở Kiên Hải  
đã thực hiện nhiều hoạt động nhằm  
phát triển du lịch có trách nhiệm như:  
- Trên phương diện sản phẩm du lịch,  
các sản phẩm du lịch được khai thác  
ở Kiên Hải gồm tham quan, tìm hiểu  
biển, rừng, núi, nghề truyền thống, cơ  
sở thờ tự, sinh kế của người dân  
bằng xe gắn máy; leo núi; tắm biển; đi  
ghe, tàu trên biển; lặn ngắm san hô;  
câu cá, câu mực; bắt nhum; ẩm thực  
hải sản. Các loại hình du lịch này chủ  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 2 (270) 2021  
9
Bảng 4. Thái độ của cộng đồng đối với phát triển du lịch có trách nhiệm ở Kiên Hải  
Kiên Hải có nên phát triển du lịch có trách nhiệm không?  
Đối tượng  
Nên  
Không nên  
0%  
CQĐP  
4 người  
1 người  
100%  
100%  
100%  
100%  
100%  
100%  
0 người  
0 người  
0 người  
0 người  
0 người  
0 người  
CQQLNNDL  
DNDVDL  
NVDL  
0%  
0%  
0%  
0%  
0%  
46 người  
16 người  
56 người  
123 người  
NDĐP  
Tổng  
Ghi chú: CQĐP (chính quyền địa phương), CQQLNNDL (cơ quan quản lý nhà nước về du  
lịch), DNDVDL (doanh nghiệp dịch vụ du lịch), NVDL (nhân viên phục vụ du lịch), NDĐP  
(người dân địa phương).  
Nguồn: Kết quả phỏng vấn cộng đồng của tác giả, 2020.  
yếu được khai thác trên nền tảng phương tiện vận tải thủy trong khu  
những nguồn lực tự nhiên và văn hóa  
sẵn có, do người dân địa phương  
đứng ra tổ chức và phục vụ. Những  
loại hình du lịch trên đáp ứng được đa  
dạng nhu cầu của du khách, mang lại  
nhiều lợi ích cho cộng đồng địa  
phương và thân thiện với môi trường  
(Kết quả điền dã của tác giả, 2020).  
vực bãi tắm; xin giữ rừng sạch - xanh;  
hãy chung tay bảo vệ môi trường biển  
đảo; lặn ngắm san hô, không được bẻ  
hái, nếu bẻ hái thì sẽ bị Nhà nước  
phạt 5.000.000 đồng; không sử dụng  
đồ nhựa, túi nilon gây hại cho sức  
khỏe sinh vật; không được làm những  
điều trái với thuần phong mỹ tục của  
dân tộc Việt Nam tại các bãi tắm;  
những người mắc các chứng bệnh tim  
mạch, tâm thần, những người say  
rượu không được tắm biển; trẻ em  
dưới 13 tuổi và người không biết bơi  
khi tắm biển phải mặc áo phao, có  
người trông coi và không nên bơi quá  
xa; du khách không nên tắm biển  
riêng lẻ ở khu vực bãi biển ít người;  
không buôn bán hàng rong tại khu du  
lịch; mặc áo phao khi đi tham quan du  
lịch trên biển (Kết quả điền dã của tác  
giả, 2020).  
