Luận văn Tác động của việc thu hồi đất đến sinh kế của hộ gia đình thuộc dự án đường cao tốc Bến Lức – Long Thành trên địa bàn huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM  
TRẦN THỊ THANH PHƯƠNG  
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT ĐẾN SINH KẾ CỦA  
HỘ GIA ĐÌNH THUỘC DỰ ÁN ĐƯỜNG CAO TỐC BẾN LỨC -  
LONG THÀNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CẦN GIUỘC,  
TỈNH LONG AN  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2016  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM  
TRẦN THỊ THANH PHƯƠNG  
TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT ĐẾN SINH KẾ CỦA  
HỘ GIA ĐÌNH THUỘC DỰ ÁN ĐƯỜNG CAO TỐC BẾN LỨC -  
LONG THÀNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CẦN GIUỘC,  
TỈNH LONG AN  
Chuyên ngành : Quản lý công  
Mã số  
: 60340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
TS. Phạm Khánh Nam  
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2016  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết  
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ  
công trình nghiên cứu nào khác.  
Với tư cách là tác giả của nghiên cứu, tôi xin cam đoan rằng những nhận định  
và luận cứ khoa học đưa ra trong luận văn này hoàn toàn không sao chép từ các  
công trình khác mà xuất phát từ chính kiến bản thân tác giả, mọi sự trích dẫn đều có  
nguồn gốc rõ ràng. Nếu có sự đạo văn và sao chép tôi xin hoàn toàn chịu trách  
nhiệm trước Hội đồng Khoa học.  
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày  
tháng  
năm 2016  
Người thực hiện luận văn  
Trần Thị Thanh Phương  
MỤC LỤC  
TRANG PHỤ BÌA  
LỜI CAM ĐOAN  
MỤC LỤC  
PHỤ LỤC  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
 
1
Chương 1: Phần mở đầu  
1.1. Đặt vấn đề  
Nước ta đang trong quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh  
tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh, bền vững nhằm tạo  
nền tảng cho một nước công nghiệp và nâng cao khả năng độc lập, tự chủ của nền  
kinh tế. Để thực hiện quá trình đổi mới này, thì vấn đề thu hồi đất và chuyển dịch  
đất đai là điều tất yếu phải xảy ra; đồng thời nhà nước cần phải đầu tư hoàn thiện cơ  
sở hạ tầng và có các chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư.  
Việc xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ cho quá trình đổi mới, phát triển  
bền vững đòi hỏi phải có diện tích lớn đất sạch để thực hiện, dẫn đến tình trạng đất  
sản nông nghiệp bị thu hẹp lại và đất sản xuất, công nghiệp, công trình công cộng  
ngày càng gia tăng. Điều này đã làm cho nhiều hộ nông dân bị mất một phần hoặc  
toàn bộ tư liệu sản xuất là đất đai; hay đồng nghĩa với việc nhiều lao động nông  
thôn bị mất việc làm, gặp khó khăn trong tìm và tạo việc làm mới khiến cho thu  
nhập của họ không ổn định.  
Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết về  
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; theo đó Ủy ban nhân dân  
các tỉnh cũng đã đề ra các quy định cụ thể phù hợp với tình hình thực tế của địa  
phương nhằm đảm bảo sinh kế của người dân sau thu hồi đất. Tuy nhiên, tình trạng  
thiếu việc làm, không chuyển đổi được nghề nghiệp, cuộc sống gặp nhiều khó khăn  
sau thu hồi đất vẫn đang diễn ra ở nhiều địa phương. Nguyên nhân là do chính sách  
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chưa hợp lý ở một số dự án, như: chưa có khu tái  
định cư hoặc chưa giải quyết tái định cư đã quyết định thu hồi đất ở; giá đất bồi  
thường thấp hơn giá đất cùng loại trên thị trường; sự chênh lệch giá đất bồi thường,  
mức hỗ trợ quá lớn giữa tỉnh và thành phố; người dân còn trông chờ vào mức hỗ trợ  
thêm từ nhà nước, chủ đầu tư và chưa chủ động đào tạo chuyển đổi nghề.  
