Một số lưu ý áp dụng Nghị định 05 về kiểm toán nội bộ tại Việt Nam

Mạn Đình  
Học viện Ngân hàng  
Ngày nhận: 26/02/2021  
Ngày nhận bản sửa: 31/03/2021  
Ngày duyệt đăng: 22/04/2021  
Tóm tắt: Sau 24 tháng chuẩn bị cho triển khai qui định tại Nghị định 05/2019/NĐ-  
CP về kiểm toán nội bộ (sau đây gọi là Nghị định 05), ngày 01/4/2021 là thời điểm  
áp dụng kiểm toán nội bộ (KTNB) bắt buộc đối với các cơ quan Nhà nước, đơn vị  
sự nghiệp công lập và các doanh nghiệp. Dựa trên tổng quan một số qui định liên  
quan đến KTNB tại các tổ chức, doanh nghiệp ở Việt Nam thời gian qua, bài viết  
phân tích và chỉ ra các vấn đề cần lưu ý về các đối tượng bắt buộc áp dụng KTNB,  
các tiêu chuẩn của kiểm toán viên nội bộ và làm rõ phương pháp kiểm toán theo  
định hướng rủi ro được qui định tại Nghị định 05.  
Từ khóa: Kiểm toán nội bộ, Nghị định 05/NĐ-CP, định hướng rủi ro, Việt Nam.  
1. Giới thiệu  
và thực tiễn. Xuất hiện khá muộn so  
với các loại hình kiểm toán độc lập và  
kiểm toán nhà nước, nhưng KTNB đã  
ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng  
đối với sự phát triển của một tổ chức,  
Vào những năm 40 của thế kỷ 20, KTNB  
(Internal Audit) bắt đầu hình thành và  
phát triển trên thế giới cả về lý thuyết  
Some major points about internal audit in Decree 05 / ND-CP  
Abstract: After 24 months of preparation for the implementation of the provisions of Decree 05/2019  
/ ND-CP on Internal Audit (hereinafter referred to as Decree 05), from April 1, 2021 the application of  
internal audit (IA) is required for state agencies, public service agencies and enterprises. Based on an  
overview of recent regulations related to Internal Audit in organizations and enterprises in Vietnam,  
the article analyzes and points out notable issues for the parties subject to the IA requirement, the  
standards of internal auditors and clarification of the risk-oriented audit methodology stipulated in  
Decree 05.  
Keywords: Internal Audit, Decree 05 / ND-CP, risk orientation, Vietnam.  
Man Dinh  
Email: thuybt@hvnh.edu.vn  
Banking Academy of Vietnam  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
Số 227- Tháng 4. 2021  
© Học viện Ngân hàng  
65  
ISSN 1859 - 011X  
Một số lưu ý áp dụng Nghị định 05 về kiểm toán nội bộ tại Việt Nam  
Hình 1. Mô hình 3 tuyến trong quản trị tổ chức  
Nguồn: IIA (2017)  
đơn vị, doanh nghiệp (DN), công ty… (sau  
đây gọi chung là tổ chức). Nhiệm vụ của  
KTNB thay đổi, đơn thuần từ yêu cầu kiểm  
tra, phát hiện và ngăn ngừa gian lận trong  
hoạt động của tổ chức, đã mở rộng vai trò  
sang tư vấn hoạt động và quản trị tổ chức.  
KTNB có sứ mệnh nâng cao và bảo vệ các  
giá trị của tổ chức, thông qua việc cung cấp  
sự bảo đảm, tư vấn độc lập, khách quan  
nhằm gia tăng giá trị và cải thiện hoạt động.  
KTNB được coi là một chức năng đánh giá  
độc lập bên trong tổ chức, hỗ trợ tổ chức  
đạt được các mục tiêu đặt ra.  
Theo Khung Chuẩn mực quốc tế về hành  
nghề KTNB chuyên nghiệp (International  
Professional Practices Framework - IPPF)  
do Hiệp hội KTNB Hoa Kỳ (The Institute  
of Internal Auditors - IIA) ban hành, “hoạt  
động KTNB là hoạt động kiểm toán và tư  
vấn độc lập, khách quan nhằm gia tăng giá  
trị và cải thiện hoạt động cho tổ chức. KTNB  
hỗ trợ tổ chức đạt được các mục tiêu thông  
qua việc đánh giá và cải thiện sự hiệu quả  
của các qui trình quản trị, quản lý rủi ro và  
kiểm soát bằng một cách tiếp cận hệ thống  
và có nguyên tắc chặt chẽ” (IIA, 2017).  
Trong quản trị tổ chức hiệu quả cần có 3  
tuyến phòng thủ (three line of defense), nay  
gọi là mô hình 3 tuyến (three line model),  
mà về bản chất không thay đổi các tuyến  
kiểm soát rủi ro trong quản trị tổ chức,  
phản ánh sự tương tác đa chiều, nhấn mạnh  
KTNB không chỉ có vai trò phòng thủ, mà  
còn gia tăng giá trị cho tổ chức. KTNB là  
lớp kiểm soát thứ ba, độc lập với 2 lớp còn  
lại, trong đó lớp kiểm soát thứ nhất được  
thực hiện bởi nhà quản lý, các vị trí lãnh  
đạo và nhân viên trực tiếp thực hiện nghiệp  
vụ; và lớp kiểm soát thứ hai thông qua ban  
hành các qui định, chính sách kiểm soát  
(Hình 1).  