- Đối với truyền thông có trách nhiệm  
trong du lịch, thời gian qua, huyện  
Kiên Hải đã thực hiện một số hoạt  
động nhằm bảo vệ tài nguyên, môi  
trường và đảm bảo an ninh trật tự du  
lịch ở địa phương như thiết lập bảng  
thông tin ở những tuyến, điểm du lịch  
và đưa tin trên đài truyền thanh. Các  
thông điệp tuyên truyền điển hình như  
giữ vệ sinh bãi biển, nước biển và  
không xả rác, vứt rác bừa bãi, phải  
thu gom và đổ rác đúng nơi quy định;  
không đốt lửa tại các khu rừng khô dễ  
cháy xung quanh bãi tắm; không được  
đánh bắt hải sản, neo đậu các  
phương tiện đánh bắt hải sản và các  
- Sử dụng lao động có trách nhiệm  
trong du lịch: Phản ánh đúng thực  
trạng sử dụng lao động có trách  
10  
NGUYỄN TRỌNG NHÂN – NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH ĐỘNG…  
nhiệm hay không ở địa phương là - Quản lý du lịch có trách nhiệm: Theo  
doanh nghiệp dịch vụ du lịch. Qua sự phản hồi của chính quyền địa  
khảo sát 46 doanh nghiệp ở Kiên Hải, phương và cơ quan quản lý nhà nước  
91,3% cho rằng họ không sử dụng lao về du lịch, để phát triển du lịch có  
động trẻ em; có 87% doanh nghiệp ưu trách nhiệm, thời gian qua, địa  
tiên sử dụng lao động địa phương và phương có những hoạt động quản lý  
82,6% doanh nghiệp trả lương cho như gặp gỡ doanh nghiệp và hướng  
nhân viên ở mức tối thiểu hoặc cao dẫn, hỗ trợ hoạt động kinh doanh của  
hơn mức quy định của nhà nước. họ; tạo môi trường cạnh tranh lành  
Không phân biệt đối xử đối với nhân mạnh, bình đẳng cho các doanh  
viên và đảm bảo môi trường làm việc nghiệp kinh doanh du lịch; khuyến  
vệ sinh và an toàn cho nhân viên khích doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo,  
được 78,3% và 73,9% doanh nghiệp đa dạng hóa các loại hình, sản phẩm  
chọn. Trong khi đó, có tiền thưởng và du lịch phù hợp với đặc thù biển đảo;  
những ưu đãi khác cho nhân viên, có tạo điều kiện thuận lợi để người dân  
hợp đồng lao động với nhân viên, trực tiếp tham gia kinh doanh và  
tuyển dụng theo quy trình (xây dựng hưởng lợi từ du lịch; mở 20 lớp tập  
bản mô tả vị trí công việc, đăng thông huấn, đào tạo nghề du lịch tại các xã;  
tin tuyển dụng, áp dụng các tiêu chí triển khai ứng dụng công nghệ thông  
để tuyển dụng), cung cấp chương tin trong quản lý lưu trú du lịch; để các  
trình đào tạo kỹ năng phù hợp với việc cơ sở lưu trú tự quyết định giá phòng  
làm cho nhân viên được rất ít doanh theo cơ chế thị trường dựa trên chất  
nghiệp chọn (26,1%, 8,7%, 4,3%, 0%,  
tương ứng).  
lượng sản phẩm, dịch vụ nhưng phải  
niêm yết công khai và đăng ký giá với  
cơ quan thuế; hướng dẫn các tổ chức,  
cá nhân kinh doanh du lịch đảm bảo  
môi trường du lịch an toàn, chất lượng  
và thân thiện; giải quyết triệt để tình  
trạng cò mồi, lôi kéo khách; tổ chức  
14 đợt kiểm tra về đảm bảo vệ sinh an  
toàn thực phẩm trên địa bàn huyện;  
tuyên truyền người dân giữ gìn an  
ninh trật tự và bảo vệ san hô, môi  
trường, văn hóa và phát triển du lịch  
theo hướng xanh, bền vững.  
- Hỗ trợ điểm đến du lịch có trách  
nhiệm: Khảo sát 46 doanh nghiệp dịch  
vụ du lịch ở Kiên Hải cho thấy, ý kiến  
được nhiều doanh nghiệp chọn nhất  
là sử dụng lao động địa phương  
(65,2%); 56,5% doanh nghiệp cho  
rằng họ sử dụng hàng hóa và vật liệu  
ở địa phương; 52,2% chi trả thỏa  
đáng cho hàng hóa của nhà cung cấp  
ở địa phương. Việc cung cấp kinh phí  
cho hoạt động bảo vệ môi trường và  
bảo tồn tài nguyên, hỗ trợ đào tạo  
nguồn nhân lực du lịch của địa  
phương ít được doanh nghiệp thực  
hiện (21,7  và 17,4 , tương ứng).  
