Luận văn Ứng dụng mạng nơ-rôn nhân tạo dự báo phụ tải điện thành phố Hạ Long - Tỉnh Quảng Ninh

BỘ CÔNG THƢƠNG  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SAO ĐỎ  
LÊ NGỌC TUẤN  
ỨNG DỤNG MẠNG NƠ-RÔN NHÂN TẠO DỰ BÁO PHỤ TẢI ĐIỆN  
THÀNH PHỐ HẠ LONG - TỈNH QUẢNG NINH  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
CHUYÊN NGÀNH: KỸ THUẬT ĐIỆN TỬ  
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:  
1. PGS.TSKH TRẦN HOÀI LINH  
2. TS. ĐỖ VĂN ĐỈNH  
HẢI DƢƠNG – NĂM 2019  
Trường Đại học Sao Đỏ  
Luận văn Thạc sĩ  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam các kết quả nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp này là các kết quả  
thu đƣợc trong quá trình nghiên cứu của riêng học viên với sự hƣớng dẫn của  
PGS.TSKH Trần Hoài Linh và TS. Đỗ Văn Đỉnh. Không sao chép bất kỳ kết quả  
nghiên cứu nào của các tác giả khác.  
Nội dung nghiên cứu có tham khảo và sử dụng một số thông tin, tài liệu từ các  
nguồn tài liệu đã đƣợc liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo.  
Nếu sai tôi xin chịu mọi hình thức kỷ luật theo quy định.  
Hải Dương, ngày 28 tháng 12 năm 2019  
Tác giả luận văn  
Lê Ngọc Tuấn  
Học viên: Lê Ngọc Tuấn  
i
Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử  
 
Trường Đại học Sao Đỏ  
Luận văn Thạc sĩ  
LỜI CẢM ƠN  
Với lòng kính trọng và biết ơn, đầu tiên em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới  
PGS.TSKH Trần Hoài Linh và TS. Đỗ Văn Đỉnh, hai thầy đã tận tình hƣớng dẫn, giúp  
đỡ em rất nhiều về kiến thức cũng nhƣ tài liệu kỹ thuật và cho em nhiều ý kiến quý  
báu trong suốt quá trình làm luận văn.  
Em xin chân thành cảm ơn các quý thầy cô đã trực tiếp giảng dạy tác giả trong  
toàn khóa học; Cám ơn tập thể các thầy cô giáo Khoa Điện, trƣờng Đại học Sao Đỏ;  
Cám ơn tập thể, lãnh đạo công ty điện lực thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã hỗ  
trợ, cung cấp số liệu để học viên nghiên cứu; Cảm ơn anh, em, bạn bè, đồng nghiệp và  
gia đình đã động viên, hỗ trợ, đóng góp ý kiến giúp em hoàn thành luận văn này.  
Trong thời gian không dài, em đã rất nỗ lực và cố gắng để hoàn thành luận văn  
tốt nghiệp này nhƣng sự hiểu biết và thời gian nghiên cứu thực tế có hạn nên không  
tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận đƣợc sự góp ý của các thầy, cô và bạn đọc  
để luận văn của tác giả đƣợc hoàn thiện hơn.  
Em xin trân trọng cảm ơn!  
Học viên: Lê Ngọc Tuấn  
ii  
Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử  
 
Trường Đại học Sao Đỏ  
Luận văn Thạc sĩ  
MỤC LỤC  
Trang  
Học viên: Lê Ngọc Tuấn  
iii  
Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử  
 
Trường Đại học Sao Đỏ  
Luận văn Thạc sĩ  
Học viên: Lê Ngọc Tuấn  
iv  
Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử  
Trường Đại học Sao Đỏ  
Luận văn Thạc sĩ  
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT  
Từ, cụm từ viết tắt  
Tiếng Anh  
Tiếng Việt  
AI  
Artifical Intelligence  
Trí thông minh nhân tạo  
Biểu đồ phụ tải  
BĐPT  
HTĐ  
Hệ thống điện  
Mạng nơ- rôn truyền thẳng  
MLP  
Multi Layer Perceptron  
Self Organization Map  
nhiều lớp  
MNR  
SOM  
TTNT  
Mạng nơ- rôn  
Kỹ thuật trực quan hoá dữ liệu  
Trí tuệ nhân tạo  
Học viên: Lê Ngọc Tuấn  
v
Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử  
 
Trường Đại học Sao Đỏ  
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ  
Luận văn Thạc sĩ  
Trang  
Pmax.................................................................................................................................48  
hình dự báo Pmax ............................................................................................................48  
Pmin .................................................................................................................................52  
hình dự báo Pmin.............................................................................................................52  
Học viên: Lê Ngọc Tuấn  
vii  
Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử  
 
