Một số lưu ý áp dụng Nghị định 05 về kiểm toán nội bộ tại Việt Nam
Mạn Đình
Học viện Ngân hàng
Ngày nhận: 26/02/2021
Ngày nhận bản sửa: 31/03/2021
Ngày duyệt đăng: 22/04/2021
Tóm tắt: Sau 24 tháng chuẩn bị cho triển khai qui định tại Nghị định 05/2019/NĐ-
CP về kiểm toán nội bộ (sau đây gọi là Nghị định 05), ngày 01/4/2021 là thời điểm
áp dụng kiểm toán nội bộ (KTNB) bắt buộc đối với các cơ quan Nhà nước, đơn vị
sự nghiệp công lập và các doanh nghiệp. Dựa trên tổng quan một số qui định liên
quan đến KTNB tại các tổ chức, doanh nghiệp ở Việt Nam thời gian qua, bài viết
phân tích và chỉ ra các vấn đề cần lưu ý về các đối tượng bắt buộc áp dụng KTNB,
các tiêu chuẩn của kiểm toán viên nội bộ và làm rõ phương pháp kiểm toán theo
định hướng rủi ro được qui định tại Nghị định 05.
Từ khóa: Kiểm toán nội bộ, Nghị định 05/NĐ-CP, định hướng rủi ro, Việt Nam.
1. Giới thiệu
và thực tiễn. Xuất hiện khá muộn so
với các loại hình kiểm toán độc lập và
kiểm toán nhà nước, nhưng KTNB đã
ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng
đối với sự phát triển của một tổ chức,
Vào những năm 40 của thế kỷ 20, KTNB
(Internal Audit) bắt đầu hình thành và
phát triển trên thế giới cả về lý thuyết
Some major points about internal audit in Decree 05 / ND-CP
Abstract: After 24 months of preparation for the implementation of the provisions of Decree 05/2019
/ ND-CP on Internal Audit (hereinafter referred to as Decree 05), from April 1, 2021 the application of
internal audit (IA) is required for state agencies, public service agencies and enterprises. Based on an
overview of recent regulations related to Internal Audit in organizations and enterprises in Vietnam,
the article analyzes and points out notable issues for the parties subject to the IA requirement, the
standards of internal auditors and clarification of the risk-oriented audit methodology stipulated in
Decree 05.
Keywords: Internal Audit, Decree 05 / ND-CP, risk orientation, Vietnam.
Man Dinh
Email: thuybt@hvnh.edu.vn
Banking Academy of Vietnam
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
Số 227- Tháng 4. 2021
© Học viện Ngân hàng
65
ISSN 1859 - 011X
Một số lưu ý áp dụng Nghị định 05 về kiểm toán nội bộ tại Việt Nam
Hình 1. Mô hình 3 tuyến trong quản trị tổ chức
Nguồn: IIA (2017)
đơn vị, doanh nghiệp (DN), công ty… (sau
đây gọi chung là tổ chức). Nhiệm vụ của
KTNB thay đổi, đơn thuần từ yêu cầu kiểm
tra, phát hiện và ngăn ngừa gian lận trong
hoạt động của tổ chức, đã mở rộng vai trò
sang tư vấn hoạt động và quản trị tổ chức.
KTNB có sứ mệnh nâng cao và bảo vệ các
giá trị của tổ chức, thông qua việc cung cấp
sự bảo đảm, tư vấn độc lập, khách quan
nhằm gia tăng giá trị và cải thiện hoạt động.
KTNB được coi là một chức năng đánh giá
độc lập bên trong tổ chức, hỗ trợ tổ chức
đạt được các mục tiêu đặt ra.
Theo Khung Chuẩn mực quốc tế về hành
nghề KTNB chuyên nghiệp (International
Professional Practices Framework - IPPF)
do Hiệp hội KTNB Hoa Kỳ (The Institute
of Internal Auditors - IIA) ban hành, “hoạt
động KTNB là hoạt động kiểm toán và tư
vấn độc lập, khách quan nhằm gia tăng giá
trị và cải thiện hoạt động cho tổ chức. KTNB
hỗ trợ tổ chức đạt được các mục tiêu thông
qua việc đánh giá và cải thiện sự hiệu quả
của các qui trình quản trị, quản lý rủi ro và
kiểm soát bằng một cách tiếp cận hệ thống
và có nguyên tắc chặt chẽ” (IIA, 2017).