Tỉnh Long An được Chính phủ định hướng phát triển kinh tế xã hội vùng kinh  
tế trọng điểm phía nam đến năm 2020, và huyện Cần Giuộc được xác định là một  
trong chín huyện, thị trong vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh, phát triển kinh tế theo  
   
2
hướng công nghiệp hóa, đô thị hóa (UBND tỉnh Long An, năm 2008), với trên 60  
dự án đầu tư khu cụm công nghiệp, dân cư, đô thị, công trình giao thông,… trên  
diện tích 4.279 ha, chiếm tỷ lệ 20% tổng diện tích của huyện (Phòng Tài nguyên và  
Môi trường huyện Cần Giuộc, năm 2014).  
Bảng 1.1: Biến động sử dụng đất giai đoạn 2010 - 2015  
Năm 2010  
Năm 2015  
Chênh lệch  
Diệ  
C
C
Chỉ tiêu  
Diện Cơ  
tích (ha) cấu (%) tích (ha)  
Diện  
T
ơ cấu n tích ơ cấu  
(%)  
(ha)  
(%)  
Đất nông  
nghiệp  
12,5  
09.37  
10,9  
9.51 27.59  
5
-
-
1.99 1,581.78  
7.52  
Đất sản xuất, KD  
1,86  
0.65  
68.  
78  
2,03  
8.97  
5
6.86  
178  
.32 11.92  
-
PNN  
Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cần Giuộc, năm 2014  
Giải quyết việc làm, tạo thu nhập để đảm bảo sinh kế sau thu hồi đất đã và  
đang tác động mạnh đến người nông dân, đây là một vấn đề lớn mà chính quyền địa  
phương chưa có giải pháp thực hiện thỏa đáng vì hầu hết các dự án đều có trường  
hợp khiếu nại về đơn giá bồi thường về đất, mức hỗ trợ; cụ thể như dự án tái định  
cư Tân Phước có 04 trường hợp, đường cao tốc Bến Lức – Long Thành 20 trường  
hợp (Ủy ban nhân dân huyện Cần Giuộc, năm 2015). Nhằm làm rõ những tác động  
của việc thu hồi đất đến sinh kế của hộ gia đình và đề ra những giải pháp thực hiện  
có hiệu quả cho công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với các  
dự án; tôi chọn đề tài nghiên cứu khoa học “Tác động của việc thu hồi đất đến sinh  
kế của hộ gia đình thuộc dự án đường cao tốc Bến Lức – Long Thành trên địa bàn  
huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An”  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu:  
- Phân tích những yếu tố tác động đến sinh kế (thay đổi thu nhập, thay đổi chi  
tiêu) của hộ gia đình khi nhà nước thu hồi đất.  
- Phân tích việc sử dụng các khoản bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của hộ  
gia đình.  
   
3
- Tác giả đưa ra kết luận nghiên cứu, đề xuất khuyến nghị và gợi ý một số  
chính sách nhằm góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho người dân sau thu hồi đất.  
1.3. Câu hỏi nghiên cứu  
- Những yếu tố nào đã tác động và tác động như thế nào đến sinh kế của hộ  
gia đình?  
- Hộ gia đình đã sử dụng các khoản bồi thường, hỗ trợ như thế nào?  
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất thuộc dự án đường cao tốc Bến Lức – Long  
Thành trên địa bàn huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.  
Nghiên cứu sử dụng số liệu điều tra hộ gia đình trong năm 2015.  
1.5. Phương pháp nghiên cứu  
Sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích định lượng kết hợp với phương  
pháp định tính để phân tích các yếu tố tác động đến sinh kế của hộ gia đình.  
Thông tin, dữ liệu cần thu thập  
+ Dữ liệu sơ cấp từ điều tra xã hội học: thu thập số liệu, thông tin cụ thể về  
điều kiện sống, sự thay đổi cuộc sống của các hộ gia đình trước và sau thu hồi đất  
bằng việc điều tra và phỏng vấn 100 hộ gia đình.  
+ Dữ liệu thứ cấp: thu thập từ các báo cáo có liên quan đến đề tài nghiên cứu  
của một số phòng ban ngành huyện (Phòng Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm  
Phát triển Quỹ đất) và Ủy ban nhân dân huyện Cần Giuộc.  
Thông qua công cụ tính toán của phần mềm excel, Stata 12 để thực hiện thống  
kê, phân tích các số liệu thu thập được từ các dữ liệu sơ cấp và thứ cấp.  