- Tuyến thứ nhất- các kiểm soát nội bộ  
thuộc Nhóm sở hữu rủi ro, quản lý rủi ro và  
kiểm soát (Ban điều hành/giám đốc): Đánh  
giá, khoanh vùng, đo lường, đề ra và thực  
hiện các biện pháp kiểm soát nhằm giảm  
thiểu rủi ro ở cấp quản trị vận hành.  
- Tuyến thứ hai- Quản lý rủi ro thuộc Nhóm  
giám sát rủi ro và kiểm soát hỗ trợ Ban  
điều hành (Quản lý cấp cao); Xây dựng  
các kênh liên lạc và đánh giá bên trong nội  
bộ bao gồm các phòng ban: Kiểm soát tài  
chính, an ninh, quản lý rủi ro, quản lý chất  
lượng, điều tra, pháp chế.  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 227- Tháng 4. 2021  
66  
MẠN ĐÌNH  
- Tuyến thứ ba- KTNB thuộc Nhóm cung  
cấp sự đảm bảo và tư vấn độc lập về tính  
hiệu lực, hiệu quả trong quản lý rủi ro và  
kiểm soát.  
kiểm soát nội bộ; b) Kiểm tra và xác nhận  
chất lượng, độ tin cậy của thông tin kinh  
tế, tài chính của báo cáo tài chính, báo cáo  
kế toán quản trị trước khi trình ký duyệt;  
c) Kiểm tra việc tuân thủ nguyên tắc hoạt  
động, quản lý, việc tuân thủ pháp luật,  
chế độ tài chính, kế toán, chính sách, nghị  
quyết, quyết định của lãnh đạo đơn vị kế  
toán; d) Phát hiện những sơ hở, yếu kém,  
gian lận trong quản lý, bảo vệ tài sản của  
đơn vị; đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến,  
hoàn thiện hệ thống quản lý, điều hành hoạt  
động của đơn vị kế toán.  
- Nghị định 05/2019/NĐ-CP ban hành  
ngày 20/01/2019, chính thức qui định các  
vấn đề cốt lõi của KTNB, theo đó, tại Điều  
4 Mục tiêu của KTNB nêu “thông qua các  
hoạt động kiểm tra, đánh giá và tư vấn,  
KTNB đưa ra các đảm bảo mang tính độc  
lập, khách quan và các khuyến nghị về các  
nội dung:  
Sự phối hợp theo mô hình này giúp tổ chức  
giảm thiểu khoảng trống, tránh sự trùng  
lặp trong 3 tuyến kiểm soát. Phân biệt giữa  
KTNB với 2 tuyến phòng thủ còn lại chính  
là tính độc lập cao về mặt tổ chức. Cùng  
với các tiêu chuẩn khắt khe về đạo đức  
nghề nghiệp, tính độc lập giúp ý kiến của  
KTNB về quản trị, rủi ro và kiểm soát sẽ  
bảo đảm tính chuyên môn, khách quan và  
tin cậy. KTNB không có trách nhiệm thiết  
kế và thực hiện các thủ tục kiểm soát cũng  
như vận hành hoạt động kinh doanh của tổ  
chức. Và sự độc lập của KTNB càng cao  
nếu KTNB được trao quyền thực hiện các  
chức năng kiểm toán cũng như báo cáo kết  
quả kiểm toán tới cấp cao nhất của tổ chức.  
2. Các qui định pháp lý về kiểm toán nội  
bộ hiện nay tại Việt Nam  
(1) Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị  
đã được thiết lập và vận hành một cách phù  
hợp nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý các  
rủi ro của đơn vị.  
(2) Các quy trình quản trị và quy trình quản  
lý rủi ro của đơn vị đảm bảo tính hiệu quả  
và có hiệu suất cao.  
(3) Các mục tiêu hoạt động và các mục tiêu  
chiến lược, kế hoạch và nhiệm vụ công tác  
mà đơn vị đạt được”.  
Bên cạnh đó, để triển khai Nghị định 05,  
ngày 10/7/2020, Bộ trưởng Bộ Tài chính  
đã ban hành Quy chế mẫu Số 67/2020/TT-  
BTC về KTNB, là cơ sở cho các cơ quan  
nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập tham  
chiếu trong việc xây dựng Quy chế kiểm  
toán nội bộ của đơn vị.  