Trong quản trị tổ chức hiệu quả cần có 3
tuyến phòng thủ (three line of defense), nay
gọi là mô hình 3 tuyến (three line model),
mà về bản chất không thay đổi các tuyến
kiểm soát rủi ro trong quản trị tổ chức,
phản ánh sự tương tác đa chiều, nhấn mạnh
KTNB không chỉ có vai trò phòng thủ, mà
còn gia tăng giá trị cho tổ chức. KTNB là
lớp kiểm soát thứ ba, độc lập với 2 lớp còn
lại, trong đó lớp kiểm soát thứ nhất được
thực hiện bởi nhà quản lý, các vị trí lãnh
đạo và nhân viên trực tiếp thực hiện nghiệp
vụ; và lớp kiểm soát thứ hai thông qua ban
hành các qui định, chính sách kiểm soát
(Hình 1).
- Tuyến thứ nhất- các kiểm soát nội bộ
thuộc Nhóm sở hữu rủi ro, quản lý rủi ro và
kiểm soát (Ban điều hành/giám đốc): Đánh
giá, khoanh vùng, đo lường, đề ra và thực
hiện các biện pháp kiểm soát nhằm giảm
thiểu rủi ro ở cấp quản trị vận hành.
- Tuyến thứ hai- Quản lý rủi ro thuộc Nhóm
giám sát rủi ro và kiểm soát hỗ trợ Ban
điều hành (Quản lý cấp cao); Xây dựng
các kênh liên lạc và đánh giá bên trong nội
bộ bao gồm các phòng ban: Kiểm soát tài
chính, an ninh, quản lý rủi ro, quản lý chất
lượng, điều tra, pháp chế.
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 227- Tháng 4. 2021
66
MẠN ĐÌNH
- Tuyến thứ ba- KTNB thuộc Nhóm cung
cấp sự đảm bảo và tư vấn độc lập về tính
hiệu lực, hiệu quả trong quản lý rủi ro và
kiểm soát.
kiểm soát nội bộ; b) Kiểm tra và xác nhận
chất lượng, độ tin cậy của thông tin kinh
tế, tài chính của báo cáo tài chính, báo cáo
kế toán quản trị trước khi trình ký duyệt;
c) Kiểm tra việc tuân thủ nguyên tắc hoạt
động, quản lý, việc tuân thủ pháp luật,
chế độ tài chính, kế toán, chính sách, nghị
quyết, quyết định của lãnh đạo đơn vị kế
toán; d) Phát hiện những sơ hở, yếu kém,
gian lận trong quản lý, bảo vệ tài sản của
đơn vị; đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến,
hoàn thiện hệ thống quản lý, điều hành hoạt
động của đơn vị kế toán.
- Nghị định 05/2019/NĐ-CP ban hành
ngày 20/01/2019, chính thức qui định các
vấn đề cốt lõi của KTNB, theo đó, tại Điều
4 Mục tiêu của KTNB nêu “thông qua các
hoạt động kiểm tra, đánh giá và tư vấn,
KTNB đưa ra các đảm bảo mang tính độc
lập, khách quan và các khuyến nghị về các
nội dung:
Sự phối hợp theo mô hình này giúp tổ chức
giảm thiểu khoảng trống, tránh sự trùng
lặp trong 3 tuyến kiểm soát. Phân biệt giữa
KTNB với 2 tuyến phòng thủ còn lại chính
là tính độc lập cao về mặt tổ chức. Cùng
với các tiêu chuẩn khắt khe về đạo đức
nghề nghiệp, tính độc lập giúp ý kiến của
KTNB về quản trị, rủi ro và kiểm soát sẽ
bảo đảm tính chuyên môn, khách quan và
tin cậy. KTNB không có trách nhiệm thiết
kế và thực hiện các thủ tục kiểm soát cũng
như vận hành hoạt động kinh doanh của tổ
chức. Và sự độc lập của KTNB càng cao
nếu KTNB được trao quyền thực hiện các
chức năng kiểm toán cũng như báo cáo kết
quả kiểm toán tới cấp cao nhất của tổ chức.
2. Các qui định pháp lý về kiểm toán nội
bộ hiện nay tại Việt Nam
(1) Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị
đã được thiết lập và vận hành một cách phù
hợp nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý các
rủi ro của đơn vị.
(2) Các quy trình quản trị và quy trình quản
lý rủi ro của đơn vị đảm bảo tính hiệu quả
và có hiệu suất cao.
(3) Các mục tiêu hoạt động và các mục tiêu
chiến lược, kế hoạch và nhiệm vụ công tác
mà đơn vị đạt được”.
Bên cạnh đó, để triển khai Nghị định 05,
ngày 10/7/2020, Bộ trưởng Bộ Tài chính
đã ban hành Quy chế mẫu Số 67/2020/TT-
BTC về KTNB, là cơ sở cho các cơ quan
nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập tham
chiếu trong việc xây dựng Quy chế kiểm
toán nội bộ của đơn vị.