Trường Đại học Sao Đỏ  
Luận văn Thạc sĩ  
Học viên: Lê Ngọc Tuấn  
viii  
Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử  
Trường Đại học Sao Đỏ  
Luận văn Thạc sĩ  
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Hiện nay, quá trình Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nƣớc và những ứng  
dụng thành tựu khoa học kỹ thuật ngày càng đƣợc triển khai rộng rãi đã đẩy nhanh sự  
phát triển của nền kinh tế, dẫn đến nhu cầu sử dụng điện tăng cao, do vậy xây dựng  
công cụ dự báo về phụ tải điện, làm cơ sở cho việc vận hành và khai thác hiệu quả  
nguồn và lƣới điện, tiến tới hỗ trợ quy hoạch phát triển nguồn là vấn đề cần thiết.  
Việc dự báo nhu cầu điện năng ngắn hạn nhằm hỗ trợ cho quá trình vận hành,  
điều độ lƣới xác định quy luật và đặc điểm của phụ tải điện nhằm phát hiện và giải  
quyết các vấn đề tiềm ẩn trong hệ thống điện.  
Trên biểu đồ phụ tải có hai giá trị đặc biệt là phụ tải cao điểm Pmax và phụ tải  
thấp điểm Pmin và dạng của biểu đồ phụ tải là yếu tố quan trọng hàng đầu của ngƣời  
làm công tác dự báo. Để đạt đƣợc hiệu quả kinh tế cũng nhƣ hƣớng phát triển tƣơng lai  
của HTĐ thì phụ thuộc nhiều vào dự báo chính xác hai giá trị Pmax và Pmin.  
Đến nay đã có rất nhiều mô hình giải pháp đƣợc đề xuất và ứng dụng cho dự  
báo phụ tải điện ngắn hạn, tuy nhiên cho tới thời điểm này vẫn chƣa có một mô hình  
nào đƣợc coi là chuẩn và áp dụng hiệu quả.  
Trong luận văn này tác giả đã đề xuất một mô hình dự báo phụ tải điện ngắn  
hạn sử dụng mô hình hỗn hợp (là mô hình sử dụng phối hợp cả hai giải pháp phi tuyến  
và tuyến tính) và trình bày khả năng ứng dụng của mô hình này trong thực tiễn dự báo  
phụ tải điện ở thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh.  
2. Tính cấp thiết của đề tài.  
Trong những năm gần đây, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc  
ngày càng đƣợc nâng cao nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền kinh tế quốc  
dân, các đề tài nghiên cứu khoa học đƣợc áp dụng nhiều vào thực tế cuộc sống đặc biệt  
là các ngành sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất. Đồng nghĩa với việc ngày  
càng áp dụng các máy móc để thay thế con ngƣời vào dây chuyền sản xuất thì nhu cầu  
sử dụng điện năng ngày càng cao do vậy việc dự báo phụ tải là một trong những đề tài  
đƣợc quan tâm chủ yếu trong lĩnh vực phát điện, truyền tải và phân phối điện năng. Có  
những phƣơng án để tăng nguồn điện năng phục vụ cho sản xuất ngày càng phát triển  
là xây dựng các nhà máy phát điện, nâng cấp đƣờng dây tải điện, trạm biến áp nhƣng  
có phần hạn chế là thiếu sự đồng bộ giữa các hệ thống vì hiện nay việc nâng cấp hệ  
thống không dựa trên quy hoạch tổng thể mà còn mang tính tự phát. Do vậy đã xảy ra  
tình trạng nhƣ: mất cân đối giữa nguồn và lƣới điện, giữa cung và cầu, chất lƣợng điện  
năng bị giảm xuống, độ tin cậy của hệ thống không cao, tổn thất điện năng khi truyền  
tải lớn. Có nhiều nguyên dẫn đến các hậu quả trên nhƣng nguyên nhân chủ yếu là lập  
kế hoạch để vận hành hệ thống điện (HTĐ). Trong kế hoạch vận hành hệ thống điện  
nhƣ phân phối một cách kinh tế, hiệu quả, lên kế hoạch bảo dƣỡng và sửa chữa,...  
Học viên: Lê Ngọc Tuấn  
1
Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử  
     
