Luận văn Truyện cổ tích sinh hoạt người Việt dưới góc nhìn văn hóa ứng xử

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Đào Ngọc Ngân Giang  
TRUYỆN CỔ TÍCH SINH HOẠT NGƯỜI VIỆT  
DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA ỨNG XỬ  
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VĂN HỌC  
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM  
Thành phố Hồ Chí Minh – 2020  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Đào Ngọc Ngân Giang  
TRUYỆN CỔ TÍCH SINH HOẠT NGƯỜI VIỆT  
DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA ỨNG XỬ  
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam  
Mã số  
: 8220121  
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VĂN HỌC  
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS. TS. NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP  
Thành phố Hồ Chí Minh – 2020  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan nội dung nghiên cứu trong luận văn này là công trình  
nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS. Nguyễn Thị  
Ngọc Điệp. Các kết quả nêu trong luận văn đều có cơ sở khoa học. Mọi trích  
dẫn trong luận văn đều có xuất xứ rõ ràng. Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm  
về công trình nghiên cứu của mình.  
TP. Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 05 năm 2020  
Tác giả  
Đào Ngọc Ngân Giang  
 
LỜI CẢM ƠN  
Công trình này hoàn thành, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tác giả  
luận văn thực sự rất cảm kích trước sự giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể.  
Trước hết, xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Điệp,  
người cô hướng dẫn rất tận tâm, tận tình giúp đỡ, giảng giải, bổ khuyết những  
kiến thức liên quan đến đề tài luận văn cho người viết. Cô cũng luôn động viên  
tinh thần, tạo cơ hội và điều kiện để người viết tham gia vào các Hội thảo nghiên  
cứu về văn học. Chỉ tiếc rằng, trong khả năng và thời gian có hạn, người viết  
chưa thực sự đáp ứng mong mỏi và kì vọng của cô. Em xin chân thành cảm  
ơn cô.  
Em xin cảm ơn các thầy cô giảng dạy bộ môn lớp Văn học Việt Nam  
K28. Nhờ sự nhiệt tình và tận tâm của quý thầy cô mà em và cả lớp đã hoàn  
thành chương trình Cao học và đã học được những điều bổ ích để vận dụng vào  
trong luận văn và cả trong quá trình công tác sau này.  
Em cũng xin cảm ơn lãnh đạo và các thầy cô Phòng Sau Đại học Trường  
Đại học Sư phạm TP.HCM vì đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành  
đúng kế hoạch học tập, đạt được kết quả tốt nhất. Xin cảm ơn Ban Giám hiệu  
và thầy cô tổ bộ môn Văn trường THPT Thanh Đa (Bình Thạnh, Thành phố Hồ  
Chí Minh) vì đã tạo điều kiện và sắp xếp thời gian để em được đi học nâng cao  
chuyên môn. Đồng thời, cũng xin gửi lời tri ân đến các cán bộ, thủ thư ở  
Thư viện trường Đại học Sư phạm TP.HCM.  
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bè bạn, học sinh đã luôn  
động viên và giúp đỡ để tiếp thêm sức mạnh cho người viết hoàn thành luận  
văn.  
Xin tri ân tất cả với một tấm lòng nhiệt thành nhất!  
 
MỤC LỤC  
Trang phụ bìa  
 
1
MỞ ĐẦU  
1. Lí do chọn đề tài  
Truyện cổ tích là một thể loại văn học dân gian được phổ biến trong một  
phạm vi hết sức rộng lớn và hấp dẫn mọi đối tượng bạn đọc trong mọi thời  
điểm. Từ lâu, truyện cổ tích được đánh giá là một trong những thể loại quan  
trọng nhất của loại hình tự sự dân gian, bao gồm ba tiểu loại: cổ tích loài vật,  
cổ tích thần kì, và cổ tích sinh hoạt (còn gọi là truyện cổ tích thế sự). Trong đó,  
truyện cổ tích sinh hoạt được nhìn nhận và đánh giá là tiểu loại khá tiêu biểu,  
mang nhiều nét đặc trưng của thể loại cổ tích. Tiểu loại này thu hút người đọc  
không phải ở những yếu tố kỳ ảo, những xung đột gay gắt, kịch tính như ở cổ  
tích thần kỳ mà nó tạo ra sức hấp dẫn từ chính chất liệu hiện thực, từ hơi thở  
cuộc sống hiện thực được thổi vào trong từng câu chuyện.  