Hoạt động KTNB quốc tế tuân thủ theo các
văn bản quan trọng như Chuẩn mực về thực
hành nghề nghiệp của KTNB (IIA), Khung
thực hành nghề nghiệp quốc tế về KTNB
(IPPF), Khung kiểm soát nội bộ theo chuẩn
COSO, Khung quản trị rủi ro DN (ERM)…
Trong đó, Chuẩn mực về thực hành nghề
nghiệp của KTNB và Khung thực hành nghề
nghiệp quốc tế về KTNB được áp dụng rộng
rãi trên thế giới, là cơ sở để ban hành các qui
định, hướng dẫn tại các quốc gia.
Tại Việt Nam hiện nay, KTNB được qui
định tại một số văn bản gồm:
- Luật Kế toán 88/2015/QH13 ngày
20/11/2015, nêu định nghĩa và nhiệm vụ
của KTNB tại Điều 39, theo đó KTNB là
việc kiểm tra, đánh giá, giám sát tính đầy
đủ, thích hợp và tính hữu hiệu của kiểm
soát nội bộ; có nhiệm vụ: a) Kiểm tra tính
phù hợp, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống
- Thông tư 08/2021/TT-BTC cũng
vừa được Bộ Tài chính ban hành ngày
25/01/2021 (sau đây gọi tắt là Thông tư 08)
qui định về Chuẩn mực KTNB Việt Nam và
các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp KTNB.
Chuẩn mực được áp dụng cho người làm
Số 227- Tháng 4. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
67
Một số lưu ý áp dụng Nghị định 05 về kiểm toán nội bộ tại Việt Nam
công tác KTNB và bộ phận KTNB. Mục
đích của Bộ chuẩn mực là: (1) Đưa ra một
khung quy định để thực hiện và thúc đẩy
hoạt động KTNB tạo ra giá trị gia tăng cho
đơn vị; (2) Thiết lập cơ sở để đánh giá hoạt
động KTNB; (3) Khích lệ các quy trình và
hoạt động đã được cải tiến của đơn vị.
Nghị định 05 và các thông tư hướng dẫn
được coi là bước tiến quan trọng, lần đầu
tiên xác định rõ, đầy đủ vai trò của KTNB
tại Việt Nam. Các qui định và Bộ chuẩn
mực về KTNB của Việt Nam được đánh
giá đã bám sát các qui định tại Khung
chuẩn mực quốc tế về hành nghề KTNB
chuyên nghiệp (International Professional
Practices Framework- IPPF) do Hiệp
hội KTNB Hoa Kỳ (Institute of Internal
Auditors- IIA) nghiên cứu soạn thảo từ
tháng 11/2013, chính thức phát hành và có
hiệu lực từ tháng 01/20171.
Ngoài ra, tại Việt Nam, theo yêu cầu quản
trị trong từng ngành, từng lĩnh vực, các qui
định KTNB cũng được ban hành riêng trước
đó. Đối với ngành Ngân hàng, KTNB được
qui định tại Thông tư 13/2018/TT-NHNN,
ban hành ngày 8/5/2018, về Hệ thống kiểm
soát nội bộ của ngân hàng thương mại, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo đó,
Điều 6 nêu KTNB được coi là Tuyến bảo vệ
thứ ba có chức năng KTNB theo quy định
tại Luật Các tổ chức tín dụng và qui định
của Thông tư này. Trong lĩnh vực chứng
khoán là Thông tư số 210/2012/TT-BTC
ngày 3/11/2012 qui định việc thành lập và
hoạt động của công ty chứng khoán tại Việt
Nam, theo đó, Điều 36 qui định các CTCK
phải thiết lập bộ phận KTNB, có vị trí trực
thuộc Hội đồng quản trị (Hội đồng thành
viên). Điều 36 của Thông tư cũng qui định
rõ chức năng, nhiệm vụ và các nguyên tắc
hoạt động và yêu cầu về nhân sự KTNB.
Đối với lĩnh vực bảo hiểm và công ty quản
lý quĩ, KTNB được qui định tại Nghị định
số 73/2016/NĐ-CP của Chính phủ ban
hành ngày 01/7/2016 hướng dẫn Luật Kinh
doanh bảo hiểm; Thông tư số 212/2012/
TT-BTC ngày 05/12/2012 về hướng dẫn
về thành lập, tổ chức và hoạt động công ty
quản lý quỹ.