Trường Đại học Sao Đỏ  
Luận văn Thạc sĩ  
nhiều hoạt động thƣờng đƣợc thực hiện dựa trên việc dự báo phụ tải nhằm giảm hạn  
chế tối đa việc ngừng cung cấp điện. Dự báo phụ tải có thể đƣợc phân thành: Dự báo  
dài hạn từ 10 đến 30 năm, dự báo trung hạn từ 3 đến 10 năm và dự báo ngắn hạn (giờ,  
ngày, tháng, mùa năm). Dự báo ngắn hạn chủ yếu phục vụ việc điều hành sản xuất,  
truyền tải và phân phối năng lƣợng phục vụ cho nhu cầu trực tiếp của sản xuất và đời  
sống, lập kế hoạch sản xuất và kinh doanh.  
Dự báo phụ tải điện là điều hết sức quan trọng, nếu dự báo thừa quá nhiều so  
với nhƣ cầu thực tế khiến cho phải phát huy số lƣợng nguồn phát lớn, nhƣng không sự  
dụng hết công suất của chúng sẽ gây ra lãng phí, nếu dự báo quá thấp so với nhu cầu  
thực tế thì sẽ làm thiếu hụt nguồn điện do vậy phải cắt điện làm ảnh hƣởng đến việc  
sản xuất. Do vậy việc dự báo tốt sẽ giúp phát huy tối đa đƣợc các nguồn phát và hạn  
chế đƣợc việc phải cắt điện làm ảnh hƣởng đến sản xuất, sinh hoạt đời sống.  
3. Mục tiêu nghiên cứu  
- Xây dựng mô hình dự báo công suất phụ tải điện dựa trên kết quả tiêu thụ điện  
năng trong quá khứ từ số liệu tổng hợp của các Công ty điện lực.  
- Nghiên cứu, áp dụng mạng nơ- rôn trong xây dựng các mô hình dự báo  
phi tuyến.  
- Đề xuất mô hình dự báo công suất phụ tải điện cho thành phố Hạ Long, tỉnh  
Quảng Ninh.  
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tƣợng nghiên cứu là bài toán dự báo phụ tải điện của hệ thống điện cụ thể  
ứng dụng cho phụ tải thành phố Hạ Long- tỉnh Quảng Ninh.  
- Phạm vi nghiên cứu: dự báo công suất đỉnh phụ tải (Pmax) và công suất đáy  
phụ tải (Pmin) trong ngày.  
5. Phƣơng pháp nghiên cứu  
- Nghiên cứu tài liệu: Các mô hình, phƣơng pháp dự báo phụ tải điện đã đƣợc  
công bố trên sách, tạp chí,...  
- Nghiên cứu thực nghiệm: tính toán, mô phỏng trên phần mềm Matlab dự báo  
công suất phụ tải điện  
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài  
6.1. Ý nghĩa khoa học  
Bài toán dự báo phụ tải của hệ thống điện đã có nhiều nghiên cứu trên thực tế tại  
nhiều nƣớc trên thế giới. Tuy nhiên trong điều kiện Việt Nam là nƣớc đang có nền kinh  
tế phát triển với tốc độ cao, các mô hình đã đƣợc xây dựng chuyên dụng cho các nƣớc  
có nền kinh tế đã phát triển không đáp ứng đƣợc độ phức tạp của bài toán dự báo tại  
Việt Nam. Ở nƣớc ta, các giải pháp dự báo sử dụng mạng nơ- rôn nhân tạo cũng chỉ  
dừng ở mức lý thuyết hoặc để giải một số bài toán đơn giản, có lƣợng thông tin cần xử  
Học viên: Lê Ngọc Tuấn  
2
Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử  
         
Trường Đại học Sao Đỏ  
Luận văn Thạc sĩ  
lý thấp hoặc độ phức tạp của mô hình không cao. Đến nay đã có một vài nghiên cứu ứng  
dụng mạng nơ- rôn trong dự báo phụ tải hệ thống điện và so sánh với những phƣơng  
pháp hiện tại. Tuy nhiên, các kết quả mới chỉ là bƣớc đầu, chƣa thực sự trở thành hƣớng  
nghiên cứu phổ biến. Do đó, việc xây dựng mô hình ứng dụng mạng nơ- rôn nhân tạo  
trong dự báo là một hƣớng nghiên cứu nên đƣợc triển khai và thử nghiệm.  
6.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể áp dụng vào thực tiễn để dự báo công suất  
phụ tải điện ở các khu vực, vùng kinh tế để có những định hƣớng điều chỉnh quy  
hoạch lƣới điện và quy hoạch phát triển kinh tế.  
7. Cấu trúc của đề tài  
Cấu trúc của luận văn gồm 04 chƣơng, ngoài ra còn mục lục, danh sách các ký  
hiệu, từ viết tắt; bảng/hình vẽ, đồ thị; các tài liệu tham khảo; cụ thể:  
Chƣơng 1: Tổng quan về dự báo phụ tải điện  
Chƣơng 2: Tổng quan về ứng dụng mạng nơ-rôn nhân tạo  
Chƣơng 3: Mô hình lai và ứng dụng trong ƣớc lƣợng phi tuyến  
Chƣơng 4: Xây dựng mô hình, tính toán và mô phỏng  
Kết luận và kiến nghị  
Học viên: Lê Ngọc Tuấn  
3
Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử  
   