Văn hóa là một vấn đề được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu. Văn  
học là một bộ phận của văn hóa. Vì vậy khi nghiên cứu văn học dân gian ta  
không thể không quan tâm tới văn hóa. Con người với văn hóa giao tiếp ứng  
xử với thiên nhiên và xã hội là những đề tài quen thuộc trong tất cả các thể loại  
văn học dân gian, đặc biệt là tiểu loại cổ tích sinh hoạt. Truyện cổ tích sinh hoạt  
với những câu truyện về đời sống là nơi bảo tồn và tái tạo những giá trị của văn  
hóa ứng xử. Con người trong giao tiếp hàng ngày đều phải tuân theo những  
chuẩn mực của văn hóa ứng xử. Điều này được phản ánh rất rõ ràng trong  
truyện cổ tích sinh hoạt.  
Việc nghiên cứu truyện cổ tích sinh hoạt người Việt dưới góc độ văn hóa,  
mà cụ thể là văn hóa ứng xử đối với chúng tôi, những người giáo viên trực tiếp  
giảng dạy môn Ngữ văn tại trường trung học phổ thông là hướng nghiên cứu  
thiết thực và sẽ bổ trợ hiệu quả cho công việc giảng dạy của mình. Bởi những  
kết quả thu thập được qua đề tài nghiên cứu này sẽ hỗ trợ cho việc nhìn nhận  
văn học dân gian trên bình diện liên kết với văn hóa dân gian, từ đó khiến cho  
 
2
việc truyền đạt những giá trị văn hóa truyền thống cho học sinh trở nên hiệu  
quả hơn, đặc biệt là văn hóa ứng xử, giúp học sinh phát triển toàn diện về học  
vấn và nhân cách.  
Với những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài Truyện cổ  
tích sinh hoạt người Việt dưới góc nhìn văn hóa ứng xử với hy vọng tìm hiểu  
về những giá trị của truyện cổ tích sinh hoạt người Việt trong mối liên hệ với  
văn hóa ứng xử truyền thống. Đồng thời, việc nghiên cứu đề tài này cũng sẽ  
phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập truyện cổ tích sinh hoạt  
ở các bậc học nói chung.  
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề  
2.1. Một số công trình đã nghiên cứu về truyện cổ tích sinh hoạt  
người Việt  
Truyện cổ tích là thể loại được sự chú ý nghiên cứu từ rất sớm so với  
nhiều thể loại khác của văn học dân gian. Đã có rất nhiều giáo trình và công  
trình nghiên cứu có giá trị trong và ngoài nước với các bài viết, chuyên luận,  
luận văn đề cập đến nhiều góc độ của truyện cổ tích như nguồn gốc, đặc trưng  
hay phân loại. Trong đó, cổ tích sinh hoạt là một tiểu loại của cổ tích. Nó chứa  
đựng những giá trị to lớn về ý nghĩa hiện thực và giá trị nhân đạo, văn hóa. Vì  
vậy, nghiên cứu tiểu loại cổ tích sinh hoạt là một hướng nghiên cứu đang rất  
được quan tâm những năm gần đây.  
Khi tổng hợp những nghiên cứu, nhận định của các nhà khoa học trong  
và ngoài nước nghiên cứu về Folkore, Chu Xuân Diên trong bài viết Truyện cổ  
tích dưới mắt các nhà khoa học (2001) đã thống kê các cách phân loại truyện  
cổ tích trên thế giới. Trong đó, cách phân loại thành ba tiểu loại cổ tích bao  
gồm cổ tích thần kỳ, cổ tích loài vật và cổ tích sinh hoạt của O.Mile và Prop là  
cách được nhiều nhà nghiên cứu Folkore đồng thuận. Qua sự tổng hợp của bài  
nghiên cứu này, có thể thấy được vấn đề nghiên cứu cổ tích sinh hoạt như một  
tiểu loại của truyện cổ tích với những đặc điểm chung và riêng biệt trong cùng  
3
một thể loại của truyện kể dân gian đã được các nhà nghiên cứu đặt vấn đề và  
quan tâm từ rất sớm.  
