Luận văn Thực hiện chính sách hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
TRƯƠNG ĐẶNG THU HIỀN  
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ THANH NIÊN  
KHỞI NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG  
HÀ NỘI - năm 2018  
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
TRƯƠNG ĐẶNG THU HIỀN  
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ THANH NIÊN  
KHỞI NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Ngành: Chính sách công  
Mã số: 8.34.04.02  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC  
PGS.TS. BÙI NHẬT QUANG  
HÀ NỘI, năm 2018  
1
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Chính sách công là một trong những công cụ cơ bản được Nhà nước  
sử dụng để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo đúng mục đích, mục  
tiêu của Đảng đề ra. Ở mỗi giai đoạn phát triển, yêu cầu nâng cao chất lượng,  
hiệu quả các chính sách công luôn được đặt ra.  
Hiện nay chủ trương phát triển mạnh mẽ chương trình khởi nghiệp  
quốc gia của Đảng, Nhà nước trong thời gian qua đã cổ vũ, khuyến khích và  
xây dựng tinh thần khởi nghiệp cho thanh niên. Đã có rất nhiều tấm gương  
thanh niên tiêu biểu có những sáng tạo trị giá nhiều tỷ đồng từ khi còn ngồi  
trên ghế nhà trường. Nhằm tạo động lực mạnh mẽ hơn cho tuổi trẻ cả nước,  
phát huy vai trò xung kích của thanh niên, tạo lập môi trường thuận lợi để  
thúc đẩy, hỗ trợ thanh niên trong quá trình khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, các  
cấp bộ Đảng và chính quyền cần chú trọng và đưa ra các chính sách thích hợp  
khuyến khích thanh niên khởi nghiệp.  
Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đi đầu trong kinh tế của Việt  
Nam. Thành phố chiếm 0,6% diện tích và 8,34% dân số của Việt Nam nhưng  
chiếm tới 20,5% tổng sản phẩm GDP, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và  
37,9% dự án nước ngoài. Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về  
lĩnh vực, từ khai thác thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng  
đến du lịch, tài chính... Cơ cấu kinh tế của thành phố, khu vực nhà nước  
chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần còn lại là khu vực có vốn  
đầu tư nước ngoài. Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất:  
51,1%. Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông nghiệp,  
lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2%.  
Tuy vậy, nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt với  
nhiều khó khăn. Toàn thành phố chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình độ  
2
công nghệ hiện đại. Trong đó, có 21/212 cơ sở ngành dệt may, 4/40 cơ sở  
ngành da giày, 6/68 cơ sở ngành hóa chất, 14/144 cơ sở chế biến thực phẩm,  
18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46 cơ sở chế tạo máy... có trình độ công nghệ, kỹ  
thuật sản xuất tiên tiến. Cơ sở hạ tầng của thành phố lạc hậu, quá tải, chỉ giá  
tiêu dùng cao, tệ nạn xã hội, hành chính phức tạp... cũng gây khó khăn cho  
nền kinh tế. Ngành công nghiệp thành phố hiện đang hướng tới các lĩnh vực  
công nghệ cao, đem lại hiệu quả kinh tế hơn. Ở thành phố, hằng năm có hàng  
trăm doanh nghiệp nhỏ lẻ được cấp phép thành lập, nhưng số lượng doanh  
nghiệp trụ vững được trong vòng 10 năm đầu lại rất ít (chiếm chưa tới 1%).  
Đa phần các chủ doanh nghiệp đăng ký kinh doanh là các bạn thanh niên trẻ  
tuổi, chưa có kinh nghiệm, chưa có vốn và chưa có đất để kinh doanh. Với ý  
tưởng ban đầu nhưng hướng kinh doanh lâu dài và các bước đi ban đầu chưa  
được đầu tư đúng mức, thiếu kinh nghiệm và thiếu đội ngũ hướng dẫn cụ thể,  
các doanh nghiệp nhỏ lẻ với vốn điều lệ thấp, thị trường hạn hẹp, khả năng  
cạnh tranh chưa cao đã sớm đi vào ngõ cụt khi vừa mới sinh ra.  