Trường Đại học Sao Đỏ  
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ DỰ BÁO PHỤ TẢI ĐIỆN  
1.1. Đặt vấn đề  
Luận văn Thạc sĩ  
Hiện nay, trong đời sống sinh hoạt, phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia  
thì điện năng là nguồn năng lƣợng không thể thiếu đƣợc và sử dụng càng nhiều hơn  
nữa trong tƣơng lai. Nhƣng có một vấn đề đặt ra là điện năng tiêu thụ không phải lúc  
nào cũng giống nhau mà phụ thuộc chủ yếu vào nhu cầu sử dụng nhƣ: số giờ làm việc,  
số giờ sản xuất kinh doanh, nhiệt độ môi trƣờng …. Việc sản xuất điện năng khác với  
các ngành khác sản xuất khác là khả năng đáp ứng nhu ngay nhu cầu sử dụng và gần  
nhƣ không thể dự trữ đƣợc. Do vậy, dự báo phụ tải điện là một yếu tố rất quan trọng  
để tính toán sản xuất, truyền tải, phân phối điện năng nhằm đáp ứng đƣợc nhu cầu sử  
dụng của khách hàng.  
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc.  
Ngày 13/6/2018, Tập đoàn BP công bố "Đánh giá thống kê năng lƣợng thế giới"  
(BP Statistical Review of World Energy) trình bày dữ liệu cập nhật mới nhất của mình  
về tình hình năng lƣợng trên thế giới. Đây là lần đầu tiên báo cáo thƣờng niên này đƣa  
thêm các số liệu về điện [22].85,2% nhiên liệu hóa thạch trong hỗn hợp năng lƣợng  
toàn cầu.  
Vào tháng 3/2018, Cơ quan Năng lƣợng Quốc tế (IEA) đã báo cáo rằng, mức  
tiêu thụ năng lƣợng toàn cầu vào năm 2017 đã tăng 2,1% so với cùng kỳ năm trƣớc.  
Trong báo cáo của mình, BP cho rằng mức tăng thực chất là 2,2% và xác nhận rằng,  
tất cả các nguồn năng lƣợng đã đƣợc sử dụng vào năm ngoái trên thế giới, bao gồm cả  
than (+ 1%, do nhu cầu tăng ở Ấn Độ). Theo BP, đây lần đầu tiên kể từ năm 2013,  
toàn bộ các nguồn năng lƣợng trên thế giới đều đƣợc sử dụng [22].  
Trong tổng mức tiêu thụ đó, nhiên liệu hóa thạch vẫn chiếm 85,2%, giảm rất  
ít so với mức 85,5% của năm 2016. Dầu vẫn là nguồn cung cấp năng lƣợng chính  
trong hỗn hợp năng lƣợng toàn cầu (34,2%), với mức tăng 1,7 triệu thùng/ngày vào  
năm 2017.  
Việc phát triển các nguồn năng lƣợng tái tạo ngoại trừ thủy điện đặc biệt tăng  
mạnh (+ 16,6%) nhƣng vẫn chỉ chiếm 3,5% tổng mức tiêu thụ năng lƣợng sơ cấp của  
thế giới vào năm 2017. Tỷ trọng năng lƣợng hạt nhân vẫn tƣơng đối ổn định (4,4%  
trong năm 2017) [22].  
Đánh giá thống kê của BP về năng lƣợng thế giới đã cung cấp các dữ liệu chi  
tiết về dầu khí. Tiêu thụ dầu và khí đốt tự nhiên tăng lần lƣợt 1,4% và 2,7% trong năm  
2017 [22].  
Hỗn hợp điện vẫn bị thống trị bởi điện than  
Sản lƣợng điện thế giới tăng 2,8% trong năm 2017. Đa phần mức tăng này đến  
từ các nƣớc mới nổi trong khi sản xuất điện ở các nƣớc thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát  
triển Kinh tế (OCDE) vẫn tƣơng đối ổn định từ năm 2010. Năng lƣợng tái tạo và than  
Học viên: Lê Ngọc Tuấn  
4
Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử  
     
Trường Đại học Sao Đỏ  
Luận văn Thạc sĩ  
lần lƣợt chiếm 49% và 44% tổng mức tăng của năng lƣợng điện toàn cầu trong năm  
2017 [22].  
Tuy nhiên, than vẫn còn lâu mới là nguồn cung cấp điện lớn nhất cho thế giới:  
nhiên liệu này chiếm tới 38% sản lƣợng điện thế giới, tƣơng đƣơng mức của năm 1998  
mặc dù có sự sụt giảm nhẹ trong những năm gần đây. Tỷ trọng năng lƣợng “phi hóa  
thạch” thậm chí còn thấp hơn mức của 20 năm trƣớc, sự gia tăng của năng lƣợng tái  
tạo (chiếm 25% sản lƣợng điện toàn cầu vào năm 2017) chỉ bù đắp đƣợc một phần cho  
sự sụt giảm của năng lƣợng hạt nhân (giảm 10% vào năm 2017) [22].  
Một bƣớc thụt lùi lớn  
Lƣợng phát thải CO2 toàn cầu liên quan đến sử dụng năng lƣợng tăng 1,6%  
trong năm 2017 sau 3 năm liên tiếp ở mức ổn định. Sự suy giảm cƣờng độ năng lƣợng  
đã chậm lại trong bối cảnh tăng trƣởng kinh tế mạnh mẽ và sự gia tăng về nhu cầu than  
đã ảnh hƣởng đến lƣợng phát thải này [22].  
Sự thay đổi này, đƣợc BP mô tả là “bƣớc lùi lớn”, khẳng định khoảng cách rất  
quan trọng giữa các tham vọng thể hiện ở Hội nghị COP21 về chống biến đổi khí hậu  
và xu hƣớng hiện tại. IPCC (nhóm các chuyên gia liên chính phủ về thay đổi khí hậu)  
ƣớc tính rằng, để đạt đƣợc mục tiêu của Hiệp định Paris tại COP21 thì thế giới cần  
phải giảm phát thải khí nhà kính toàn cầu 40-70% vào năm 2050 (so với mức của năm  
2010) và nền kinh tế toàn cầu phải gần nhƣ trung hòa đƣợc lƣợng khí carbon trong nửa  
sau của thế kỷ XXI [22].  
1.3. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc  
Ở nƣớc ta dự báo phụ tải ngắn hạn cũng thu hút sự quan tâm nhất định trong  
ngành điện, các trƣờng Đại học và Viện nghiên cứu. Một vài công ty điện lực, cơ  
quan điều độ quốc gia đã bắt đầu xây dựng chƣơng trình dự báo phụ tải điện. Ngoài  
một số nghiên cứu ứng dụng mô hình hồi quy. Có thể thấy rằng nhu cầu dự báo phụ  
tải ngắn hạn ở các công ty điện lực chỉ đƣợc thực hiện bằng phƣơng pháp chuyên gia  
dựa trên kinh nghiệm của các kỹ sƣ điều độ. Nên mang tính chất rủi ro và độ chính  
xác không cao.  
Nếu dự báo phụ tải điện quá thừa so với nhu cầu thực tế thì dẫn đến việc phải  
huy động một số lƣợng lớn nguồn phát, nhƣng thực tế không dùng hết công suất của  
chúng sẽ gây lãng phí. Nếu kết quả dự báo phụ tải điện quá thấp so với nhu cầu thực tế  
sẽ dẫn đến tình trạng thiếu nguồn điện, ảnh hƣởng đến phát triển của nền kinh tế quốc  
dân. Khi kết quả dự báo tốt sẽ giúp cho việc huy động nguồn tốt và điều độ cũng tốt có  
lợi ích về kinh tế.  
Do vậy, việc áp dụng mạng nơ- rôn nhân tạo cho dự án báo phụ tải điện cho  
một thành phố du lịch là yếu tố rất quan trọng.  
Học viên: Lê Ngọc Tuấn  
5
Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử  
 