1.6. Cấu trúc luận văn:  
Kết cấu nội dung của luận văn bao gồm 5 chương, bao gồm:  
Chương 1. Giới thiệu – bối cảnh của vấn đề nghiên cứu.  
+ Đặt vấn đề.  
+ Mục tiêu nghiên cứu.  
+ Câu hỏi nghiên cứu.  
+ Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.  
       
4
+ Phương pháp nghiên cứu.  
+ Cấu trúc luận văn.  
Chương 2. Tổng quan cơ sở lý thuyết  
+ Khảo lược lý thuyết (khái nệm về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái địng  
cư; khái niệm về sinh kế).  
+ Khảo lược các nghiên cứu có liên quan (phương pháp nghiên cứu đánh giá  
những tác động có liên quan đến vấn đề nghiên cứu).  
Chương 3. Thiết kế nghiên cứu.  
+ Khung phân tích.  
+ Phương pháp thu thập dữ liệu:  
. Dữ liệu sơ cấp: thu thập 100 mẫu, cách thức lấy mẫu bằng cách đến nhà  
phỏng vấn trực tiếp hộ dân bị thu hồi đất.  
. Dữ liệu thứ cấp: thu thập nguồn từ Phòng Tài nguyên và Môi trường, Trung  
tâm Phát triển Quỹ đất, Ủy ban nhân dân huyện Cần Giuộc.  
+ Phương pháp định tính.  
+ Phương pháp định lượng.  
Chương 4. Kết quả phân tích.  
+ Tổng quan về chính sách thu hồi đất của dự án đường cao tốc Bến Lức -  
Long Thành trên địa bàn tỉnh Long An.  
+ Thống kê mô tả kết quả phân tích dữ liệu thứ cấp.  
+ Kết quả phân tích.  
Chương 5. Kết luận và các khuyến nghị.  
5
Chương 2. Tổng quan cơ sở lý thuyết  
2.1. Một số khái niệm về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư  
Căn cứ theo Luật Đất đai 1993, Luật Đất đai 2003, Luật Đất đai 2013 khi Nhà  
nước giao đất, hay công nhận quyền sử dụng đất cho người dân thì họ sẽ có đầy đủ  
các quyền như: quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế,  
tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất, . . . và được bồi thường khi Nhà  
nước thu hồi đất. Trên cơ sở đó, luận văn nghiên cứu đưa ra một số khái niệm như  
sau:  
Khái niệm về thu hồi đất: là Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất  
của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử  
dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai. Nhà nước thu hồi đất là vì mục đích quốc  
phòng, an ninh và để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng nhằm  
thực hiện các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu đô thị, đầu tư xây dựng kế  
cấu hạ tầng kỹ thuật.  
Khái niệm về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: là tổng thể các chủ  
trương của nhà nước quy định để chủ đầu tư dự án thực hiện công tác bồi thường,  
hỗ trợ và tái định cư đối với người dân có đất bị thu hồi nhằm đạt tới sự hài hòa,  
hợp lý về lợi ích giữa các bên có liên quan để phát triển kinh tế xã hội bền vững.  
+ Bồi thường: trả lại giá trị quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đối với  
diện tích bị thu hồi cho người chủ sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất bị  
thu hồi.  
+ Hỗ trợ: là việc Nhà nước trợ giúp người có đất thu hồi để ổn định đời sống,  
sản xuất và phát triển, thông qua hỗ trợ chi phí đào tạo chuyển đổi nghề, di chuyển  
đến chổ ở và ổn định cuộc sống ở nơi ở mới.  
+ Tái định cư là quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, nhà ở, di chuyển đến  
nơi ở mới và các hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống. Chính sách tái định cư bao gồm  
tái định cư bằng đất ở (tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ), tái định cư bằng tiền (người dân  
nhận tiền và tự lo chổ ở).  
   
6
Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nhằm vào các mục tiêu: đảm bảo  
quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, người sở hữu tài sản trên đất;  
khuyến khích người dân giao đất; ổn định cuộc sống, ổn định việc làm cho người  
dân bị mất đất; góp phần thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, xây dựng và  
phát triển nhà ở, phát triển kinh tế xã hội. Và trên nguyên tắc công bằng, hiệu quả,  
dân chủ và hỗ trợ người khó khăn.  