Từ những yêu cầu của thực tế trong quá trình phát triển kinh tế của  
thành phố gắn với quá trình ươm mần từ ý tưởng kinh doanh đến khi khởi  
nghiệp thành công của thanh niên hiện nay trên địa bàn Thành phố Hồ Chí  
Minh, tôi nhận thấy thực hiện chính sách hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp tại  
Thành phố Hồ Chí Minh là vấn đề cấp thiết và cần có sự đầu tư, chỉnh chu  
trong quá trình thực hiện.  
Vì vậy qua kiến thức học được, tôi xin chọn nghiên cứu đề tài “thực  
hiện chính sách hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh”.  
2. Tình hình nghiên cứu  
Có thể thấy các công trình nghiên cứu có liên quan đến chính sách hỗ  
trợ doanh nghiệp và chính sách về thanh niên cấp tỉnh thành. Những phân  
3
tích, đánh giá của các tác giả là những kinh nghiệm, tài liệu quý báu cho việc  
đổi mới và thực hiện tốt hơn chính sách hỗ trợ thanh niên hiện nay. Tuy nhiên  
các bài nghiên cứu cũng như các công trình đã được công bố đều dưới dạng  
công trình định hướng nghiên cứu từ lý luận tới thực tiễn hoặc một vài khía  
cạnh liên quan đến tổ chức doanh nghiệp và đặc điểm thanh niên, chưa có một  
công trình nghiên cứu nào về thực hiện chính sách hỗ trợ thanh niên khởi  
nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh. Việc phân tích và đánh giá những kết quả  
đạt được và bất cập trong tổ chức xây dựng và thực thi chính sách hỗ trợ  
thanh niên khởi nghiệp hiện nay là vấn đề cần quan tâm nghiên cứu, hoàn  
thiện để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các tổ chức hỗ trợ thanh  
niên và hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.  
Điều này cho phép tác giả có cơ sở khẳng định tính cấp thiết của vấn đề này  
trong đề tài luận văn.  
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài.  
3.1. Mục đích:  
Nội dung tiểu luận này sẽ góp phần nêu rõ về các chính sách khuyến  
khích thanh niên khởi nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu, tìm  
hiểu về quá trình thực hiện chính sách khởi nghiệp cho thanh niên tại Thành  
phố Hồ Chí Minh thời gian qua đã đạt được những kết quả gì. Qua đó, đánh  
giá chính sách khởi nghiệp đã được ban hành cần phải điều chỉnh, bổ sung  
những gì và tìm ra giải pháp thực hiện tốt chính sách hỗ trợ thanh niên khởi  
nghiệp trong thời gian tới.  
3.2. Nhiệm vụ  
Một là, cung cấp hệ thống cơ sở lý luận cơ bản và khái quát nhất làm  
nền tảng nghiên cứu chính sách khởi nghiệp cho thanh niên tại Thành phố Hồ  
Chí Minh.  
4
Hai là, thông qua nghiên cứu, bằng các phương pháp, công cụ khác  
nhau, tác giả đã hướng đến kiểm chứng, đối chiếu và đánh giá làm rõ thực  
trạng thực hiện chính sách hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp đang tổ chức thực  
hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua. Qua đó, đề xuất những vấn đề  
cần điều chỉnh, bổ sung trong chính sách hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp; đề  
xuất giải pháp thực hiện tốt hơn chính sách hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp thời  
gian tới.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
4.1. Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực  
tiễn về thực thi chính sách hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp tại Thành phố Hồ  
Chí Minh.  
4.2. Khách thể nghiên cứu: Thanh niên, chuyên gia và nhà nghiên cứu.  
4.2. Phạm vi nghiên cứu  
4.2.1. Phạm vi không gian: Cơ quan nghiên cứu nơi tác giả công tác, tại  
địa phương nơi tác giả sinh sống.  