3. Một số lưu ý về Nghị định 05 về kiểm
toán nội bộ
Theo Nghị định 05, các đối tượng áp dụng
KTNB bắt buộc đã được mở rộng, bao gồm
các tổ chức, DN thuộc khu vực Nhà nước
và khu vực tư, trong khi trước đây chỉ bắt
buộc đối với các lĩnh vực như ngân hàng,
chứng khoán (các công ty chứng khoán),
bảo hiểm. Tại Điều 2 và Điều 8, Nghị định
05 qui định KTNB bắt buộc đối với 3 nhóm
đối tượng là cơ quan Nhà nước, đơn vị sự
nghiệp công lập và các DN, cụ thể:
Nhóm 1. Các cơ quan Nhà nước, gồm: các
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương; các cơ quan chuyên
môn và các đơn vị sự nghiệp trực thuộc
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Tại Điều 8 Nghị định cũng nêu rõ: Bộ, cơ
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
phải thực hiện công tác KTNB tại bộ, cơ
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
và các đơn vị trực thuộc bao gồm cả đơn
vị sự nghiệp trực thuộc bộ, cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Ủy ban nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
phải thực hiện công tác KTNB tại Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương; các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
1 IPPF được chia thành 2 phần, gồm (1) các Qui định bắt
buộc thực hiện (các qui định thuộc tính): Các nguyên
tắc chính trong hoạt động của KTNB; Định nghĩa hoạt
động KTNB; Qui tắc đạo đức nghề nghiệp và Chuẩn
mực Quốc tế về hành nghề KTNB chuyên nghiệp; và
(2) các hướng dẫn thực hành (không bắt buộc thực
hiện nhưng được IIA khuyến nghị áp dụng): Bộ hướng
dẫn thực hiện Chuẩn mực và Bộ hướng dẫn bổ sung
(IIA, 2013).
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 227- Tháng 4. 2021
68
MẠN ĐÌNH
trung ương và các đơn vị sự nghiệp trực
thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương; và lưu ý là “Việc thực
hiện công tác KTNB ở các đơn vị nêu tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này phải đảm
bảo nguyên tắc không tăng biên chế, không
phát sinh đầu mối mới”.
Nhóm 2. Đơn vị sự nghiệp công lập. Theo
đó tại Điều 8, Nghị định 05 qui định rõ
thực hiện KTNB đối với các đơn vị tự
đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư,
đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi
thường xuyên: có tổng quỹ tiền lương, phụ
cấp và các khoản đóng góp theo lương của
số người lao động hiện có trong một năm
từ 20 tỷ đồng trở lên hoặc sử dụng từ 200
người lao động trở lên.
Nhóm 3. Các DN: Công ty niêm yết; DN
mà nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều
lệ, là công ty mẹ hoạt động theo mô hình
công ty mẹ - công ty con và DN nhà nước
là công ty mẹ hoạt động theo mô hình công
ty mẹ- công ty con.
Như vậy, lưu ý riêng đối với khối DN, có
2 đối tượng bắt buộc áp dụng KTNB đó là:
(1) Công ty niêm yết;
các nguyên tắc cơ bản của KTNB và các
yêu cầu nhằm đảm bảo tuân thủ các nguyên
tắc cơ bản của KTNB quy định tại Điều 5,
Điều 6 Nghị định 05. Việc đi thuê thực hiện
KTNB của các DN thuộc Bộ Quốc phòng,
Bộ Công an thực hiện theo quy định của
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ
Công an. Nghị định 05 qui định, các tổ
chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt
động KTNB được hiểu là các tổ chức thực
hiện hoặc cung cấp các dịch vụ KTNB.
Tại Điều 2 Nghị định 05 qui định, đối với
các đối tượng mà pháp luật chuyên ngành
có qui định về KTNB thì thực hiện theo
pháp luật chuyên ngành, như các công ty
chứng khoán, lĩnh vực bảo hiểm, các tổ
chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước sẽ
thực hiện theo Luật Chứng khoán, Luật
Bảo hiểm, Luật Các Tổ chức tín dụng, Luật
Ngân hàng Nhà nước và các văn bản hướng
dẫn Luật liên quan.
Về vấn đề xử phạt, Nghị định 05 chưa qui
định các hình thức xử phạt nếu vi phạm
qui định về KTNB bắt buộc. Tuy nhiên qui
định xử phạt đã được qui định tại các văn
bản pháp lý liên quan.
(2) DN mà Nhà nước sở hữu trên 50% vốn
điều lệ là công ty mẹ hoạt động theo mô
hình công ty mẹ- công ty con.
Đối với việc lựa chọn dịch vụ thuê ngoài
về KTNB, tại Điều 53, Nghị định 41/2018/
NĐ-CP, mức phạt hành vi vi phạm quy
định về lựa chọn DN kiểm toán, kiểm toán
viên hành nghề thực hiện kiểm toán, với
mức phạt từ 20 triệu đồng đến 50 triệu
đồng nếu thuê DN kiểm toán cung cấp dịch
vụ KTNB không bảo đảm qui định.