2.2. Tổng quan về khung phân tích sinh kế bền vững  
Khung lý thuyết về sinh kế, hay còn được hiểu là khung lý thuyết về sinh kế  
bền vững được xây dựng dựa trên những công cụ được sử dụng để phân tích và cải  
thiện khả năng sinh kế. Khi xây dựng khung lý thuyết các nhà nghiên cứu đưa ra  
một một số cấu trúc phân tích để thuận tiện trong việc hệ thống hóa những nhân tố  
khác nhau, mà nó kìm hãm hay nâng cao cơ hội sinh kế (DFID, 1999). Có nhiều  
khung lý thuyết về sinh kế được sử dụng để giải thích những khái niệm về sinh kế,  
tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu, luận văn này sẽ phân tích khung lý thuyết về  
sinh kế bền vững của 3 tổ chức UNDP (United Nations Development Programme),  
CARE (Christian Action Research and Education), DFID (UK Department for  
International Development).  
2.2.1. Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của UNDP  
Khung lý thuyết này tập trung vào hai chiến lược khác nhau có tên gọi là: đối  
phó (coping) và thích ứng. Chiến lược coping là sự đối phó trong ngắn hạn trước  
những cú sốc cụ thể, trong khi đó chiến lược thích ứng đưa đến những thay đổi dài  
hạn trong cung cách ứng xử trước những cú sốc hay những căng thẳng. UNDP đặc  
biệt chú ý đến tầm quan trọng của những công nghệ có ý nghĩa cải thiện sinh kế của  
người dân. Theo Krantz (2001), thông thường những nghiên cứu của UNDP được  
thực hiện ở cấp độ quốc gia và vận hành những chương trình đặc biệt ở cấp độ một  
vùng tương đương cấp huyện. Theo UNDP có 5 bước để thiết kế, thực thi và đánh  
giá những chương trình sinh kế bền vững như sau:  
. Xác định sự đền bù được thực hiện dựa trên những rủi ro phải đối diện,  
những tài sản và những kiến thức cộng đồng mất đi.  
   
7
. Phân tích vi mô, vĩ mô, chính sách mà nó tác động đến chiến lược sinh kế  
của người dân.  
. Hỗ trợ và xác định những đóng góp tìm năng của khoa học kỹ thuật hiện  
đại, góp phần bổ sung hệ thống kiến thức bản địa góp phần cải thiện sinh kế.  
. Nhận dạng những đầu tư về kinh tế xã hội để loại bỏ những cản trở chiến  
lược sinh kế.  
. Đảm bảo rằng giai đoạn đầu tiên của quá trình thích ứng phải diễn ra thực  
sự để mà toàn bộ tiến trình hoàn toàn là sự phát triển, hơn là những sự kiện riêng lẽ.  
Sự liên kết và trật tự của những nhân tố khác biệt ở cách tiếp cận này được mô  
tả ở hình 2.1. Theo phương pháp tiếp cận này những chính sách của chính phủ có  
ảnh hưởng đến sinh kế của người dân được sử dụng. Nhiều các hoạt động hỗ trợ  
khác nhau được thực hiện theo những chương trình sinh kế bền vững đặc biệt, luôn  
được thực thi từ cấp vùng (quận, huyện) trở lên.  
NGƯỜI DÂN  
Khả năng sinh kế  
Đời sống  
Quyền  
Cửa hàng  
và cơ hội  
và tài nguyên  
Tài sản vô hình  
Tài sản hữu hình  
Hình 2.1: Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của UNDP (2001)  
2.2.2. Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của CARE  
Trong hình 2.2, Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của CARE được mô tả  
tập trung vào sinh kế hộ gia đình. “Khung tài sản” mô tả những chỉ số, gồm khả  
năng của thành viên hộ gia đình, những nguồn tài nguyên, tài sản mà hộ gia đình có  
thể truy cập được, những khả năng được giúp đỡ, hỗ trợ lúc khó khăn bởi họ hàng,  
   
8
chính quyền. Để đánh giá những thay đổi đang diễn ra về vần đề an ninh sinh kế hộ  
gia đình, đòi hỏi một cái nhìn toàn diện về sự tiêu dùng và tài sản của từng thành  
viên hộ gia đình.  