Trong công trình Văn học dân gian những công trình nghiên cứu (2003)  
của Bùi Mạnh Nhị, Hồ Quốc Hùng, Nguyễn Thị Ngọc Điệp, ở phần Truyện cổ  
tích, Chu Xuân Diên có cái nhìn cụ thể hơn về tiểu loại cổ tích sinh hoạt. Theo  
ông, cổ tích sinh hoạt có nội dung phản ánh những xung đột trong gia đình và  
xã hội thời kỳ xã hội có phân chia giai cấp. Nhưng khi so sánh với cổ tích thần  
kỳ, một tiểu loại khác của cổ tích có những nội dung phản ánh tương tự, ông  
lại chỉ ra đặc điểm riêng để phân loại cổ tích sinh hoạt như vai trò của các yếu  
tố thần kỳ hay kết thúc truyện, số phận của nhân vật chính. Đây là những phát  
hiện có yếu tố quan trọng trong công việc thu thập và thống kê truyện cổ tích  
sinh hoạt người Việt khi tiến hành đề tài nghiên cứu.  
Trong giáo trình Văn học dân gian của Vũ Anh Tuấn, Phạm Thu Yến,  
Nguyễn Việt Hùng, Phạm Đặng Xuân Hương viết về truyện cổ tích sinh hoạt  
như sau  
Truyện cổ tích sinh hoạt được phân chia theo đề tài và nội dung phản ánh,  
mỗi câu truyện là một bài học về những vấn đề đạo đức, ứng xử, cách sống  
của con người. Sức hấp dẫn của nó không nằm ở các yếu tố hoang đường,  
kỳ ảo (tiểu loại này hầu như yếu tố kỳ ảo chỉ mang tính điểm xuyết, xuất  
hiện ở phần kết của truyện), hay ở kết cấu ly kỳ, phức tạp, mà nằm ở sự  
giản dị của câu truyện, ở những tình huống sinh hoạt thường ngày  
(Vũ Anh Tuấn, Phạm Thu Yến, Nguyễn Việt Hùng, Phạm Đặng Xuân  
Hương, 2012).  
Trong một số bài viết của tác giả Triều Nguyên trên website của Tạp chí  
sông Hương đã có sự phân biệt cụ thể giữa truyện cổ tích sinh hoạt với những  
thể loại khác của văn học dân gian có một số nét tương đồng về nội dung và  
4
nghệ thuật. Bài viết Sự khác nhau giữa truyện cười và truyện cổ tích sinh hoạt  
có gây cười được đăng ngày 23/2/2010, tác giả đã chỉ ra sự khác biệt của truyện  
cổ tích sinh hoạt có yếu tố gây cười và thể loại truyện cười thể hiện rõ ở ba đặc  
điểm là dung lượng lời kể, kết cấu và kết thúc của hai thể loại này. Với bài viết  
khác là Phân định giữa truyện truyền kỳ và truyện cổ tích thế tục Việt Nam vào  
năm 2016 cũng trên website của Tạp chí sông Hương, Triều Nguyên lại khu  
biệt rõ truyện cổ tích sinh hoạt (hay còn gọi là cổ tích thế tục) với một thể loại  
dễ nhầm lẫn nhất với nó là truyện truyền kỳ. Nếu truyện cổ tích sinh hoạt nhằm  
hướng tới những người bình thường, thì truyện truyền kì nhằm vào lớp người  
có học thức và giới quan lại. Truyện truyền kì có thể có lời bàn hay lời bình,  
đặt ở cuối truyện còn cổ tích sinh hoạt thì không. Hai lý do được tác giả đưa ra  
đã giải thích sự gần gũi cũng như khác biệt giữa truyện truyền kỳ và truyện cổ  
tích sinh hoạt. Hai bài viết trên của Triều Nguyên đã giúp cho công việc nghiên  
cứu dễ dàng hơn khi việc đưa ra những tiêu chí để phân loại truyện cổ tích sinh  
hoạt với các thể loại văn học dân gian khác.  
Tác giả Lưu Thị Hồng Việt trong bài viết Không gian trong truyện cổ  
tích sinh hoạt của Việt Nam – Hàn Quốc đăng trên webssite Văn hóa Nghệ An  
năm 2014 đã khái quát các dạng không gian đời sống sinh hoạt của con người  
Việt Nam như không gian tự nhiên, không gian xã hội với không gian biển,  
không gian gia đình, không gian chợ, không gian làng, không gian lễ hội… “đi  
vào trong cổ tích sinh hoạt góp phần làm cho cốt truyện phát triển, phản ánh  
phạm vi hoạt động của nhân vật, phản ánh đời sống vật chất và đời sống tinh  
thần phong phú, đa dạng” của cộng đồng (Lưu Thị Hồng Việt, 2014).  