Đối với một số ngành đặc thù như ngân
hàng, tổ chức tín dụng, bảo hiểm, kinh
doanh chứng khoán, cũng đã có chế tài xử
lý vi phạm riêng. Cụ thể:
- Đối với ngân hàng, tổ chức tín dụng, Điều
8, Nghị định 88/2019/NĐ-CP (hiệu lực từ
ngày 31/12/2019) quy định về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và
ngân hàng, như: Phạt tiền từ 80.000.000
đồng đến 150.000.000 đồng đối với một
Mặc dù KTNB được khuyến khích áp dụng
đối với mọi DN, tuy nhiên Nghị định 05
mới qui định bắt buộc đối với: khối DN
mà Nhà nước sở hữu trên 50% vốn là công
ty mẹ hoạt động theo mô hình công ty
mẹ- công ty con; và các công ty niêm yết
trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh (các công ty có cổ
phiếu giao dịch trên UPCOM không thuộc
đối tượng này).
Cũng riêng đối với khối DN, Nghị định
05 cho phép, nếu không thiết lập được bộ
phận KTNB, có thể thuê ngoài. Trường
hợp DN đi thuê tổ chức kiểm toán độc lập
để cung cấp dịch vụ KTNB phải đảm bảo
Số 227- Tháng 4. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
69
Một số lưu ý áp dụng Nghị định 05 về kiểm toán nội bộ tại Việt Nam
trong các hành vi vi phạm, nếu KTNB
không thực hiện đúng những nội dung được
quy định; hoặc không thành lập KTNB
chuyên trách thuộc Ban kiểm soát.
của người làm công tác KTNB): Nghị định
đưa ra những yêu cầu cơ bản về bằng cấp
(đại học trở lên các chuyên ngành phù
hợp); kinh nghiệm thực tế (03- 05 năm);
kiến thức và hiểu biết (về pháp luật và hoạt
động của đơn vị, có khả năng phân tích,
đánh giá thông tin; có kỹ năng về KTNB).
Nghị định 05 không đưa ra các qui định
cụ thể về kỹ năng mềm, kỹ năng quản lý
công việc của kiểm toán viên như qui định
KTNB theo chuẩn quốc tế, tuy nhiên cũng
được hiểu bao hàm trong nội dung này.
Việc mở rộng đối tượng áp dụng và qui
định rõ các tiêu chuẩn, yêu cầu đối với
kiểm toán viên nội bộ và người phụ trách
KTNB, đòi hỏi các tổ chức cần chú trọng
công tác tuyển dụng và đào tạo về các kỹ
năng KTNB. Để thực hiện mục tiêu của
KTNB là đánh giá về hệ thống kiểm soát,
quản trị và quản lý rủi ro, người làm công
tác KTNB cần có kiến thức, hiểu biết về
kiểm soát nội bộ, quản trị và quản lý rủi ro,
về kiểm toán công nghệ thông tin cũng như
đặc thù ngành nghề và lĩnh vực hoạt động
của tổ chức. Nghị định 05 cho phép trong
trường hợp không có đủ nguồn lực với kinh
nghiệm và kỹ năng cần thiết theo yêu cầu,
DN có thể thuê hoặc phối kết hợp với đơn
vị tư vấn bên ngoài để thực hiện toàn bộ
hoặc một phần nội dung KTNB.
- Người phụ trách KTNB (Điều 24. Trách
nhiệm và quyền hạn của người phụ trách
KTNB): Điều 24 của Nghị định 05 đưa ra
quy định về trách nhiệm và quyền hạn của
người phụ trách KTNB. Về yêu cầu năng
lực chuyên môn và các kỹ năng cần thiết,
Nghị định 05 đưa ra những yêu cầu chung
đối với người làm công tác KTNB, nhưng
không quy định cụ thể cho Người phụ trách
KTNB. Do đó, các tổ chức cần lưu ý các tiêu
chí về năng lực, chuyên môn và kỹ năng khi
xây dựng bản mô tả công việc và tuyển dụng
Người phụ trách KTNB phù hợp với đặc thù
và yêu cầu của từng tổ chức.
- Đối với lĩnh vực chứng khoán, Nghị định
145/2016/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành từ
ngày 15/12/2016, sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 108/2013/NĐ-CP
ngày 23/9/2013 của Chính phủ quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
chứng khoán và thị trường chứng khoán,
theo đó qui định mức xử phạt liên quan đến
KTNB từ 70 triệu đồng đến 100 triệu đồng
nếu không thiết lập bộ phận KTNB theo
qui định, bao gồm không bảo đảm cơ cấu
nhân sự KTNB.