4.2.2. Phạm vi thời gian: Trong giai đoạn hiện nay.  
4.2.3. Phạm vi nội dung: Chính sách dành cho thanh niên khởi nghiệp  
tại Thành phố Hồ Chí Minh.  
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu  
5.1. Phương pháp luận chung: Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương  
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử gắn với quan  
điểm về mối liên hệ phổ biến, quan điểm về sự phát triển trong Triết học Mác  
- Lê-nin.  
5.2. Phương pháp luận cụ thể  
5.2.1. Phương pháp nghiên cứu định tính: Nghiên cứu, tra cứu tài liệu  
thứ cấp (sách báo, tạp chí, công trình nghiên cứu có liên quan,…).  
5
5.2.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng  
Thu thập thông tin, dữ liệu định lượng được tập hợp thông qua tổ chức  
một điều tra xã hội học (phát phiếu điều tra) với quy mô nhỏ (tại cơ quan tác  
giả đang công tác), xử lí dữ liệu có được trên phần mềm Mirosoft Excel 2013.  
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn  
6.1. Ý nghĩa lý luận: Đóng góp, làm rõ cơ sở lý luận về chính sách hỗ  
trợ khởi nghiệp: khái niệm, bản chất, quy trình, nội dung, đặc điểm, yếu tố tác  
động đến chính sách phát triển kinh tế. Làm căn cứ lý luận cho Ủy ban nhân  
dân Thành phố Hồ Chí Minh hoàn thiện chính sách phát triển hoàn thiện hệ  
sinh thái khởi nghiệp trên địa bàn.  
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Làm rõ, đánh giá được thục trạng, phân tích  
được nguyên nhân, đề ra được giải pháp góp phần cung cấp những căn cứ  
thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả chính sách phát triển kinh tế, hoàn thiện hệ  
sinh thái khởi nghiệp.  
7. Cơ cấu của luận văn  
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội  
dung luận văn được thể hiện trong 3 chương:  
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.  
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ thanh niên khởi  
nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh.  
Chương 3: Các giải pháp về thực hiện chính sách hỗ trợ thanh niên  
khởi nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh.  
6
Chương 1  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN  
1.1. Cơ sở lý luận  
1.1.1. Các khái niệm cơ bản  
Khái niệm thanh niên:  
Luật thanh niên của Việt Nam có ghi rõ Thanh niên là công dân Việt  
Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi. Thanh niên được xem là lực lượng đi đầu  
trong mọi lĩnh vực bảo vệ và phát triển đất nước từ kinh tế, văn hóa, khoa học  
công nghệ, bảo vệ an ninh trật tự xã hội … Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng  
định vai trò nòng cốt của thanh niên Việt Nam “Đâu cần thanh niên có, việc  
gì khó có thanh niên”.  
Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, góp phần quan trọng trong việc  
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Họ được kế thừa những truyền thống tốt đẹp của  
dân tộc, đó là tinh thần tự hào dân tộc, sẵn sàng vượt qua những thử thách khó  
khăn vươn lên trong cuộc sống, tinh thần xung kích, tình nguyện, dám nghĩ,  
dám làm... Ngày nay, thanh niên đang là lực lượng đi đầu trong công cuộc đổi  
mới, bảo vệ và xây dựng đất nước, thanh niên được trang bị học vấn cao với  
trình độ chuyên môn kỹ thuật, khoa học công nghệ tiên tiến, đời sống vật chất  
và tinh thần ngày càng được nâng lên.  
Đảng xác định công tác thanh niên là công tác của Đảng, một trong  
những vấn đề có quyết định đến thành bại của cách mạng. Tại Nghị quyết về  
Cộng sản thanh niên vận động tháng 10/1930, Đảng ta khẳng định: “Thanh  
niên lao động đã thành một lực lượng cách mạng quan trọng không thể không  
kể tới được”.  