CARE đưa ra mô hình hoạt động của một sinh kế dựa trên tính năng động và  
sự tương tác được lập trình sẵn, gồm các bước sau:  
. Nhận dạng những khu vực địa lý tiềm năng, sử dụng dữ liệu thứ cấp để tìm  
ra những người chủ hộ.  
. Nhận dạng những nhóm bị tổn thương và những khó khăn về sinh kế mà họ  
phải đối mặt.  
. Thu thập những dữ liệu phân tích, ghi chú những xu hướng về thời gian và  
nhận dạng những chỉ dẫn mà nó sẽ được kiểm định.  
. Lựa chọn những khu vực để thực thi các chính sách can thiệp.  
Tài nguyên  
thiên nhiên  
Về an ninh của:  
Tài sản  
Lương thực  
Dinh dưỡng  
Sức khỏe  
Nguồn nước  
Nhà ở  
Cơ sở hạ tầng  
Kinh tế  
Vốn con người Vốn xã hội  
Văn hóa  
Chính trị  
Thu  
nh
ậ
p  
Tiêu  
th
ụ  
Hộ  
gia  
Môi trường  
Giáo dục  
Sự trợ giúp của  
cộng đồng  
Căng thẳng  
và va chạm  
An toàn cá nhân  
Trao đổi  
X
ử
lý  
Tình huống  
Chiến lược  
sinh kế  
Kết quả  
sinh kế  
Hình 2.2: Dựa theo Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của CARE (2001)  
 
9
Giá trị của an ninh sinh kế, gần đây đã trở thành một công cụ chính để tổng  
hợp và phân tích thông tin ở cấp độ cộng đồng. Mục tiêu chính trong nghiên cứu về  
sinh kế của CARE là hiểu được tính tự nhiên của những chiến lược sinh kế ở những  
mục khác biệt trong hộ gia đình, tức là nhận dạng những khó khăn và những cơ hội.  
Như đã đề cập CARE nhấn mạnh đến những khả năng của những người chủ hộ để  
đảm bảo những sinh kế thiết yếu cho họ.  
2.2.3. Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của DFID  
Theo Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID,2001) thì “Sinh kế  
bao gồm các khả năng, các tài sản (nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động  
cần thiết để kiếm sống”; một sinh kế được coi là bền vững khi nó có khả năng đối  
phó và phục hồi khi bị tác động, hoặc có thể duy trì hay thúc đẩy các khả năng và  
tài sản ở cả thời điểm hiện tại và tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng  
của các nguồn lực tự nhiên.  
 
10  
Kết quả sinh kế  
Tài sản sinh kế  
Con người  
- Sử dụng tài nguyên  
bền vững hơn.  
Thể chế và chính sách  
- Tăng thu nhập.  
- Tăng phúc lợi  
- Giảm tổn thương  
- An ninh lương thực  
Cấu trúc  
Chính phủ  
Tư nhân  
Quy trình  
- Luật  
- Chính sách  
- Văn hóa  
- Các tổ chức  
Xã hội  
Tự nhiên  
-
-
Tài chính  
Vật chất  
Các chiến lược sinh kế  
Bối cảnh dễ bị tổn thương  
- Cú sốc  
- Mùa vụ  
- Xu hướng  
Hình 2.3: Dựa theo Khung sinh kế bền vững (DFID, 2001)  
Khung sinh kế bền vững giúp sắp xếp các yếu tố hạn chế hoặc tăng các cơ hội  
sinh kế và cho thấy cách chúng có mối liên quan với nhau. Một khái niệm trung tâm  
là mỗi hộ gia đình có cách tiếp cận tài sản sinh kế khác nhau, đều nhằm mục đích  
mở rộng cách tiếp cận sinh kế bền vững.  
Các tài sản sinh kế, là cái mà người nghèo thường phải có những sự đánh đổi  
và lựa chọn, bao gồm:  
+ Vốn con người (Human capital), gồm: sức khỏe, giáo dục, kiến thức và kỹ  
năng, năng lực làm việc, năng lực thích ứng.  
 
11  
+ Vốn xã hội (Social capital): mạng lưới thông tin và mối quan hệ, các mối  
quan hệ tin cậy và có hiểu biết lẫn nhau, các nhóm hỗ trợ chính thức và không chính  
thức, chi sẽ những giá trị và hành vi, pháp luật, quyền công dân, . . .  