Hoạt động KTNB quốc tế tuân thủ theo các  
văn bản quan trọng như Chuẩn mực về thực  
hành nghề nghiệp của KTNB (IIA), Khung  
thực hành nghề nghiệp quốc tế về KTNB  
(IPPF), Khung kiểm soát nội bộ theo chuẩn  
COSO, Khung quản trị rủi ro DN (ERM)…  
Trong đó, Chuẩn mực về thực hành nghề  
nghiệp của KTNB và Khung thực hành nghề  
nghiệp quốc tế về KTNB được áp dụng rộng  
rãi trên thế giới, là cơ sở để ban hành các qui  
định, hướng dẫn tại các quốc gia.  
Tại Việt Nam hiện nay, KTNB được qui  
định tại một số văn bản gồm:  
- Luật Kế toán 88/2015/QH13 ngày  
20/11/2015, nêu định nghĩa và nhiệm vụ  
của KTNB tại Điều 39, theo đó KTNB là  
việc kiểm tra, đánh giá, giám sát tính đầy  
đủ, thích hợp và tính hữu hiệu của kiểm  
soát nội bộ; có nhiệm vụ: a) Kiểm tra tính  
phù hợp, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống  
- Thông tư 08/2021/TT-BTC cũng  
vừa được Bộ Tài chính ban hành ngày  
25/01/2021 (sau đây gọi tắt là Thông tư 08)  
qui định về Chuẩn mực KTNB Việt Nam và  
các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp KTNB.  
Chuẩn mực được áp dụng cho người làm  
Số 227- Tháng 4. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
67  
Một số lưu ý áp dụng Nghị định 05 về kiểm toán nội bộ tại Việt Nam  
công tác KTNB và bộ phận KTNB. Mục  
đích của Bộ chuẩn mực là: (1) Đưa ra một  
khung quy định để thực hiện và thúc đẩy  
hoạt động KTNB tạo ra giá trị gia tăng cho  
đơn vị; (2) Thiết lập cơ sở để đánh giá hoạt  
động KTNB; (3) Khích lệ các quy trình và  
hoạt động đã được cải tiến của đơn vị.  
Nghị định 05 và các thông tư hướng dẫn  
được coi là bước tiến quan trọng, lần đầu  
tiên xác định rõ, đầy đủ vai trò của KTNB  
tại Việt Nam. Các qui định và Bộ chuẩn  
mực về KTNB của Việt Nam được đánh  
giá đã bám sát các qui định tại Khung  
chuẩn mực quốc tế về hành nghề KTNB  
chuyên nghiệp (International Professional  
Practices Framework- IPPF) do Hiệp  
hội KTNB Hoa Kỳ (Institute of Internal  
Auditors- IIA) nghiên cứu soạn thảo từ  
tháng 11/2013, chính thức phát hành và có  
hiệu lực từ tháng 01/20171.  
Ngoài ra, tại Việt Nam, theo yêu cầu quản  
trị trong từng ngành, từng lĩnh vực, các qui  
định KTNB cũng được ban hành riêng trước  
đó. Đối với ngành Ngân hàng, KTNB được  
qui định tại Thông tư 13/2018/TT-NHNN,  
ban hành ngày 8/5/2018, về Hệ thống kiểm  
soát nội bộ của ngân hàng thương mại, chi  
nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo đó,  
Điều 6 nêu KTNB được coi là Tuyến bảo vệ  
thứ ba có chức năng KTNB theo quy định  
tại Luật Các tổ chức tín dụng và qui định  
của Thông tư này. Trong lĩnh vực chứng  
khoán là Thông tư số 210/2012/TT-BTC  
ngày 3/11/2012 qui định việc thành lập và  
hoạt động của công ty chứng khoán tại Việt  
Nam, theo đó, Điều 36 qui định các CTCK  
phải thiết lập bộ phận KTNB, có vị trí trực  
thuộc Hội đồng quản trị (Hội đồng thành  
viên). Điều 36 của Thông tư cũng qui định  
rõ chức năng, nhiệm vụ và các nguyên tắc  
hoạt động và yêu cầu về nhân sự KTNB.  
Đối với lĩnh vực bảo hiểm và công ty quản  
lý quĩ, KTNB được qui định tại Nghị định  
số 73/2016/NĐ-CP của Chính phủ ban  
hành ngày 01/7/2016 hướng dẫn Luật Kinh  
doanh bảo hiểm; Thông tư số 212/2012/  
TT-BTC ngày 05/12/2012 về hướng dẫn  
về thành lập, tổ chức và hoạt động công ty  
quản lý quỹ.  
3. Một số lưu ý về Nghị định 05 về kiểm  
toán nội bộ  
Theo Nghị định 05, các đối tượng áp dụng  
KTNB bắt buộc đã được mở rộng, bao gồm  
các tổ chức, DN thuộc khu vực Nhà nước  
và khu vực tư, trong khi trước đây chỉ bắt  
buộc đối với các lĩnh vực như ngân hàng,  
chứng khoán (các công ty chứng khoán),  
bảo hiểm. Tại Điều 2 và Điều 8, Nghị định  
05 qui định KTNB bắt buộc đối với 3 nhóm  
đối tượng là cơ quan Nhà nước, đơn vị sự  
nghiệp công lập và các DN, cụ thể:  
Nhóm 1. Các cơ quan Nhà nước, gồm: các  
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính  
phủ; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố  
trực thuộc Trung ương; các cơ quan chuyên  
môn và các đơn vị sự nghiệp trực thuộc  
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.  