Luận văn thạc sĩ Kiểu nhân vật thông minh trong tiểu loại truyện cổ tích  
sinh hoạt người Việt của Phạm Thị Thu Huyền vào năm 2011 tại trường Đại  
học sư phạm Hà Nội là công trình đi sâu vào nghiên cứu một kiểu nhân vật  
trong hệ thống các nhóm nhân vật của truyện cổ tích sinh hoạt với các biểu hiện  
của việc dùng trí thông minh của mình để phá giải những lời thánh đố, những  
5
chiêu trò kén rể hay trong xử kiện,… Luận văn đã đóng góp những nghiên cứu  
về loại hình nhân vật với những đặc điểm cụ thể, làm rõ hơn những giá trị truyền  
thống của người Việt trong việc xem trọng trí tuệ, tài năng của con người.  
2.2. Một số công trình nghiên cứu về văn hóa ứng xử người Việt  
Văn hóa là một phạm trù nghiên cứu rất rộng. Các nhà nghiên cứu khi  
tìm hiểu về văn hóa đã chú ý tới rất nhiều phương diện khác nhau của nó, trong  
đó có văn hóa ứng xử của người Việt. Chúng tôi chú ý đến các cuốn giáo trình  
có tính chất nền tảng như: Cơ sở văn hóa Việt Nam (1999), Hệ giá trị Việt Nam  
từ truyền thống đến hiện đại (2016) của Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt  
Nam (2012) của Trần Quốc Vượng, Bản sắc văn hóa Việt Nam (2018) của Phan  
Ngọc. Trong các cuốn sách và giáo trình trên, các nhà nghiên cứu đều đưa ra  
khái niệm văn hóa và văn hóa học; phân biệt văn hóa với văn hiến, văn vật và  
chỉ ra chức năng của văn hóa trong đời sống con người. Trên cơ sở đó, các tác  
giả phân tích, lí giải đặc trưng của văn hóa Việt Nam trên các mặt: Văn hóa  
nhận thức, văn hóa tổ chức đời sống tập thể, cá nhân và văn hóa ứng xử.  
Trong Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại (2016), Trần  
Ngọc Thêm đã đưa ra đưa ra năm giá trị cơ bản nhất tạo nên những đặc trưng  
gốc của bản sắc văn hóa Việt Nam bao gồm tính cộng đồng, tính ưa hài hòa,  
khuynh hướng thiên về âm tính, tính tổng hợp và tính linh hoạt. Năm đặc trưng  
cơ bản này có mối tương quan với cấu trúc của văn hóa gồm văn hóa nhận thức,  
văn hóa tổ chức đời sống tập thể, văn hóa tổ chức đời sống cá nhân, văn hóa  
ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội.  
Trong Bản sắc văn hóa Việt Nam (2018), Phan Ngọc đã đánh giá về bản  
sắc văn hóa dân tộc bằng cách tiếp cận qua những yếu tố như Tổ quốc, gia đình,  
thân phận, diện mạo. Trong từng yếu tố, Phan Ngọc so sánh những biểu hiện  
của văn hóa truyền thống người Việt trong sự tương quan với văn hóa Trung  
Hoa và văn hóa phương Tây. Cách nghiên cứu này đã làm nổi bật những đặc  
trưng của văn hóa truyền thống người Việt, trong đó có văn hóa ứng xử.  
6
Ngoài các cuốn giáo trình, những cuốn sách có tính chất nền tảng, còn  
có nhiều công trình nghiên cứu về các mặt khác nhau của văn hóa ứng xử của  
người Việt như: Tâm lí học ứng xử (2001) của Lê Thị Bừng, Văn hóa ứng xử  
trong giáo dục gia đình (2001) của Nguyễn Văn Lê, Văn hóa ứng xử truyền  
thống của người Việt (2007) của Lê Văn Quán, Văn hóa ứng xử Việt Nam hiện  
nay (2008) của Nguyễn Thanh Tuấn … Trong những chuyên khảo này, các tác  
giả đã nêu những nguyên nhân hình thành văn hóa ứng xử của người Việt từ  
hoàn cảnh tự nhiên, ý thức cộng đồng và sự ảnh hưởng của Nho giáo, Phật giáo,  
Đạo giáo. Họ cũng chỉ ra giá trị của văn hóa ứng xử truyền thống của người  
Việt qua những bình diện ứng xử với cá nhân, gia đình và cộng đồng với những  
đặc điểm ứng xử của tư duy trực giác tổng hợp, lối ứng xử linh hoạt, lòng nhân  
ái và ý thức cộng đồng.  