+ Vốn tự nhiên (Natural capital): đất đai, nước và các nguồn tài nguyên khác.  
+ Vốn vật chất (Physical capital): cơ sở hạ tầng, công cụ và công nghệ sản  
xuất.  
+ Vốn tài chính: tiết kiệm, tín dụng và nợ vay, kiều hối, tiền lương, lương hưu.  
Bối cảnh dễ bị tổn thương (Vulnerability context): là những bất an trong đời  
sống của cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng phải đối mặt trước những thay đổi của  
môi trường bên ngoài.  
Chính sách và thể chế (Policies and Institutions): bao gồm cấu trúc các cấp  
chính quyền, khu vực tư nhân; quy trình thực hiện như luật pháp, chính sách, văn  
hóa, các tổ chức.  
Chiến lược sinh kế và kết quả (livelihood strategies and outcomes): chiến lược  
sinh kế nhằm mục đích để đạt được kết quả sinh kế. Quyết định chiến lược sinh kế  
có thể gọi là hoạt động dựa trên tài nguyên thiên nhiên, dựa trên nguồn tài nguyên  
không tự nhiên và các hoạt động phi nông nghiệp, di cư và kiều hối, lương hưu và  
trợ cấp, . . . Kết quả sinh kế tiềm năng có thể bao gồm thêm thu nhập, tăng hạnh  
phúc, giảm tổn thương, cải thiện an ninh lương thực, sử dụng bền vững các nguồn  
tài nguyên thiên nhiên.  
2.3. Các nghiên cứu trước  
Có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa thu hồi đất, bồi thường và sinh kế  
đã chỉ ra một số kết quả phức hợp như:  
Nguyễn Hoàng Bảo và Nguyễn Minh Tuấn (2013) trong một nghiên cứu trên  
địa bàn tỉnh Đồng Nai về “sự thay đổi thu nhập của người dân bị thu hồi đất ở khu  
công nghiệp Giang Điền huyện Trảng Bom”, nhóm tác giả cũng dựa vào khung  
phân tích sinh kế bền vững của Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh  
(DFID, 2003) và bằng phương pháp phân tích thống kê mô tả, mô hình hồi quy  
Binary logit, các hàm ý chính sách. Nghiên cứu đã rút ra kết luận “quyết định đầu  
 
12  
tư sản xuất kinh doanh sẽ làm cho thu nhập hộ tăng; diện tích đất thu hồi càng lớn  
cũng sẽ làm tăng thu nhập hộ, nhưng khi diện tích quá lớn sẽ làm giảm thu nhập hộ  
do những hộ bị thu hồi đất thuần túy là nông dân, ít có kỹ năng quản lý tiền nên họ  
dễ dàng chi cho tiêu dung; trình độ của chủ hộ góp phần tăng thu nhập và tỷ lệ  
người phụ thuộc có ý nghĩa làm giảm nguồn thu nhập.  
Nhóm tác giả Huỳnh Văn Chương, Ngô Hữu Hoạnh (2010) sử dụng khung  
sinh kế bền vững của (DFID) trong nghiên cứu về “ảnh hưởng của việc chuyển đất  
nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đến sinh kế người dân bị thu hồi đất tại  
thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam”, đã cho thấy nhiều hộ dân có thu nhập cao  
hơn sau khi chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp nhưng người  
dân không yên tâm vì thu nhập không ổn định và cuộc sống tiềm ẩn nhiều bất ổn.  
Nguyên nhân là do khi thu hồi đất, người dân nhận được bồi thường, hỗ trợ đều  
bằng tiền mặt; với số tiền này hầu hết người dân không sử dụng vào mục đích đầu  
tư sản xuất hay học nghề để chuyển đổi nghề dẫn đến khó khăn trong tìm kiếm việc  
làm.  
Đề tài nghiên cứu của Trương Thị Hồng Giang (2015), sinh kế cộng đồng dân  
cư bị thu hồi đất xây dựng các công trình trọng điểm trên địa bàn huyện Duyên Hải  
tỉnh Trà Vinh, đã dùng khung lý thuyết sinh kế bề vững và bằng phương pháp thống  
kê mô tả, phân tích định lượng các dữ liệu thu thập. Kết quả nghiên cứu, nhìn chung  
sinh kế của những người dân bị thu hồi đất khi xây dựng dự án phần lớn đều đảm  
bảo nhưng vẫn còn gặp phải những khó khăn dẫn đến thiếu tính bền vững.  