Trường Đại học Sao Đỏ  
Luận văn Thạc sĩ  
1.4. Định hƣớng nghiên cứu của đề tài  
- Tìm hiểu về các mô hình thu thập, xử lý, dự báo công suất phụ tải điện.  
- Nghiên cứu về khả năng ứng dụng mạng nơ- rôn trong xây dựng các mô  
hình dự báo phi tuyến.  
- Đề xuất ứng dụng mô hình lai gồm một khối tuyến tính mắc song song với  
một khối phi tuyến (sử dụng mạng MLP) để ƣớc lƣợng tốt hơn trong dự công suất phụ  
tải điện chỉ dựa trên các kết quả đo công suất phụ tải trong ngày ở quá khứ từ số tổng  
hợp của Công ty điện lực.  
- Đánh giá, lựa chọn các thông số quá khứ cho mô hình dự báo trên cơ sở các hệ  
số khai triển tuyến tính.  
- Triển khai, thử nghiệm mô hình dự báo công suất đỉnh phụ tải và công suất  
đáy phụ tải trong ngày cho khu vực Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.  
- Tính toán mô phỏng để thử nghiệm độ chính xác của mô hình đƣợc đề xuất.  
1.5. Kết luận chƣơng 1  
Nhu cầu sử dụng năng lƣợng điện hiện nay ngày càng tăng cao đƣa ra không ít  
những khó khăn về sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng nhằm đáp ứng đủ cho  
nhu cầu sử dụng điện hiện nay. Việc ứng dụng mạng nơ- rôn nhân tạo để dự báo phụ  
tải điện là một trong những giải pháp dự báo lƣợng điện năng tiêu thụ từ đó đƣa ra  
đƣợc các phƣơng thức sản xuất cho phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Tiếp theo chƣơng 2  
sẽ đi tìm hiều về mạng nơ- rôn nhân tạo.  
Học viên: Lê Ngọc Tuấn  
6
Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử  
   