2.3. Một số công trình nghiên cứu về văn hóa ứng xử trong văn học dân  
gian người Việt  
Nghiên cứu văn hóa trong văn học dân gian là một lĩnh vực nghiên cứu  
mới mẻ nhưng là hướng đi đúng đắn của các nhà nghiên cứu văn hóa, văn học  
trong thời gian gần đây. Ở Việt Nam, đã có những công trình nghiên cứu về  
văn hóa trong văn học, đặc biệt là trong văn học dân gian. Tiêu biểu như các  
công trình nghiên cứu Một cách tiếp nhận văn hóa (2000) và Một thức nhận về  
văn hóa Việt Nam (2018) của Phan Ngọc, Bản sắc Việt Nam qua giao lưu văn  
học (2018) của Nguyễn Bá Thành, Nghiên cứu văn học từ mã văn hóa dân gian  
(2018) của Nguyễn Thị Bích Hà, Phương pháp tiếp cận văn hóa trong nghiên  
cứu giảng dạy văn học (2018) của Trần Nho Thìn,… Các công trình này đều  
xem văn hóa học là một hướng tiếp cận hiểu quả đối với văn học, trong đó có  
những giá trị văn hóa truyền thống tới văn học dân gian như ý kiến của Nguyễn  
Bá Thành.  
7
Văn học nghệ thuật (với nội hàm là nghệ thuật ngôn từ và các ngành nghệ  
thuật khác) là một lĩnh vực đặc thù của văn hóa. Đặc thù bởi văn học nghệ  
thuật phản ánh tư tưởng, tình cảm của dân tộc một cách trực tiếp, xuyên  
suốt và toàn diện. Trong văn học nghệ thuật, dân tộc tự tạo ra cho mình  
một thế giới thứ hai, một thế giới do trí tưởng tượng của các thành viên  
dân tộc tạo nên. Thế giới đó không chỉ là một thành tố của bản sắc dân tộc  
mà còn phản ánh toàn diện cái bản sắc đó với các nét tính cách, tâm hồn  
của dân tộc (Nguyễn Bá Thành, 2018).  
Trong chuyên khảo của Nguyễn Thị Bích Hà về đề tài Nghiên cứu văn  
học dân gian từ mã văn hóa dân gian (2018), tác giả đưa ra những khái niệm  
lý thuyết về phương pháp luận nghiên cứu văn học dân gian, phương pháp  
nghiên cứu văn học dân gian từ mã văn hóa dân gian, mối quan hệ giữa văn hóa  
dân gian và văn học dân gian. Công trình này đã cung cấp một cái nhìn cụ thể  
hơn về hướng nghiên cứu văn học dân gian trong mã văn hóa dân gian, một đặc  
trưng của văn hóa truyền thống dân tộc.  
Trần Nho Thìn trong cuốn Phương pháp tiếp cận văn hóa trong nghiên  
cứu, giảng dạy văn học (2018) đã đi sâu vào nghiên cứu các dấu hiện của văn  
hóa, đặc biệt là những giá trị văn hóa truyền thống về đạo đức, ứng xử của  
người Việt trong các tác phẩm văn học. Tác giả chia chuyên luận thành các thế  
ứng xử khác nhau của con người trong từng mối quan hệ cụ thể. Đó là cách ứng  
xử với tự nhiên, với thân thể, trong quan niệm về giới,... Điều này đã giúp cho  
người nghiên cứu nắm được các phương pháp để tiếp cận tác phẩm văn học từ  
góc độ văn hóa ứng xử, trong đó có các tác phẩm của văn học dân gian.  
Trong bài báo Những truyền thống văn hóa dân gian Việt Nam trong kiểu  
truyện về Thánh Mẫu của tác giả Nguyễn Thị Nguyệt đăng trong Tạp chí Khoa  
8
học Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa học xã hội và Nhân văn, số 28 (2012) đã  
nhận xét “Truyện kể về Thánh Mẫu chứa đựng những đặc điểm tư tưởng, tình  
cảm, tính cách của dân tộc Việt Nam và phụ nữ Việt Nam và đặc biệt là những  
truyền thống văn hóa dân gian Việt Nam” (Nguyễn Thị Nguyệt, 2012) Trong  
bài báo, tác giả đã khẳng định lối ứng xử trọng nữ của người Việt, từ đó mà vai  
trò người mẹ, người phụ nữ trong gia đình cũng được nâng cao, “Người Việt  
thờ Mẫu trước hết là thờ người mang nặng đẻ đau, ôm ấp chăm bẵm và đến hết  
đời vẫn còn lo lắng cho con cái của mình, rộng ra là thờ người Mẹ của xứ sở,  
bảo hộ, bảo trợ cho con người” (Nguyễn Thị Nguyệt, 2012).  