Tại Điều 8 Nghị định cũng nêu rõ: Bộ, cơ  
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ  
phải thực hiện công tác KTNB tại bộ, cơ  
quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ  
và các đơn vị trực thuộc bao gồm cả đơn  
vị sự nghiệp trực thuộc bộ, cơ quan ngang  
bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Ủy ban nhân  
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương  
phải thực hiện công tác KTNB tại Ủy ban  
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung  
ương; các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy  
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc  
1 IPPF được chia thành 2 phần, gồm (1) các Qui định bắt  
buộc thực hiện (các qui định thuộc tính): Các nguyên  
tắc chính trong hoạt động của KTNB; Định nghĩa hoạt  
động KTNB; Qui tắc đạo đức nghề nghiệp và Chuẩn  
mực Quốc tế về hành nghề KTNB chuyên nghiệp; và  
(2) các hướng dẫn thực hành (không bắt buộc thực  
hiện nhưng được IIA khuyến nghị áp dụng): Bộ hướng  
dẫn thực hiện Chuẩn mực và Bộ hướng dẫn bổ sung  
(IIA, 2013).  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 227- Tháng 4. 2021  
68  
MẠN ĐÌNH  
trung ương và các đơn vị sự nghiệp trực  
thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực  
thuộc trung ương; và lưu ý là “Việc thực  
hiện công tác KTNB ở các đơn vị nêu tại  
khoản 1 và khoản 2 Điều này phải đảm  
bảo nguyên tắc không tăng biên chế, không  
phát sinh đầu mối mới”.  
Nhóm 2. Đơn vị sự nghiệp công lập. Theo  
đó tại Điều 8, Nghị định 05 qui định rõ  
thực hiện KTNB đối với các đơn vị tự  
đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư,  
đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi  
thường xuyên: có tổng quỹ tiền lương, phụ  
cấp và các khoản đóng góp theo lương của  
số người lao động hiện có trong một năm  
từ 20 tỷ đồng trở lên hoặc sử dụng từ 200  
người lao động trở lên.  
Nhóm 3. Các DN: Công ty niêm yết; DN  
mà nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều  
lệ, là công ty mẹ hoạt động theo mô hình  
công ty mẹ - công ty con và DN nhà nước  
là công ty mẹ hoạt động theo mô hình công  
ty mẹ- công ty con.  
Như vậy, lưu ý riêng đối với khối DN, có  
2 đối tượng bắt buộc áp dụng KTNB đó là:  
(1) Công ty niêm yết;  
các nguyên tắc cơ bản của KTNB và các  
yêu cầu nhằm đảm bảo tuân thủ các nguyên  
tắc cơ bản của KTNB quy định tại Điều 5,  
Điều 6 Nghị định 05. Việc đi thuê thực hiện  
KTNB của các DN thuộc Bộ Quốc phòng,  
Bộ Công an thực hiện theo quy định của  
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ  
Công an. Nghị định 05 qui định, các tổ  
chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt  
động KTNB được hiểu là các tổ chức thực  
hiện hoặc cung cấp các dịch vụ KTNB.  
Tại Điều 2 Nghị định 05 qui định, đối với  
các đối tượng mà pháp luật chuyên ngành  
có qui định về KTNB thì thực hiện theo  
pháp luật chuyên ngành, như các công ty  
chứng khoán, lĩnh vực bảo hiểm, các tổ  
chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước sẽ  
thực hiện theo Luật Chứng khoán, Luật  
Bảo hiểm, Luật Các Tổ chức tín dụng, Luật  
Ngân hàng Nhà nước và các văn bản hướng  
dẫn Luật liên quan.  
Về vấn đề xử phạt, Nghị định 05 chưa qui  
định các hình thức xử phạt nếu vi phạm  
qui định về KTNB bắt buộc. Tuy nhiên qui  
định xử phạt đã được qui định tại các văn  
bản pháp lý liên quan.  
(2) DN mà Nhà nước sở hữu trên 50% vốn  
điều lệ là công ty mẹ hoạt động theo mô  
hình công ty mẹ- công ty con.  
Đối với việc lựa chọn dịch vụ thuê ngoài  
về KTNB, tại Điều 53, Nghị định 41/2018/  
NĐ-CP, mức phạt hành vi vi phạm quy  
định về lựa chọn DN kiểm toán, kiểm toán  
viên hành nghề thực hiện kiểm toán, với  
mức phạt từ 20 triệu đồng đến 50 triệu  
đồng nếu thuê DN kiểm toán cung cấp dịch  
vụ KTNB không bảo đảm qui định.  