Nghiên cứu “sự thay đổi về thu nhập của người dân sau thu hồi đất để xây  
dựng khu công nghiệp Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh” của  
Đinh Phi Hổ và Huỳnh Sơn Vũ (2011), đề tài dựa theo Khung sinh kế bền vững  
DFID 1999 và sử dụng mô hình định lượng. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố  
trình độ học vấn của chủ hộ, số lao động trong hộ, hộ có dùng tiền đền bù vào việc  
đầu tư cho sản xuất kinh doanh, và hộ có lao động làm việc trong khu công nghiệp  
làm tăng xác suất cải thiện thu nhập, trong khi tỷ lệ phụ thuộc và diện tích đất bị thu  
hồi lại làm giảm xác suất cải thiện thu nhập của hộ.  
13  
Bên cạnh đó, còn có những nghiên cứu liên quan đến sinh kế của hộ gia đình ở  
nông thôn dựa trên cơ sở tiếp cận sinh kế bền vững, tiêu biểu như đề tài nghiên cứu  
về “Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sinh kế của nông hộ ở đồng bằng sông Cửu  
Long” của nhóm tác giả Võ Văn Tuấn và Lê Cảnh Dũng (2015). Kết quả nghiên  
cứu cho thấy tài sản sinh kế của hộ chuyên canh thấp hơn hộ canh tác kết hợp (lúa –  
thủy sản, lúa – màu); nông hộ chuyên canh tôm ở vùng ven biển gặp nhiều khó khăn  
về ô nhiễm nguồn nước và dịch bệnh trên tôm (vốn tự nhiên) và các vấn đề xã hội,  
trong khi đó nông hộ sản xuất lúa và mía phải đối mặt với sự suy giảm vốn tài chính  
do giá nông sản thấp. Kết quả sinh kế hộ có sự ảnh hưởng tích cực của các nguồn  
vốn tài chính, xã hội và vật chất; chất lượng lao động cũng thúc đẩy hộ đạt kết quả  
sinh kế tốt; tuy nhiên, giá nông sản giảm đã làm cho hộ trồng lúa và hoa màu chưa  
đạt được kết quả sinh kế như kỳ vọng.  
Ngoài ra còn có những cảnh báo của các tổ chức thế giới về tái định cư. Họ  
quan tâm nhiều đến những mất mát và thiệt hại về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi  
trường mà người dân tái định cư phải đối mặt. Có những hậu quả tất yếu nghiêm  
trọng mà người dân tái định định phải gánh chịu, đó có thể là: nghèo đói; sự suy  
giảm và mất đi các yếu tố văn hóa của một cộng đồng, ô nhiễm môi trường. Bên  
cạnh đó, người dân còn phải đối mặt với những khó khăn hiện tại ảnh hưởng xấu  
đến sức khỏe thể chất và tinh thần của họ như: phải đi làm xa, khó khăn trong việc  
tiếp cận các địch vụ xã hội, đời sống bị đảo lộn… Do đó trong quá trình thực hiện  
chính sách di dời, tái định cư các dự án phát triển các nhà quản lý cần có cái nhìn  
toàn diện về cuộc sống của người dân và có những hành động hỗ trợ tích cực hơn  
cho họ.  
Theo ngân hàng thế giới (World Bank, 2004) tái định cư có thể dẫn đến những  
nguy cơ nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường như: hệ thống sản xuất bị  
phá vỡ; người dân phải đối mặt với nguy cơ đói nghèo khi những điều kiện sản xuất  
và nguồn tạo thu nhập mất đi, người dân có thể bị di dời đến những nơi không có  
việc làm hay các tài nguyên kiếm sống không có nhiều; các thiết chế cộng đồng và  
mạng lưới xã hội bị phá vỡ, các mối quan hệ họ hàng thân thích bị ảnh hưởng; các  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 86 trang yennguyen 14280 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Tác động của việc thu hồi đất đến sinh kế của hộ gia đình thuộc dự án đường cao tốc Bến Lức – Long Thành trên địa bàn huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_tac_dong_cua_viec_thu_hoi_dat_den_sinh_ke_cua_ho_gi.pdf