3.1. Về tiêu chuẩn kiểm toán viên nội bộ
Qui định KTNB bắt buộc được mở rộng
tới các tổ chức Nhà nước, đơn vị sự nghiệp
công lập và khối công ty niêm yết, khiến
cho các đối tượng này lo ngại về nguồn lực
thực hiện chức năng KTNB. Công tác nhân
sự và việc xác lập vị trí tổ chức của KTNB
trong tổ chức nhằm bảo đảm tính độc lập và
hiệu quả hoạt động là vấn đề đặt ra. Nghị
định 05 dành một điều khoản (Điều 11) qui
định tiêu chuẩn của người làm công tác
KTNB (kiểm toán viên nội bộ). Ngoài ra,
một số lưu ý về tiêu chuẩn nhân sự KTNB
được nêu tại Điều 5, Điều 7, Điều 24 và 26
của Nghị định 05. Cụ thể:
- Nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp KTNB
được qui định tại Điều 7 gồm: Tính chính
trực; Tính khách quan; Năng lực chuyên
môn và tính thận trọng; Tính bảo mật; Tư
cách nghề nghiệp. Người phụ trách KTNB
phải có biện pháp theo dõi, đánh giá, quản
lý nhằm đảm bảo người làm công tác
KTNB tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề
nghiệp KTNB.
- Kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng của người
làm công tác KTNB (Điều 11. Tiêu chuẩn
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 227- Tháng 4. 2021
70
MẠN ĐÌNH
- Các yêu cầu về việc chủ động nguồn
lực cho KTNB: Từ Điều 24-Điều 26 chỉ
qui định trách nhiệm của các bên đối với
KTNB. Nghị định 05 không qui định cụ thể
các nguồn lực, do đó, để thực hiện nhiệm
vụ của KTNB, các tổ chức cần quan tâm
đến vấn đề: (1) Nhân sự: chủ động tuyển
dụng, đào tạo và huy động nhân sự để thực
hiện công tác KTNB, đặc biệt về các kiến
thức ngành, kỹ năng phân tích, đánh giá,
kiến thức về kiểm toán công nghệ thông
tin; (2) Tài chính: KTNB có đủ ngân sách
để thực hiện công việc và duy trì nguồn
nhân sự có chất lượng hoặc kết hợp với tư
vấn bên ngoài; (3) Việc xây dựng và phát
triển nguồn lực KTNB cần được cụ thể
trong chiến lược KTNB.
- Về các nguyên tắc cơ bản của KTNB,
Điều 5 Nghị định 05 qui định rõ về: Tính
độc lập, tính khách quan, tính tuân thủ pháp
luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Tóm lại, Nghị định 05 đã qui định những
điều cơ bản nhất về tiêu chuẩn kiểm toán
viên và người phụ trách KTNB, được đánh
giá là sát với chuẩn mực quốc tế (PWC,
2019). Ngoài ra, Bộ Tài chính đã ban hành
một thông tư hướng dẫn riêng (Thông tư
08), làm rõ về Chuẩn mực KTNB Việt Nam
và các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp
KTNB.
Phương pháp KTNB theo định hướng rủi
ro trước đây chưa được nêu cụ thể tại một
văn bản pháp lý nào của Việt Nam (ngoại
trừ các ngành có qui định riêng như Ngân
hàng, Bảo hiểm, Chứng khoán). Nghị định
05 dành một điều khoản (Điều 13) qui định
như sau:
“1. Phương pháp thực hiện KTNB là phương
pháp kiểm toán “định hướng theo rủi ro”,
ưu tiên tập trung nguồn lực để kiểm toán các
đơn vị, bộ phận, quy trình được đánh giá có
mức độ rủi ro cao.
2. Kế hoạch KTNB phải được xây dựng dựa
trên kết quả đánh giá rủi ro và phải được cập
nhật, thay đổi, điều chỉnh phù hợp với các
diễn biến, thay đổi trong hoạt động của đơn
vị và sự thay đổi của các rủi ro kèm theo”.
Như vậy, phương pháp KTNB theo định
hướng rủi ro yêu cầu KTNB dựa trên rủi ro
để xác định phạm vi (đối tượng) kiểm toán
ngay từ khâu lập kế hoạch kiểm toán. Qui
trình, bộ phận nào không được đánh giá có
rủi ro cao thì không kiểm toán hoặc chỉ kiểm
toán nếu còn nguồn lực, và chỉ báo cáo kết
quả kiểm toán đối với khu vực rủi ro cao.
Qui định tại Nghị định 05 về phương pháp
thực hiện KTNB “định hướng theo rủi ro”
được đánh giá đã hoàn toàn sát với chuẩn
mực KTNB của IIA (PWC, 2019).
Theo cách tiếp cận truyền thống, qui mô,
phạm vi kiểm toán không được xác định
dựa trên rủi ro mà dựa trên việc kiểm tra
toàn bộ các đơn vị nghiệp vụ của tổ chức,
cũng như kiểm toán theo chức năng, qui
trình hoạt động của tổ chức, hoặc bao quát
hết các chức năng kiểm toán như kiểm toán
báo cáo tài chính, tính tuân thủ và hiệu quả.