Đối với một số ngành đặc thù như ngân  
hàng, tổ chức tín dụng, bảo hiểm, kinh  
doanh chứng khoán, cũng đã có chế tài xử  
lý vi phạm riêng. Cụ thể:  
- Đối với ngân hàng, tổ chức tín dụng, Điều  
8, Nghị định 88/2019/NĐ-CP (hiệu lực từ  
ngày 31/12/2019) quy định về xử phạt vi  
phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và  
ngân hàng, như: Phạt tiền từ 80.000.000  
đồng đến 150.000.000 đồng đối với một  
Mặc dù KTNB được khuyến khích áp dụng  
đối với mọi DN, tuy nhiên Nghị định 05  
mới qui định bắt buộc đối với: khối DN  
mà Nhà nước sở hữu trên 50% vốn là công  
ty mẹ hoạt động theo mô hình công ty  
mẹ- công ty con; và các công ty niêm yết  
trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội và  
Thành phố Hồ Chí Minh (các công ty có cổ  
phiếu giao dịch trên UPCOM không thuộc  
đối tượng này).  
Cũng riêng đối với khối DN, Nghị định  
05 cho phép, nếu không thiết lập được bộ  
phận KTNB, có thể thuê ngoài. Trường  
hợp DN đi thuê tổ chức kiểm toán độc lập  
để cung cấp dịch vụ KTNB phải đảm bảo  
Số 227- Tháng 4. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
69  
Một số lưu ý áp dụng Nghị định 05 về kiểm toán nội bộ tại Việt Nam  
trong các hành vi vi phạm, nếu KTNB  
không thực hiện đúng những nội dung được  
quy định; hoặc không thành lập KTNB  
chuyên trách thuộc Ban kiểm soát.  
của người làm công tác KTNB): Nghị định  
đưa ra những yêu cầu cơ bản về bằng cấp  
(đại học trở lên các chuyên ngành phù  
hợp); kinh nghiệm thực tế (03- 05 năm);  
kiến thức và hiểu biết (về pháp luật và hoạt  
động của đơn vị, có khả năng phân tích,  
đánh giá thông tin; có kỹ năng về KTNB).  
Nghị định 05 không đưa ra các qui định  
cụ thể về kỹ năng mềm, kỹ năng quản lý  
công việc của kiểm toán viên như qui định  
KTNB theo chuẩn quốc tế, tuy nhiên cũng  
được hiểu bao hàm trong nội dung này.  
Việc mở rộng đối tượng áp dụng và qui  
định rõ các tiêu chuẩn, yêu cầu đối với  
kiểm toán viên nội bộ và người phụ trách  
KTNB, đòi hỏi các tổ chức cần chú trọng  
công tác tuyển dụng và đào tạo về các kỹ  
năng KTNB. Để thực hiện mục tiêu của  
KTNB là đánh giá về hệ thống kiểm soát,  
quản trị và quản lý rủi ro, người làm công  
tác KTNB cần có kiến thức, hiểu biết về  
kiểm soát nội bộ, quản trị và quản lý rủi ro,  
về kiểm toán công nghệ thông tin cũng như  
đặc thù ngành nghề và lĩnh vực hoạt động  
của tổ chức. Nghị định 05 cho phép trong  
trường hợp không có đủ nguồn lực với kinh  
nghiệm và kỹ năng cần thiết theo yêu cầu,  
DN có thể thuê hoặc phối kết hợp với đơn  
vị tư vấn bên ngoài để thực hiện toàn bộ  
hoặc một phần nội dung KTNB.  
- Người phụ trách KTNB (Điều 24. Trách  
nhiệm và quyền hạn của người phụ trách  
KTNB): Điều 24 của Nghị định 05 đưa ra  
quy định về trách nhiệm và quyền hạn của  
người phụ trách KTNB. Về yêu cầu năng  
lực chuyên môn và các kỹ năng cần thiết,  
Nghị định 05 đưa ra những yêu cầu chung  
đối với người làm công tác KTNB, nhưng  
không quy định cụ thể cho Người phụ trách  
KTNB. Do đó, các tổ chức cần lưu ý các tiêu  
chí về năng lực, chuyên môn và kỹ năng khi  
xây dựng bản mô tả công việc và tuyển dụng  
Người phụ trách KTNB phù hợp với đặc thù  
và yêu cầu của từng tổ chức.  
- Đối với lĩnh vực chứng khoán, Nghị định  
145/2016/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành từ  
ngày 15/12/2016, sửa đổi, bổ sung một số  
điều của Nghị định số 108/2013/NĐ-CP  
ngày 23/9/2013 của Chính phủ quy định  
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực  
chứng khoán và thị trường chứng khoán,  
theo đó qui định mức xử phạt liên quan đến  
KTNB từ 70 triệu đồng đến 100 triệu đồng  
nếu không thiết lập bộ phận KTNB theo  
qui định, bao gồm không bảo đảm cơ cấu  
nhân sự KTNB.  