Điều 66 Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm  
1992 (đã được sửa đổi, bổ sung) khẳng định: “Thanh niên được gia đình, Nhà  
nước và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động và giải trí, phát triển thể lực, trí  
7
lực, bồi dưỡng về đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân và lý tưởng  
xã hội chủ nghĩa, đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ  
quốc”.  
Đảng đã ban hành nhiều Nghị quyết, chỉ thị, văn bản quan trọng về  
công tác thanh niên. Trong đó Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành  
Trung ương Đảng khóa VII về công tác thanh niên trong thời kỳ mới đã nêu  
rõ: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ  
21 có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không phần lớn tùy thuộc  
vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên;  
công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân  
tố quyết định sự thành bại của cách mạng”.  
Thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước đã ban hành  
nhiều quy định, chính sách nhằm chăm lo sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng, phát  
huy vai trò của thanh niên. Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế như việc thể chế  
hóa các chủ trương của Đảng chưa đồng bộ, việc ban hành Luật Thanh niên  
còn chậm, một số chính sách chưa phù hợp với thực tiễn...  
Khái niệm khởi nghiệp, khởi nghiệp sáng tạo:  
Hiện nay, cụm từ startup (khởi nghiệp sáng tạo) đã trở nên phổ biến tuy  
nhiên nhiều người vẫn chưa phân biệt được start-up, tức là khởi nghiệp đổi  
mới sáng tạo, với khởi nghiệp hay lập nghiệp.  
Theo dự thảo Luật Doanh nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ định nghĩa,  
khởi nghiệp là quá trình thực hiện ý tưởng kinh doanh, bao gồm quá trình  
thành lập và vận hành doanh nghiệp trong vòng 5 năm kể từ ngày được cấp  
giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu, chưa niêm yết trên thị trường  
chứng khoán. Đây có thể xem là khởi nghiệp tự doanh, hay nói cách khác là  
tương tự với khởi sự doanh nghiệp.  
8
Trong khi đó khởi nghiệp sáng tạo (startup) là khởi nghiệp dựa trên nền  
của sáng tạo (dựa trên một công nghệ mới, hoặc tạo ra hình thức kinh doanh  
mới, hoặc xây dựng một phân khúc thị trường mới...). Tức là các doanh  
nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phải có sự khác biệt không chỉ với các  
doanh nghiệp ở trong nước, với tất cả các công ty trước đây và cả với các  
doanh nghiệp khác trên thế giới. Vì đặc điểm đó nên doanh nghiệp khởi  
nghiệp đổi mới sáng tạo nhanh chóng thu hút được đầu tư trong và ngoài  
nước để phát triển nhanh, ví dụ như Facebook, Google chỉ trong 2-3 năm đã  
phát triển để trở thành các tập đoàn lớn. Tóm lại, khởi nghiệp sáng tạo  
(startup) là quá trình khởi nghiệp dựa trên việc tạo ra hoặc ứng dụng kết quả  
nghiên cứu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao  
năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa và có khả năng  
tăng trưởng nhanh.  
Theo cách hiểu chung, “Startup” hay khởi nghiệp sáng tạo, là quá trình  
khởi nghiệp dựa trên các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để  
nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa và có  
khả năng tăng trưởng nhanh.  
Nói đơn giản, startup phải bảo đảm được hai yếu tố là “start” và “up”.  
“Start” có nghĩa là bạn bắt đầu với một ý tưởng mới, hoặc nếu ý tưởng đó  
không mới thì cách làm phải đột phá và thường thì gắn với ứng dụng công  
nghệ. Còn “up” liên quan đến khả năng thương mại hóa và quy mô của thị  
trường, nghĩa là ý tưởng đó phải có khả năng được triển khai trong thực tế, có  
khách hàng hoặc khách hàng tiềm năng, đồng thời phải có khả năng mở rộng  
được để “up” trong thời gian càng nhanh càng tốt.  