Do đó, cuộc KTNB thường không hiệu quả,
do kiểm toán dàn trải, thiếu sự tập trung và
hao tốn nguồn lực. Trong khi phương pháp
KTNB theo định hướng rủi ro đòi hỏi bắt
đầu ngay từ khi lập kế hoạch kiểm toán, cần
xác định qui trình/đơn vị nào có mức độ rủi
ro cao để xác định phạm vi kiểm toán.
Để phát huy vai trò của KTNB trong tổ
chức, các đơn vị, DN cần xác định rõ hình
thức tổ chức KTNB là một chức năng hay
một bộ phận, và cần xác định được vị trí
của KTNB trong cơ cấu tổ chức nhằm bảo
đảm tính độc lập cao nhất. Đồng thời, tính
độc lập của KTNB cần được thể hiện thông
qua quy chế hoặc điều lệ KTNB. Trong
trường hợp tối ưu, các kiểm toán viên nội
bộ cần phải chịu trách nhiệm trước người
điều hành cao nhất.
3.2. Về phương pháp kiểm toán theo định
hướng rủi ro
Số 227- Tháng 4. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
71
Một số lưu ý áp dụng Nghị định 05 về kiểm toán nội bộ tại Việt Nam
Đồng thời, một điểm khác biệt nữa giữa
phương pháp tiếp cận định hướng rủi ro với
cách tiếp cận truyền thống là ở chỗ, phương
pháp định hướng rủi ro không xuất phát từ
các thủ tục kiểm soát, mà xuất phát từ mục
tiêu của tổ chức và các rủi ro ảnh hưởng
tới mục tiêu đặt ra, từ đó đánh giá các hoạt
động kiểm soát nhằm quản lý các rủi ro
đó, từ chỗ đánh giá liệu các thủ tục kiểm
soát có đầy đủ và hiệu lực hay không sang
rủi ro được kiểm soát tới mức độ nào. Đây
là phương pháp tiếp cận phù hợp với hoạt
động của các DN trong môi trường hiện
nay. Trong điều kiện môi trường kinh tế vĩ
mô có nhiều biến động, các sản phẩm dịch
vụ mới liên tục được phát triển, nếu KTNB
chỉ quan tâm tới bản thân các thủ tục kiểm
soát mà không chú trọng đánh giá rủi ro
thường xuyên thì có thể sẽ không nhận biết
được các thay đổi từ môi trường hoạt động
và không kịp thời nhận biết sự lỗi thời của
các hoạt động kiểm soát.
hiện theo các văn bản riêng của ngành, tuy
nhiên được dựa trên định hướng nhằm bảo
đảm bao quát các rủi ro. Ví dụ, tại Điều 70
của Thông tư 13/2018/TT-NHNN quy định
về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng
thương mại, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài, việc lập kế hoạch KTNB phải đảm
bảo đáp ứng:
“a) Nguyên tắc định hướng theo rủi ro: Các
hoạt động, quy trình, bộ phận phải được
đánh giá mức độ rủi ro (cao, trung bình và
thấp) theo quy định nội bộ của Ban kiểm
soát. Các hoạt động, quy trình, bộ phận có
mức độ rủi ro cao được tập trung nguồn
lực, ưu tiên thực hiện kiểm toán trước và
được kiểm toán ít nhất mỗi năm một lần;
b) Đảm bảo tính toàn diện: Các hoạt động,
quy trình, bộ phận đều phải được KTNB.
Các hoạt động, quy trình, bộ phận có mức
độ trọng yếu theo quy định nội bộ của Ban
kiểm soát phải được được kiểm toán ít nhất
mỗi năm một lần;…”
Cách thức thực hiện kiểm toán định hướng
rủi ro của KTNB có thể khác nhau phụ
thuộc vào trình độ phát triển của qui trình
quản lý rủi ro hiện tại của tổ chức. Tại các
tổ chức đã xây dựng được những qui trình
quản lý rủi ro đầy đủ, KTNB dựa vào các
đánh giá rủi ro hiện có của tổ chức để xây
dựng kế hoạch kiểm toán. Ngược lại, nếu
bản thân tổ chức chưa xây dựng được các
qui trình quản lý rủi ro đầy đủ, KTNB có
thể thực hiện các đánh giá của bản thân
kiểm toán viên với sự tham gia của ban
quản lý tổ chức/đơn vị được kiểm toán để
làm cơ sở xác định các thủ tục kiểm toán
cần thiết. Tại các tổ chức này, KTNB có
thể thực hiện chức năng tư vấn cho tổ chức
trong việc xây dựng qui trình quản lý rủi
ro, bao gồm nhận dạng, đo lường và quản
lý rủi ro phù hợp.