3.1. Về tiêu chuẩn kiểm toán viên nội bộ  
Qui định KTNB bắt buộc được mở rộng  
tới các tổ chức Nhà nước, đơn vị sự nghiệp  
công lập và khối công ty niêm yết, khiến  
cho các đối tượng này lo ngại về nguồn lực  
thực hiện chức năng KTNB. Công tác nhân  
sự và việc xác lập vị trí tổ chức của KTNB  
trong tổ chức nhằm bảo đảm tính độc lập và  
hiệu quả hoạt động là vấn đề đặt ra. Nghị  
định 05 dành một điều khoản (Điều 11) qui  
định tiêu chuẩn của người làm công tác  
KTNB (kiểm toán viên nội bộ). Ngoài ra,  
một số lưu ý về tiêu chuẩn nhân sự KTNB  
được nêu tại Điều 5, Điều 7, Điều 24 và 26  
của Nghị định 05. Cụ thể:  
- Nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp KTNB  
được qui định tại Điều 7 gồm: Tính chính  
trực; Tính khách quan; Năng lực chuyên  
môn và tính thận trọng; Tính bảo mật; Tư  
cách nghề nghiệp. Người phụ trách KTNB  
phải có biện pháp theo dõi, đánh giá, quản  
lý nhằm đảm bảo người làm công tác  
KTNB tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề  
nghiệp KTNB.  
- Kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng của người  
làm công tác KTNB (Điều 11. Tiêu chuẩn  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 227- Tháng 4. 2021  
70  
MẠN ĐÌNH  
- Các yêu cầu về việc chủ động nguồn  
lực cho KTNB: Từ Điều 24-Điều 26 chỉ  
qui định trách nhiệm của các bên đối với  
KTNB. Nghị định 05 không qui định cụ thể  
các nguồn lực, do đó, để thực hiện nhiệm  
vụ của KTNB, các tổ chức cần quan tâm  
đến vấn đề: (1) Nhân sự: chủ động tuyển  
dụng, đào tạo và huy động nhân sự để thực  
hiện công tác KTNB, đặc biệt về các kiến  
thức ngành, kỹ năng phân tích, đánh giá,  
kiến thức về kiểm toán công nghệ thông  
tin; (2) Tài chính: KTNB có đủ ngân sách  
để thực hiện công việc và duy trì nguồn  
nhân sự có chất lượng hoặc kết hợp với tư  
vấn bên ngoài; (3) Việc xây dựng và phát  
triển nguồn lực KTNB cần được cụ thể  
trong chiến lược KTNB.  
- Về các nguyên tắc cơ bản của KTNB,  
Điều 5 Nghị định 05 qui định rõ về: Tính  
độc lập, tính khách quan, tính tuân thủ pháp  
luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật.  
Tóm lại, Nghị định 05 đã qui định những  
điều cơ bản nhất về tiêu chuẩn kiểm toán  
viên và người phụ trách KTNB, được đánh  
giá là sát với chuẩn mực quốc tế (PWC,  
2019). Ngoài ra, Bộ Tài chính đã ban hành  
một thông tư hướng dẫn riêng (Thông tư  
08), làm rõ về Chuẩn mực KTNB Việt Nam  
và các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp  
KTNB.  
Phương pháp KTNB theo định hướng rủi  
ro trước đây chưa được nêu cụ thể tại một  
văn bản pháp lý nào của Việt Nam (ngoại  
trừ các ngành có qui định riêng như Ngân  
hàng, Bảo hiểm, Chứng khoán). Nghị định  
05 dành một điều khoản (Điều 13) qui định  
như sau:  
“1. Phương pháp thực hiện KTNB là phương  
pháp kiểm toán “định hướng theo rủi ro”,  
ưu tiên tập trung nguồn lực để kiểm toán các  
đơn vị, bộ phận, quy trình được đánh giá có  
mức độ rủi ro cao.  
2. Kế hoạch KTNB phải được xây dựng dựa  
trên kết quả đánh giá rủi ro và phải được cập  
nhật, thay đổi, điều chỉnh phù hợp với các  
diễn biến, thay đổi trong hoạt động của đơn  
vị và sự thay đổi của các rủi ro kèm theo”.  
Như vậy, phương pháp KTNB theo định  
hướng rủi ro yêu cầu KTNB dựa trên rủi ro  
để xác định phạm vi (đối tượng) kiểm toán  
ngay từ khâu lập kế hoạch kiểm toán. Qui  
trình, bộ phận nào không được đánh giá có  
rủi ro cao thì không kiểm toán hoặc chỉ kiểm  
toán nếu còn nguồn lực, và chỉ báo cáo kết  
quả kiểm toán đối với khu vực rủi ro cao.  
Qui định tại Nghị định 05 về phương pháp  
thực hiện KTNB “định hướng theo rủi ro”  
được đánh giá đã hoàn toàn sát với chuẩn  
mực KTNB của IIA (PWC, 2019).  
Theo cách tiếp cận truyền thống, qui mô,  
phạm vi kiểm toán không được xác định  
dựa trên rủi ro mà dựa trên việc kiểm tra  
toàn bộ các đơn vị nghiệp vụ của tổ chức,  
cũng như kiểm toán theo chức năng, qui  
trình hoạt động của tổ chức, hoặc bao quát  
hết các chức năng kiểm toán như kiểm toán  
báo cáo tài chính, tính tuân thủ và hiệu quả.  