Trường Đại học Sao Đỏ  
Luận văn Thạc sĩ  
CHƢƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG MẠNG NƠ-RÔN NHẬN TẠO  
TRONG DỰ BÁO PHỤ TẢI ĐIỆN  
2.1. Trí tuệ nhân tạo [23, 27].  
Trí tuệ nhân tạo là trí thông minh của máy móc do con ngƣời tạo ra có khả năng  
thực hiện các công việc mà con ngƣời thƣờng phải xử lý và khi những dáng vẻ, khả  
năng xử lý một số công việc tốt hơn hoặc tƣơng đƣơng với con ngƣời thì đó đƣợc gọi  
là máy thông minh hay máy đó có trí thông minh. Sự thông minh của máy móc đƣợc  
đánh giá trên kết quả của nó có giống với con ngƣời hay không.  
(AI: Artificial Intelligence) có thể đƣợc định nghĩa nhƣ một ngành của khoa học  
máy tính liên quan đến việc tự động hóa các hành vi thông minh. AI là một bộ phận  
của khoa học máy tính và do đó nó phải đƣợc đặt trên những nguyên lý lý thuyết vững  
chắc, có khả năng ứng dụng đƣợc của lĩnh vực này [23, 27].  
Khái niệm về công nghệ AI xuất hiện đầu tiên bởi John McCarthy, một nhà  
khoa học máy tính Mỹ, vào năm 1956 tại Hội nghị The Dartmouth. Ngày nay, công  
nghệ AI là một thuật ngữ bao gồm tất cả mọi thứ từ quá trình tự động hoá robot đến  
ngƣời máy thực tế [23, 27].  
Công nghệ AI gần đây trở nên nổi tiếng, nhận đƣợc sự quan tâm của nhiều  
ngƣời là nhờ Dữ liệu lớn (Big Data), mối quan tâm của các doanh nghiệp về tầm quan  
trọng của dữ liệu cùng với công nghệ phần cứng đã phát triển mạnh mẽ hơn, cho phép  
xử lý công nghệ AI với tốc độ nhanh hơn bao giờ hết [23].  
Ở thời điểm hiện tại, Thuật ngữ này thƣờng dùng để nói đến các máy tính có  
mục đích không nhất định và ngành khoa học nghiên cứu về các lý thuyết và ứng dụng  
của trí tuệ nhân tạo. Tức là mỗi loại trí tuệ nhân tạo hiện nay đang dừng lại ở mức độ  
những máy tính hoặc siêu máy tính dùng để xử lý một loại công việc nào đó nhƣ điều  
khiển một ngôi nhà, nghiên cứu nhận diện hình ảnh, xử lý dữ liệu của bệnh nhân để  
đƣa ra phác đồ điều trị, xử lý dữ liệu để tự học hỏi, khả năng trả lời các câu hỏi về  
chẩn đoán bệnh, trả lời khách hàng về các sản phẩm của một công ty,...  
2.2. Nơ-rôn sinh học  
Nơ-rôn sinh học là những tế bào thần kinh chính thức có chức năng cảm ứng và  
truyền dẫn xung điện. Nó là đơn vị cơ bản cấu tạo nên hệ thống thần kinh và là phần  
quan trọng nhất của bộ não đóng vai trò rất quan trọng trong cơ thể. Khi chúng bị tổn  
thƣơng, con ngƣời bị rối loạn vận động và cảm giác, dẫn đến hiện tƣợng run rẩy chân  
tay hoặc tê liệt một phần hoặc toàn bộ cơ thể.  
Nơ- rôn là đơn vị cấu tạo của hệ thần kinh, trong hệ thần kính có khoảng 1000  
tỷ nơ- rôn. Mỗi nơ- rôn là một tế bào đặc biệt, có thể truyền các tín hiệu điện. Nơ- rôn  
có cấu trúc rễ ngõ vào, thân tế bào và cấu trúc rễ ngõ ra (sợi thần kinh). Các sợi thần  
kinh của một tế bào kết nối với các tế bào khác thông qua synapse. Khi một nơ- rôn  
kích hoạt, nó tạo ra xung điện hóa học dọc theo sợi thần kinh. Tín hiệu này đi qua các  
Học viên: Lê Ngọc Tuấn  
7
Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử  
     
Trường Đại học Sao Đỏ  
Luận văn Thạc sĩ  
synapse đến các nơ- rôn khác, và tiếp tục bị kích hoạt. Nơ- rôn hoạt động chỉ khi tất cả  
các tín hiệu nhận đƣợc ở thân tế bào thông qua rễ ngõ vào vƣợt quá một mức nào đó  
(ngƣỡng hoạt động). Cƣờng độ tín hiệu thu đƣợc của nơron phụ thuộc vào độ nhạy của  
synapse (tế bào thu nhận) [24].  
Cấu tạo của mỗi nơ- rôn điển hình gồm các bộ phận: thân, đuôi gai và sợi trục.  
Hình 2.1. Cấu tạo nơ- rôn sinh học [28].  
2.3. Mạng nơ rôn nhân tạo  
2.3.1. Lịch sử hình thành và phát triển.  
Những năm gần đây, khá nhiều sách, báo, công trình nghiên cứu khoa học đề  
cập đến các kỹ thuật tính toán, ngƣời ta hay nhắc đến nhiều thuật ngữ nhƣ: máy tính  
thông minh, máy tính thế hệ V, hệ chuyên gia, mạng ngữ nghĩa,... Các ngôn ngữ lập  
trình nhƣ LISP, PROLOG mở đƣờng cho việc áp dụng hàng loạt các hệ thống chƣơng  
trình có khả năng “thông minh”.  
Trƣớc đây, mỗi khi nói đến Trí tuệ nhân tạo (TTNT) ngƣời ta thƣờng quan tâm  
đến việc tạo lập các máy tính có khả năng “suy nghĩ”, thậm chí trong một số phạm vi  
hẹp nào đó, có thể cạnh tranh hoặc vƣợt quá khả năng của bộ não con ngƣời. Những  
hy vọng này trong một thời gian dài đã ảnh hƣởng rất nhiều đến các nghiên cứu trong  
phòng thí nghiệm. Mặc dù những mô hình tƣơng tự các máy tính thông minh đã đƣợc  
đƣa ra nhiều năm trƣớc, nhƣng chỉ từ khi Alan Turing công bố những kết quả nghiên  
cứu quan trọng đầu tiên, ngƣời ta mới bắt đầu thực sự nghiên cứu đến các vấn đề  
TTNT một cách nghiêm túc. Phát hiện của Turing cho rằng chƣơng trình có thể đƣợc  
lƣu trữ trong bộ nhớ để sau đó đƣợc thực hiện trên cơ sở các phép toán cơ bản thao tác  
với các bit “0”, “1”. Điều này đã tạo nên nền tảng của những máy tính hiện đại. Việc  
lƣu trữ chƣơng trình trong máy cho phép thay đổi chức năng của nó một cách nhanh  
chóng và dễ dàng thông qua việc nạp một chƣơng trình mới vào bộ nhớ. Theo một  
nghĩa nào đó, khả năng này làm cho máy tính có khả năng học và suy nghĩ. Đó cũng  
Học viên: Lê Ngọc Tuấn  
8
Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử  
   