Các loại rủi ro trong một tổ chức gồm rủi ro
chiến lược, rủi ro hoạt động, rủi ro tài chính
và rủi ro tuân thủ. Để xây dựng phương
pháp KTNB theo định hướng rủi ro, tổ
chức thiết lập bộ phận KTNB cần quan tâm
tới công tác đào tạo về phương pháp xác
định và đánh giá rủi ro, phương pháp luận
về quản lý rủi ro. Đồng thời, bản thân tổ
chức cần xây dựng chiến lược quản trị rủi
ro phù hợp với chiến lược hoạt động; xây
dựng danh mục rủi ro toàn tổ chức và thực
hiện đánh giá rủi ro định kỳ; phối kết hợp
hiệu quả giữa quản lý rủi ro và KTNB; xây
dựng chiến lược KTNB, kế hoạch KTNB
và chương trình KTNB dựa trên rủi ro.
4. Kết luận
Qui định về phạm vi và phương pháp KTNB
đối với các lĩnh vực ngành nghề như ngân
hàng, bảo hiểm, chứng khoán được thực
Để quản trị tổ chức hiệu quả, vai trò của
KTNB là quan trọng nhờ tính độc lập,
khách quan và chuyên nghiệp trong việc
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 227- Tháng 4. 2021
72
MẠN ĐÌNH
đưa ra ý kiến bảo đảm và tư vấn về qui trình
quản trị, quản lý rủi ro và kiểm soát. KTNB
đối với các tổ chức, DN Việt Nam là vấn đề
khá mới, sự ra đời của Nghị định đã đánh
dấu sự nhận thức quan trọng về KTNB.
Qui định bắt buộc KTNB đối với một số tổ
chức, cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp
và khối DN, trước hết tập trung vào khối
công ty niêm yết và DN mà Nhà nước sở
hữu vốn từ 50% trở lên hoạt động theo mô
hình công ty mẹ- con, là những bước đi cần
thiết nhằm tăng cường năng lực quản trị
của tổ chức, qua đó giúp nền kinh tế phát
triển bền vững. Các tổ chức cần nhận thức
và hiểu đúng về tầm quan trọng của KTNB,
từ đó xác lập vị trí KTNB trong tổ chức,
đào tạo con người và giao quyền thực hiện
và báo cáo KTNB hiệu quả, đúng với mục
tiêu đặt ra đối với bộ phận KTNB.
Bài viết dừng ở tổng quan các vấn đề liên
quan đến Nghị định 05. Hướng nghiên cứu
tiếp theo cần đánh giá tính hiệu lực và hiệu
quả của Nghị định 05 sau khi được áp dụng
tại các tổ chức trong thời gian tới.■
Tài liệu tham khảo
Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 212/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 5/12/2012, hướng dẫn về thành lập, tổ chức
và hoạt động công ty quản lý quỹ
Bộ Tài chính (2020), Quy chế mẫu Số 67/2020/TT-BTC về kiểm toán nội bộ, ban hành ngày 10/7/2020.
Bộ Tài chính (2021), Thông tư 08/2021/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 25/01/2021, qui định về Chuẩn mực
KTNB Việt Nam và các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp KTNB.
noi-bo-tai-1-so-nuoc-oecd.sav, truy cập ngày 11/3/2021.
Chính phủ (2016), Nghị định số 73/2016/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 01/7/2016, quy định chi tiết thi hành
luật kinh doanh bảo hiểm và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm
Chính phủ (2016), Nghị định 145/2016/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 01/11/2016, có hiệu lực thi hành từ
ngày 15/12/2016, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2013/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày
23/9/2013, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Chính phủ (2018), Nghị định 41/2018/NĐ-CP vủa Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 12/3/2018, có hiệu lực thi hành
01/5/2018, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập.
Chính phủ (2019), Nghị định 05/2019/NĐ-CP về KTNB, ban hành ngày 22/01/2019, có hiệu lực thi hành từ ngày
01/4/2021.
IIA (2017), Khung Chuẩn mực quốc tế về hành nghề KTNB chuyên nghiệp do Hiệp hội KTNB Hoa Kỳ phát hành và có
hiệu lực từ tháng 01/2017.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2018), Thông tư 13/2018/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân
hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ban hành ngày 18/5/2018.
vn/vn/publications/2019/ban_tin_kiem_toan_noi_bo_nghi_dinh_05_nhung_luu_y_quan_trong.pdf, truy cập ngày
12/12/2020
Quốc hội (2015), Luật Kế toán 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015.
Số 227- Tháng 4. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
73
Bạn đang xem tài liệu "Một số lưu ý áp dụng Nghị định 05 về kiểm toán nội bộ tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_luu_y_ap_dung_nghi_dinh_05_ve_kiem_toan_noi_bo_tai_vi.pdf