Năm 2016, Phạm Thị Thanh Tuyền với luận văn Văn hóa ứng xử của  
người Việt trong truyện cổ tích thần kỳ đã nghiên cứu về những giá trị của văn  
hóa ứng xử dân tộc trong thể loại cổ tích thần kỳ. Luận văn này đề cập tới văn  
hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, ứng xử với gia đình, ứng xử với xã hội và  
văn hóa ứng xử với chính mình của người Việt. Qua đó thấy được những mối  
mâu thuẫn, bất công trong xã hội và cách ứng xử trọng tình nghĩa, hướng thiện  
của con người.  
Năm 2017, luận văn Văn hóa ứng xử trong truyện cười dân gian người  
Việt của tác giả Nguyễn Thị Hằng là công trình nghiên cứu về văn hóa ứng xử  
trong truyện cười dân gian Việt Nam không chỉ cho thấy nét ứng xử truyền  
thống của người Việt trong cuộc chiến với thói hư tật xấu, với những cái xấu  
xa, lạc hậu mà còn có tư duy sáng tạo của con người Việt dưới hình thức nghệ  
thuật của truyện cười.  
Cũng trong năm 2017, luận văn Truyện cổ tích sinh hoạt người Việt dưới  
góc nhìn văn hóa của tác giả Nguyễn Thị Hồng Ngân đã nghiên cứu truyện cổ  
tích sinh hoạt người Việt trên các phương diện của văn hóa như tín ngưỡng,  
phong tục và thế ứng xử của người Việt. Tuy nhiên, vì đây là một công trình  
nghiên cứu về chuyên ngành văn hóa học, tác giả tìm hiểu chủ yếu về những  
giá trị văn hóa chung của người Việt nên văn hóa ứng xử trong luận văn này  
9
chỉ là một phần nhỏ của văn hóa dân tộc Việt được tác giả trình bày. Bên cạnh  
đó, luận văn vẫn chưa đề cập đến cách ứng xử của người Việt với môi trường  
tự nhiên. Đây cũng là một phương diện ứng xử quan trọng trong văn hóa truyền  
thống của người Việt.  
Với những công trình nghiên cứu trên, có thể thấy rõ việc nghiên cứu  
văn học dân gian dưới góc nhìn văn hoá là một hướng nghiên cứu quan trọng  
và đang có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai. Tuy không phủ nhận  
những đóng góp to lớn và quan trọng của các công trình nghiên cứu trên nhưng  
rõ ràng, vẫn chưa có một đề tài nghiên cứu riêng biệt nào về giá trị của truyện  
cổ tích sinh hoạt trong cách biểu hiện những giá trị văn hóa truyền thống, đặc  
biệt là văn hóa ứng xử. Vậy nên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài Truyện cổ  
tích sinh hoạt người Việt dưới góc nhìn văn hóa ứng xử nhằm đi sâu vào phân  
tích, đánh giá những nét riêng biệt, đẹp đẽ cùng những giá trị to lớn trong lối  
sống, cách đối nhân xử thế được dân gian ta gửi gắm qua những câu chuyện cổ  
tích sinh hoạt. Đồng thời, qua đó khẳng định vai trò của truyện cổ tích sinh hoạt  
trong việc gìn giữ nét đẹp truyền thống dân tộc. Đây là một trong những vấn đề  
đang được quan tâm hàng đầu trong việc giáo dục, bảo tồn và phát huy những  
giá trị quý báu của truyền thống dân tộc trong nhà trường.  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu: Như tên đề tài luận văn đã chỉ rõ, đối tượng  
nghiên cứu của luận văn này là Văn hóa ứng xử trong truyện cổ tích sinh hoạt  
của người Việt.  