Trường Đại học Sao Đỏ  
Luận văn Thạc sĩ  
chính là một trong những biểu hiện quan trọng đầu tiên của những máy tính đƣợc trang  
bị TTNT.  
Năm 1956, chƣơng trình dẫn xuất kết luận trong hệ hình thức đã đƣợc công bố.  
Tiếp theo đó, năm 1959 chƣơng trình chứng minh các định lý hình học phẳng và  
chƣơng trình giải quyết bài toán vạn năng (GPS - General Problem Solving) đã đƣợc  
đƣa ra. Tuy vậy chỉ cho đến khoảng năm 1960 khi McCathy ở MIT (Massachussets  
Institute of Technology) đƣa ra ngôn ngữ lập trình đầu tiên dùng cho trí tuệ nhân tạo  
LISP (list processing), các nghiên cứu về TTNT mới bắt đầu phát triển mạnh mẽ.  
Thuật ngữ TTNT do Marvin Minsky một chuyên gia nổi tiếng cũng ở MIT đƣa ra năm  
1961 trong bài báo “ Steps Forwards To Artificial Intelligence”. Những năm 60 có thể  
xem là một mốc quan trọng trong quá trình xây dựng các máy có khả năng suy nghĩ.  
Các chƣơng trình chơi cờ và các chƣơng trình chứng minh định lý toán học đầu tiên  
cũng đƣợc công bố trong khoảng thời gian này [23].  
Những bế tắc, hạn chế thành công của các công trình nghiên cứu TTNT trong  
những năm 60 chính là do giới hạn khả năng của các thiết bị, bộ nhớ và đặc biệt là yếu  
tố thời gian thực hiện. Chính những yếu tố này không cho phép tổng quát hóa những  
thành công bƣớc đầu đạt đƣợc trong các hệ chƣơng trình TTNT đã xây dựng. Tuy rằng  
vào giữa những năm 70, bộ nhớ máy tính và thời gian tính toán đã đƣợc nâng cao đáng  
kể về chất, song những cách tiếp cận khác nhau đến TTNT vẫn chƣa đem tới những  
thành công thật sự do sự bùng nổ tổ hợp trong quá trình tìm kiếm lời giải cho các bài  
toán đặt ra.  
Cuối những năm 70, một số nghiên cứu cơ bản trong các lĩnh vực nhƣ xử lý  
ngôn ngữ tự nhiên, biểu diễn tri thức, lý thuyết giải quyết vấn đề đã đem lại diện mạo  
mới cho TTNT. Thị trƣờng tin học đã bắt đầu đón nhận những sản phẩm TTNT ứng  
dụng đầu tiên mang tính thƣơng mại. Đó là các hệ chuyên gia đƣợc áp dụng trong các  
lĩnh vực khác nhau. Hệ chuyên gia là các phần mềm máy tính, chứa các thông tin và tri  
thức về một lĩnh vực cụ thể nào đó, có khả năng giải quyết những yêu cầu của ngƣời  
dùng ở một mức độ nào đó với trình độ nhƣ một chuyên gia có kinh nghiệm lâu năm.  
Một trong những hệ chuyên gia đầu tiên đƣợc sử dụng thành công trong thực tế là hệ  
MYCIN, đƣợc thiết kế và cài đặt tại trƣờng Đại học Tổng Hợp Stanford [23].  
Một sự kiện quan trọng trong sự phát triển của khoa học TTNT là sự ra đời  
của ngôn ngữ PROLOG, do Alain Calmerauer đƣa ra năm 1972. Năm 1981, dự án  
của Nhật Bản xây dựng các máy tính thế hệ thứ V lấy ngôn ngữ PROLOG nhƣ là  
ngôn ngữ cơ sở đã làm thay đổi khá nhiều tình hình phát triển TTNT ở Mỹ cũng nhƣ  
châu Âu.  
Giai đoạn 1981 trở đi ngƣời ta cảm nhận khá rõ nét rằng các chuyên gia về  
TTNT đang dần chuyển các kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm sang cài đặt các  
ứng dụng cụ thể. Có thể nói đây cũng là giai đoạn cạnh tranh ráo riết của các công ty,  
Học viên: Lê Ngọc Tuấn  
9
Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử  
Trường Đại học Sao Đỏ  
Luận văn Thạc sĩ  
các viện nghiên cứu hàng đầu nhằm đƣa ra thị trƣờng các sản phẩm phần mềm ứng  
dụng kỹ thuật TTNT [23].  
Cuối những năm 80, đầu những năm 90 thị trƣờng các sản phẩm dân dụng đã có  
khá nhiều sản phẩm ở trình độ cao nhƣ máy giặt, máy ảnh,... sử dụng TTNT. Các hệ  
thống nhận dạng và xử lý hình ảnh, tiếng nói đang ngày càng thúc đẩy sự phát triển kỹ  
thuật mạng Neuron. Sự xích lại của hai cách tiếp cận: Tiếp cận mờ trong lập luận xấp  
xỉ và kỹ thuật mạng Neuron đã và đang gây đƣợc sự quan tâm đặc biệt của các chuyên  
gia tin học. Bên cạnh sự xuất hiện của các hệ chuyên gia, các ứng dụng công nghiệp và  
quản lý xã hội, quản lý kinh tế cũng đòi hỏi sự ra đời của các hệ thống xử lý tri thức –  
dữ liệu tích hợp.  
2.3.2. Mô hình mạng nơ rôn nhân tạo [25, 2].  
Hình 2.2. Mô hình mạng nơ- rôn nhân tạo[25]  
trong đó:  
xi : các đầu vào  
wji : các trọng số tƣơng ứng với các đầu vào θj : độ lệch (bias)  
aj : đầu vào mạng (net-input) zj : đầu ra của nơ- rôn  
g(x): hàm chuyển (hàm kích hoạt).  
Trong một mạng nơ- rôn có ba kiểu đơn vị:  
Các đơn vị đầu vào (Input units), nhận tín hiệu từ bên ngoài.  
Các đơn vị đầu ra (Output units), gửi dữ liệu ra bên ngoài.  
Các đơn vị ẩn (Hidden units), tín hiệu vào (input) và ra (output) của nó nằm  
trong mạng.  
Mỗi đơn vị j có thể có một hoặc nhiều đầu vào: x0, x1, x2, … xn, nhƣng chỉ có  
một đầu ra zj. Một đầu vào tới một đơn vị có thể là dữ liệu từ bên ngoài mạng, hoặc  
đầu ra của một đơn vị khác, hoặc là đầu ra của chính nó.  
Nơ- rôn nhân tạo nhận một số các ngõ vào từ dữ liệu gốc, hay từ ngõ ra các  
nơron khác trong mạng. Mỗi kết nối đến ngõ vào có một cƣờng độ (hay trọng số),  
những trọng số này tƣơng ứng với tác dụng synapse trong nơron sinh học. Mỗi nơron  
cũng có một giá trị ngƣỡng.  
Học viên: Lê Ngọc Tuấn  
10  
Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử  
   