Do đó, cuộc KTNB thường không hiệu quả,  
do kiểm toán dàn trải, thiếu sự tập trung và  
hao tốn nguồn lực. Trong khi phương pháp  
KTNB theo định hướng rủi ro đòi hỏi bắt  
đầu ngay từ khi lập kế hoạch kiểm toán, cần  
xác định qui trình/đơn vị nào có mức độ rủi  
ro cao để xác định phạm vi kiểm toán.  
Để phát huy vai trò của KTNB trong tổ  
chức, các đơn vị, DN cần xác định rõ hình  
thức tổ chức KTNB là một chức năng hay  
một bộ phận, và cần xác định được vị trí  
của KTNB trong cơ cấu tổ chức nhằm bảo  
đảm tính độc lập cao nhất. Đồng thời, tính  
độc lập của KTNB cần được thể hiện thông  
qua quy chế hoặc điều lệ KTNB. Trong  
trường hợp tối ưu, các kiểm toán viên nội  
bộ cần phải chịu trách nhiệm trước người  
điều hành cao nhất.  
3.2. Về phương pháp kiểm toán theo định  
hướng rủi ro  
Số 227- Tháng 4. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
71  
Một số lưu ý áp dụng Nghị định 05 về kiểm toán nội bộ tại Việt Nam  
Đồng thời, một điểm khác biệt nữa giữa  
phương pháp tiếp cận định hướng rủi ro với  
cách tiếp cận truyền thống là ở chỗ, phương  
pháp định hướng rủi ro không xuất phát từ  
các thủ tục kiểm soát, mà xuất phát từ mục  
tiêu của tổ chức và các rủi ro ảnh hưởng  
tới mục tiêu đặt ra, từ đó đánh giá các hoạt  
động kiểm soát nhằm quản lý các rủi ro  
đó, từ chỗ đánh giá liệu các thủ tục kiểm  
soát có đầy đủ và hiệu lực hay không sang  
rủi ro được kiểm soát tới mức độ nào. Đây  
là phương pháp tiếp cận phù hợp với hoạt  
động của các DN trong môi trường hiện  
nay. Trong điều kiện môi trường kinh tế vĩ  
mô có nhiều biến động, các sản phẩm dịch  
vụ mới liên tục được phát triển, nếu KTNB  
chỉ quan tâm tới bản thân các thủ tục kiểm  
soát mà không chú trọng đánh giá rủi ro  
thường xuyên thì có thể sẽ không nhận biết  
được các thay đổi từ môi trường hoạt động  
và không kịp thời nhận biết sự lỗi thời của  
các hoạt động kiểm soát.  
hiện theo các văn bản riêng của ngành, tuy  
nhiên được dựa trên định hướng nhằm bảo  
đảm bao quát các rủi ro. Ví dụ, tại Điều 70  
của Thông tư 13/2018/TT-NHNN quy định  
về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng  
thương mại, chi nhánh ngân hàng nước  
ngoài, việc lập kế hoạch KTNB phải đảm  
bảo đáp ứng:  
“a) Nguyên tắc định hướng theo rủi ro: Các  
hoạt động, quy trình, bộ phận phải được  
đánh giá mức độ rủi ro (cao, trung bình và  
thấp) theo quy định nội bộ của Ban kiểm  
soát. Các hoạt động, quy trình, bộ phận có  
mức độ rủi ro cao được tập trung nguồn  
lực, ưu tiên thực hiện kiểm toán trước và  
được kiểm toán ít nhất mỗi năm một lần;  
b) Đảm bảo tính toàn diện: Các hoạt động,  
quy trình, bộ phận đều phải được KTNB.  
Các hoạt động, quy trình, bộ phận có mức  
độ trọng yếu theo quy định nội bộ của Ban  
kiểm soát phải được được kiểm toán ít nhất  
mỗi năm một lần;…”  
Cách thức thực hiện kiểm toán định hướng  
rủi ro của KTNB có thể khác nhau phụ  
thuộc vào trình độ phát triển của qui trình  
quản lý rủi ro hiện tại của tổ chức. Tại các  
tổ chức đã xây dựng được những qui trình  
quản lý rủi ro đầy đủ, KTNB dựa vào các  
đánh giá rủi ro hiện có của tổ chức để xây  
dựng kế hoạch kiểm toán. Ngược lại, nếu  
bản thân tổ chức chưa xây dựng được các  
qui trình quản lý rủi ro đầy đủ, KTNB có  
thể thực hiện các đánh giá của bản thân  
kiểm toán viên với sự tham gia của ban  
quản lý tổ chức/đơn vị được kiểm toán để  
làm cơ sở xác định các thủ tục kiểm toán  
cần thiết. Tại các tổ chức này, KTNB có  
thể thực hiện chức năng tư vấn cho tổ chức  
trong việc xây dựng qui trình quản lý rủi  
ro, bao gồm nhận dạng, đo lường và quản  
lý rủi ro phù hợp.  