Phạm vi nghiên cứu: Trong luận văn, chúng tôi tìm hiểu những giá trị  
mà văn hóa ứng xử truyền thống tạo ra trong cổ tích sinh hoạt người Việt. Trong  
giới hạn của luận văn, chúng tôi tiến hành khảo sát 197 truyện cổ tích sinh hoạt  
người Việt trong 03 tuyển tập cổ tích là Truyện cổ tích Việt Nam bình giải  
(2005) của Mộng Bình Sơn (02 truyện), Tổng tập văn học dân gian người Việt,  
tập 7 – Phần truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích sinh hoạt (2005) của Viện  
10  
Khoa học xã hội Việt Nam (76 truyện) và Truyện cổ tích thế tục Việt Nam  
(2016) của Triều Nguyên (119 truyện).  
4. Phương pháp nghiên cứu  
4.1. Phương pháp thống kê và hệ thống  
Phương pháp thống kê là phương pháp giúp người viết tập hợp, phân  
loại và đánh giá khách quan số lần xuất hiện của các yếu tố văn hóa ứng xử  
trong truyện cổ tích sinh hoạt người Việt, tránh được cảm nhận chủ quan, dẫn  
tới những kết quả sai lệch trong nghiên cứu khoa học.  
Phương pháp hệ thống là phương pháp đặt sắp xếp các tác phẩm theo  
một hệ thống các giá trị của văn hóa ứng xử để phân tích, lý giải mối liên hệ  
giữa các yếu tố thành phần, từ đó có cái nhìn tổng thể về giá trị của truyện cổ  
tích sinh hoạt dưới góc độ văn hóa ứng xử.  
4.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp  
Từ việc phát hiện, thống kê các yếu tố văn hóa ứng xử được phản ánh  
trong truyện cổ tích sinh hoạt người Việt, người viết tiến hành phân tích, giải  
thích, đánh giá ý nghĩa của cơ sở đó, chúng tôi rút ra những kết quả chung cho  
vấn đề nghiên cứu.  
4.3. Phương pháp nghiên cứu liên ngành  
Vận dụng linh hoạt các kiến thức văn hóa học, dân tộc học, xã hội học,…  
để tìm hiểu những giá trị văn hóa ứng xử truyền thống của dân tộc Việt. Trên  
cơ sở lý thuyết đó, người viết ứng chiếu để phân tích và làm rõ các đặc trưng  
văn hóa ứng xử người Việt trong truyện cổ tích sinh hoạt.  
4.4. Phương pháp so sánh  
So sánh điểm giống và khác nhau trong cách ứng xử của người Việt được  
phản ánh trong truyện cổ tích sinh hoạt với cách ứng xử của người Việt được  
phản ánh trong một số thể loại khác như cổ tích thần kỳ, truyện cười,… Từ đó,  
chúng tôi rút ra những nhận xét và lí giải cụ thể.  
11  
5. Dự kiến đóng góp của đề tài  
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách khá hệ thống và đầy đủ về  
những giá trị của văn hóa ứng xử truyền thống dân tộc trong truyện cổ tích sinh  
hoạt người Việt.  
Luận văn góp phần khẳng định vai trò của truyện cổ tích sinh hoạt trong  
việc bảo lưu và tái hiện những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đồng  
thời cũng góp phần tìm hiểu đầy đủ hơn về cái hay, cái đẹp của truyện cổ tích  
sinh hoạt trong hệ thống các giá trị văn hóa ứng xử truyền thống.  
Ngoài ra, Luận văn có ý nghĩa và giá trị tham khảo nhất định cho người  
nghiên cứu muốn tìm hiểu sâu hơn về văn học dưới góc độ văn hóa ứng xử.  
Đồng thời cung cấp phương pháp giảng dạy truyện cổ tích theo hướng tiếp cận  
mới từ văn hóa học.  
6. Cấu trúc luận văn  
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, phần Tài liệu tham khảo, luận văn  
được kết cấu gồm 3 chương như sau:  
Chương 1. Một số vấn đề lí luận chung về văn hóa ứng xử và truyện  
cổ tích sinh hoạt người Việt.  
Nội dung của chương này là những lý thuyết tổng quan về văn hóa ứng xử  
truyền thống của người Việt, những lý thuyết chung về truyện cổ tích sinh hoạt  
người Việt với những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật, mối quan hệ của văn  
hóa và văn học trong sự tương quan tác động với nhau và tình hình tư liệu  
truyện cổ tích sinh hoạt người Việt được chúng tôi sưu tầm, khảo sát và tìm  
hiểu trong phạm vi đề tài của luận văn.  