Trường Đại học Sao Đỏ  
Luận văn Thạc sĩ  
Tín hiệu đƣợc truyền qua hàm kích hoạt (hay còn gọi là hàm truyền) tạo giá trị  
ngõ ra nơ- rôn.  
2.3.3. Các hàm kích hoạt [1, 2].  
Phần lớn các đơn vị trong mạng nơ- rôn chuyển net input bằng cách sử dụng  
một hàm vô hƣớng (scalar-to-scalar function) gọi là hàm kích hoạt, kết quả của hàm  
này là một giá trị gọi là mức độ kích hoạt của đơn vị (unit's activation). Loại trừ khả  
năng đơn vị đó thuộc lớp ra, giá trị kích hoạt đƣợc đƣa vào một hay nhiều đơn vị khác.  
Các hàm kích hoạt thƣờng bị ép vào một khoảng giá trị xác định, do đó thƣờng đƣợc  
gọi là các hàm bẹp (squashing). Các hàm kích hoạt hay đƣợc sử dụng là:  
- Hàm đồng nhất (Linear function, Identity function ).  
g(x) x  
(2.1)  
Nếu coi các đầu vào là một đơn vị thì chúng sẽ sử dụng hàm này. Đôi khi một  
hằng số đƣợc nhân với net-input để tạo ra một hàm đồng nhất.  
Hình 2.3. Hàm đồng nhất (Identity function)  
- Hàm bƣớc nhị phân (Binary step function, Hard limit function).  
Hàm này cũng đƣợc biết đến với tên "Hàm ngƣỡng" ( Threshold function hay  
Heaviside function). Đầu ra của hàm này đƣợc giới hạn vào một trong hai giá trị:  
g(x)  
(2.2)  
Dạng hàm này đƣợc sử dụng trong các mạng chỉ có một lớp. Trong hình vẽ sau,  
θ đƣợc chọn bằng “1”.  
g(x  
x
Hình 2.4. Hàm bước nhị phân (Binary step function)  
Học viên: Lê Ngọc Tuấn 11 Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử  
     
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 77 trang yennguyen 20540 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Ứng dụng mạng nơ-rôn nhân tạo dự báo phụ tải điện thành phố Hạ Long - Tỉnh Quảng Ninh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_ung_dung_mang_no_ron_nhan_tao_du_bao_phu_tai_dien_t.pdf