Các loại rủi ro trong một tổ chức gồm rủi ro  
chiến lược, rủi ro hoạt động, rủi ro tài chính  
và rủi ro tuân thủ. Để xây dựng phương  
pháp KTNB theo định hướng rủi ro, tổ  
chức thiết lập bộ phận KTNB cần quan tâm  
tới công tác đào tạo về phương pháp xác  
định và đánh giá rủi ro, phương pháp luận  
về quản lý rủi ro. Đồng thời, bản thân tổ  
chức cần xây dựng chiến lược quản trị rủi  
ro phù hợp với chiến lược hoạt động; xây  
dựng danh mục rủi ro toàn tổ chức và thực  
hiện đánh giá rủi ro định kỳ; phối kết hợp  
hiệu quả giữa quản lý rủi ro và KTNB; xây  
dựng chiến lược KTNB, kế hoạch KTNB  
và chương trình KTNB dựa trên rủi ro.  
4. Kết luận  
Qui định về phạm vi và phương pháp KTNB  
đối với các lĩnh vực ngành nghề như ngân  
hàng, bảo hiểm, chứng khoán được thực  
Để quản trị tổ chức hiệu quả, vai trò của  
KTNB là quan trọng nhờ tính độc lập,  
khách quan và chuyên nghiệp trong việc  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 227- Tháng 4. 2021  
72  
MẠN ĐÌNH  
đưa ra ý kiến bảo đảm và tư vấn về qui trình  
quản trị, quản lý rủi ro và kiểm soát. KTNB  
đối với các tổ chức, DN Việt Nam là vấn đề  
khá mới, sự ra đời của Nghị định đã đánh  
dấu sự nhận thức quan trọng về KTNB.  
Qui định bắt buộc KTNB đối với một số tổ  
chức, cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp  
và khối DN, trước hết tập trung vào khối  
công ty niêm yết và DN mà Nhà nước sở  
hữu vốn từ 50% trở lên hoạt động theo mô  
hình công ty mẹ- con, là những bước đi cần  
thiết nhằm tăng cường năng lực quản trị  
của tổ chức, qua đó giúp nền kinh tế phát  
triển bền vững. Các tổ chức cần nhận thức  
và hiểu đúng về tầm quan trọng của KTNB,  
từ đó xác lập vị trí KTNB trong tổ chức,  
đào tạo con người và giao quyền thực hiện  
và báo cáo KTNB hiệu quả, đúng với mục  
tiêu đặt ra đối với bộ phận KTNB.  
Bài viết dừng ở tổng quan các vấn đề liên  
quan đến Nghị định 05. Hướng nghiên cứu  
tiếp theo cần đánh giá tính hiệu lực và hiệu  
quả của Nghị định 05 sau khi được áp dụng  
tại các tổ chức trong thời gian tới.■  
Tài liệu tham khảo  
Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 212/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 5/12/2012, hướng dẫn về thành lập, tổ chức  
và hoạt động công ty quản lý quỹ  
Bộ Tài chính (2020), Quy chế mẫu Số 67/2020/TT-BTC về kiểm toán nội bộ, ban hành ngày 10/7/2020.  
Bộ Tài chính (2021), Thông tư 08/2021/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 25/01/2021, qui định về Chuẩn mực  
KTNB Việt Nam và các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp KTNB.  
noi-bo-tai-1-so-nuoc-oecd.sav, truy cập ngày 11/3/2021.  
Chính phủ (2016), Nghị định số 73/2016/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 01/7/2016, quy định chi tiết thi hành  
luật kinh doanh bảo hiểm và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm  
Chính phủ (2016), Nghị định 145/2016/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 01/11/2016, có hiệu lực thi hành từ  
ngày 15/12/2016, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2013/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày  
23/9/2013, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.  
Chính phủ (2018), Nghị định 41/2018/NĐ-CP vủa Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 12/3/2018, có hiệu lực thi hành  
01/5/2018, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập.  
Chính phủ (2019), Nghị định 05/2019/NĐ-CP về KTNB, ban hành ngày 22/01/2019, có hiệu lực thi hành từ ngày  
01/4/2021.  
IIA (2017), Khung Chuẩn mực quốc tế về hành nghề KTNB chuyên nghiệp do Hiệp hội KTNB Hoa Kỳ phát hành và có  
hiệu lực từ tháng 01/2017.  
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2018), Thông tư 13/2018/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân  
hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ban hành ngày 18/5/2018.  
vn/vn/publications/2019/ban_tin_kiem_toan_noi_bo_nghi_dinh_05_nhung_luu_y_quan_trong.pdf, truy cập ngày  
12/12/2020  
Quốc hội (2015), Luật Kế toán 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015.  
Số 227- Tháng 4. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
73  
pdf 9 trang yennguyen 15140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số lưu ý áp dụng Nghị định 05 về kiểm toán nội bộ tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_luu_y_ap_dung_nghi_dinh_05_ve_kiem_toan_noi_bo_tai_vi.pdf