- Vận hành cơ sở lưu trú có trách  
nhiệm: Khảo sát nhiều cơ sở lưu trú ở  
Kiên Hải, chúng tôi nhận thấy, chủ cơ  
sở đã có quan tâm đến việc khuyến  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 2 (270) 2021  
11  
khích du khách sử dụng tiết kiệm điện chính quyền địa phương tổ chức. Điều  
và giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường này được minh chứng bởi có đến  
thông qua bảng nội quy, bảng hoặc tờ 85,4% số người cho rằng họ chưa  
giấy dán tường với các thông điệp từng được tham gia lớp, khóa tập  
như “vui lòng tắt hết thiết bị điện khi ra huấn về lĩnh vực này. Chỉ 14,6% số  
khỏi phòng”; “vui lòng rút thẻ chìa người trả lời từng được tiếp cận về du  
khóa ra khỏi ổ điện khi ra khỏi phòng”; lịch có trách nhiệm thông qua lớp tập  
“xin quý khách giữ vệ sinh chung”; huấn và hội thảo. Theo cộng đồng,  
“không hút thuốc trên giường ngủ”; năm 2015, Dự án Chương trình Phát  
“vui lòng không vứt rác xuống biển”; triển Năng lực Du lịch có trách nhiệm  
không mang chai nhựa, hộp nhựa, túi với môi trường và xã hội tổ chức khóa  
nilon xuống bãi tắm…  
tập huấn kinh doanh lưu trú tại nhà  
cho 35 hộ kinh doanh trên địa bàn xã  
Hòn Tre, Lại Sơn, An Sơn và Nam Du;  
Hiệp hội Du lịch Việt Nam phối hợp  
với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch  
Kiên Giang tổ chức khóa tập huấn  
Marketing Du lịch có trách nhiệm cho  
các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ  
trong tỉnh (một số người ở Kiên Hải  
tham gia khóa tập huấn này).  
- Điều hành cơ sở ăn uống có trách  
nhiệm: Điều hành cơ sở ăn uống có  
trách nhiệm ở Kiên Hải thể hiện qua  
việc mua sản phẩm thực phẩm được  
canh tác không trái đạo đức (87%) và  
được trồng tại địa phương (60,9 ),  
sử dụng lao động địa phương (65,2 )  
của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, trên  
52,2% doanh nghiệp thừa nhận chi trả  
thỏa đáng cho hàng hóa của nhà cung  
cấp địa phương.  
4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
Du lịch có trách nhiệm sẽ là xu thế  
- Hành động của người dân có trách phát triển của ngành du lịch ở tương  
lai, hướng đến phát triển du lịch bền  
vững của điểm đến, đảm bảo lợi ích  
nhiệm: Với câu hỏi “Anh/chị làm gì để  
hỗ trợ phát triển du lịch có trách nhiệm  
ở Kiên Hải”, chúng tôi nhận được tần cho cộng đồng và bảo tồn môi trường  
tự nhiên, văn hóa và xã hội. Huyện  
Kiên Hải là điểm đến du lịch mới nổi ở  
tỉnh Kiên Giang nhưng sẽ là điểm đến  
có nhiều triển vọng trong việc thu hút  
du khách đến vùng biển Tây Nam của  
Việt Nam. Là một phần của khu dự trữ  
sinh quyển thế giới, cùng những điều  
kiện đặc thù, Kiên Hải nên phát triển  
du lịch có trách nhiệm.  
suất trả lời như sau: thân thiện với du  
khách: 78,6%, không chặt chém du  
khách: 78,6%, không vứt rác bừa bãi:  
75%, không chèo kéo du khách:  
64,3%, không khai thác quá mức sinh  
vật biển: 60,7%, không khai thác  
những loài sinh vật quý hiếm: 60,7%.  