Chương 2. Những biểu hiện của văn hóa ứng xử trong truyện cổ tích  
sinh hoạt của người Việt.  
Nội dung của chương này nhằm trình bày các biểu hiện của văn hóa ứng  
xử trong các mối quan hệ của con người ở truyện cổ tích sinh hoạt người Việt:  
với môi trường xã hội, truyện cổ tích sinh hoạt thể hiện các giá trị ứng xử qua  
12  
mối quan hệ trong gia đình (vợ chồng, cha mẹ với con cái, anh em, họ hàng),  
mối quan hệ xã hội (bạn bè, tầng lớp giàu nghèo, vua quan với dân, những  
người không quen biết với nhau), trong quan hệ với giá trị cá nhân (hạnh phúc,  
đạo đức, trí tuệ, thói hư tật xấu). Với môi trường tự nhiên, truyện cổ tích sinh  
hoạt biểu hiện mối quan hệ hòa hợp, tận dụng thiên nhiên và quan hệ ứng phó  
với thiên nhiên.  
Chương 3. Những giá trị của văn hóa ứng xử trong truyện cổ tích  
sinh hoạt của người Việt.  
Trong chương này, chúng tôi trình bày những giá trị của văn hóa ứng xử  
trong truyện cổ tích sinh hoạt qua sự phản ánh những đặc trưng trong đời sống  
của người Việt về cả vật chất lẫn tinh thần. Đó là sự phản ánh không gian sinh  
hoạt cộng đồng, thế giới tình thương và những triết lý dân gian của người Việt.  
Qua đó nhận ra được giá trị nhân văn và tính giáo dục của truyện cổ tích sinh  
hoạt người Việt.  
Ngoài ra, luận văn còn có phần phụ lục thống kê và tổng hợp tất cả 197  
truyện cổ tích sinh hoạt người Việt mà chúng tôi tiếp cận, khảo sát trong phạm  
vi nghiên cứu của đề tài này.  
13  
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG  
VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH  
SINH HOẠT NGƯỜI VIỆT  
1.1. Khái quát về văn hoá ứng xử của người Việt  
1.1.1. Khái niệm văn hóa ứng xử  
* Khái niệm văn hóa  
UNESCO từng thừa nhận “văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển  
xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội” (Phan Ngọc, 2018).  
Từ khi hình thành các cộng đồng loài người, văn hóa là yếu tố cốt lõi để tạo  
dựng một cơ cấu tổ chức xã hội hoàn chỉnh. Văn hóa được thể hiện qua từng  
phương diện trong đời sống, lao động, sinh hoạt, giải trí của con người như  
“văn hóa ẩm thực”, “văn hóa mặc”, “văn hóa ứng xử …. Có thể nói, văn hóa  
là “hạt nhân” để xây dựng xã hội loài người, là phương tiện để phân tách các  
cộng đồng dân tộc với nhau. Thiếu đi văn hóa, con người không khác gì những  
cỗ máy được lập trình cứng nhắc, khiếm khuyết những màu sắc cá biệt và độc  
đáo. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “văn hóa”.  
Mỗi định nghĩa là một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau của các nhà nghiên  
cứu về văn hóa.  
Trong Một cách tiếp cận văn hóa, Phan Ngọc dẫn ra quan điểm của các  
nhà nghiên cứu phương Tây khi tiếp cận văn hóa từ mặt ngôn ngữ. Từ “văn  
hóa” theo nghĩa thuật ngữ của nó là bắt nguồn từ châu Âu để dịch từ “culture”  
của Anh và Pháp, “kultur” của Đức. Trong tiếng Latinh, từ này có nguồn gốc  
từ các dạng của động từ “colere” là “colo”, “colui”, “cultus” được hiểu theo  
hai nghĩa: “cultus agri” là “trồng trọt ngoài đồng” và “cultus animi” nghĩa là  
“sự giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn con người” (Phan Ngọc, 2000).  
Mở rộng nghĩa bóng của từ “văn hóa”, nhà văn hóa học người Pháp  
Abraham Moles cho rằng: “Văn hóa – đó là chiều cạnh trí tuệ của môi trường  
     
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 158 trang yennguyen 24581 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Truyện cổ tích sinh hoạt người Việt dưới góc nhìn văn hóa ứng xử", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_truyen_co_tich_sinh_hoat_nguoi_viet_duoi_goc_nhin_v.pdf