Đến nay, cộng đồng ở Kiên Hải chưa  
có nhiều cơ hội để tham gia những  
hoạt động tiếp cận kiến thức và kỹ  
năng về du lịch có trách nhiệm do cơ  
quan quản lý nhà nước về du lịch và  
Nhận thức tốt sẽ dẫn đến thái độ và  
hành động phù hợp đối với du lịch có  
trách nhiệm một cách lâu dài. Do ít  
12  
NGUYỄN TRỌNG NHÂN – NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH ĐỘNG…  
tiếp cận với thông tin nên nhiều người liên quan những nội dung cốt lõi của  
ở Kiên Hải chưa từng nghe về thuật du lịch có trách nhiệm, bên cạnh đó,  
ngữ du lịch có trách nhiệm và nhầm cần tiếp tục mở những khóa tập huấn  
lẫn với khái niệm du lịch sinh thái, du về kiến thức du lịch có trách nhiệm và  
lịch văn hóa, du lịch cộng đồng. Tuy kinh nghiệm phát triển du lịch có trách  
nhiên, phần lớn cộng đồng ở Kiên nhiệm cho cộng đồng. Ngoài ra, ban  
Hải nhận diện được lợi ích và đối hành bộ quy tắc ứng xử, tăng cường  
tượng có được lợi ích từ phát triển du hoạt động diễn giải (bảng nội quy,  
lịch có trách nhiệm. Bên cạnh đó, họ bảng thông tin) ở điểm đến cũng là  
cũng xác định được các đối tượng có một trong những biện pháp hiệu quả  
trách nhiệm trong phát triển du lịch có để nâng cao nậng thức của cộng đồng  
trách nhiệm. Ngoài ra, cộng đồng ở về du lịch có trách nhiệm.  
Kiên Hải thể hiện thái độ rất tích cực  
Để tạo sự chuyển biến tích cực về  
đối với phát triển du lịch có trách  
nhận thức, thái độ và hành động đối  
nhiệm ở địa phương. Thời gian qua,  
với du lịch có trách nhiệm của cộng  
cộng đồng ở Kiên Hải đã thực hiện  
đồng ở Kiên Hải một cách căn cơ, đòi  
nhiều hoạt động hỗ trợ tốt cho phát  
hỏi chính quyền địa phương, cơ quan  
triển du lịch có trách nhiệm ở địa  
quản lý nhà nước về du lịch, doanh  
phương.  
nghiệp dịch vụ du lịch cần tiên phong  
Để nâng cao nhận thức của cộng trong việc tiếp nhận kiến thức, chỉ đạo,  
đồng ở Kiên Hải về du lịch có trách hành động và hướng dẫn để tạo sức  
nhiệm, địa phương nên đẩy mạnh lan tỏa mạnh hơn đối với người dân  
hoạt động tuyên truyền đến các bên địa phương và du khách.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Leslie, David. 2012. Responsible Tourism: Concepts, Theory and Practice.  
Oxfordshire: CABI Publishing House.  
2. Manente, Mara; Mingetti, Valeria and Mingotto, Erica. 2014. Responsible Tourism and  
CSR. London: Springer International Publisher.  
3. Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Kiên Hải. 2020.  
5. Spencely, Anna. 2008. Responsible Tourism. London: Earthscan Publisher.  
6. The Cape Town Declaration. 2002. International Conference on Responsible Tourism  
declaration-on-responsible-tourism/, truy cập ngày 4/7/2020.  
pdf 12 trang yennguyen 19420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhận thức, thái độ và hành động của cộng đồng đối với du lịch có trách nhiệm ở Kiên Hải, Kiên Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhan_thuc_thai_do_va_hanh_dong_cua_cong_dong_doi_voi_du_lich.pdf