Khái niệm thanh niên khởi nghiệp, thanh niên khởi nghiệp sáng  
tạo:  
9
Thanh niên khởi nghiệp là quá trình công dân Việt Nam độ tuổi từ 16  
đến 30 tuổi tham gia thực hiện ý tưởng kinh doanh của cá nhân hoặc tập thể,  
bao gồm quá trình thành lập và vận hành doanh nghiệp trong vòng 5 năm kể  
từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu, chưa niêm  
yết trên thị trường chứng khoán.  
Thanh niên khởi nghiệp sáng tạo là công dân Việt Nam có độ tuổi từ 16  
đến 30 tuổi khởi nghiệp dựa trên nền của sáng tạo (dựa trên một công nghệ  
mới, hoặc tạo ra hình thức kinh doanh mới, hoặc xây dựng một phân khúc thị  
trường mới...)  
Khái niệm chính sách khởi nghiệp:  
Thuật ngữ “Chính sách” được sử dụng rất phổ biến, từ những chính  
sách vĩ mô như chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa đến tầm vi mô như  
chính sách của một công ty. Ở tầm vĩ mô, mỗi khi có vấn đề gì nổi cộm trong  
xã hội thì công chúng lại trông chờ vào những phản ứng của chính quyền.  
Những phản ứng đó khi định hình và thể hiện một cách chính thức được gọi  
dưới tên là “chính sách”. Chính sách cũng có thể hàm chứa những tính toán,  
định hướng dài hạn của Chính phủ, mối quan tâm đến một nhóm đối tượng  
nào đó hay đơn thuần chỉ là sự áp đặt mang tính “gia trưởng” của Nhà nước.  
Thuật ngữ chính sách được sử dụng với hàm ý chính sách công, trong đó Nhà  
nước là nhân vật then chốt, là chủ thể cho ra đời các sản phẩm là chính sách.  
Chính sách là biện pháp can thiệp của Nhà nước vào một ngành, một  
lĩnh vực hay toàn bộ nền kinh tế nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định,  
với những công cụ và giải pháp nhất định và trong một thời hạn xác định.  
Theo khái niệm trên, “chính sách” bao hàm các nội dung:  
- Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra;  
- Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và  
tình hình thực tế;  
10  
- Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhằm đến mục đích nhất  
định; nhằm thực hiện một mục tiêu nào đó, chính sách được ban hành đều có  
sự tính toán và chủ đích rõ ràng. Khi một vấn đề kinh tế - xã hội cần được giải  
quyết, chính quyền sẽ đưa ra mục tiêu và cách thức giải quyết (để cho vấn đề  
tự phát triển cũng là một cách giải quyết). Sự lựa chọn cách giải quyết đưa  
đến những quyết định và toàn bộ quy trình này được đặt trong một môi trường  
tương tác của các tác nhân chính sách, tạo ra hàng loạt các ràng buộc trước  
khi chính sách xuất hiện và các tác động sau đó. Chính sách không tự nhiên  
xuất hiện, nó chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn  
hóa, được thể hiện cụ thể qua sự can thiệp của Nhà nước đối với các thất bại  
thị trường, những giá trị chính trị thịnh hành, tâm lý công chúng vào thời  
điểm đó, cấu trúc của chính quyền, các quy phạm xã hội của quốc gia và địa  
phương và hàng loạt các biến cố khác. Từ sự chi phối của những điều kiện  
này, dẫn đến cách thể hiện khác nhau trong các vai trò chính sách và quy trình  
chính sách. Chính sách của Nhà nước đưa ra nhằm tác động vào các ngành,  
lĩnh vực, khu vực như: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, sản xuất, tiêu  
dùng,… Từ cách tiếp cận chính sách như trên, mỗi lĩnh vực nhà nước có  
chính sách riêng, ta có khái niệm chính sách khởi nghiệp như sau:  
Chính sách khởi nghiệp là công cụ để quản lý doanh nghiệp khởi  
nghiệp, bao gồm các chế độ, các biện pháp, các quy định cụ thể về quá trình  
ươm tạo, hình thành, doanh nghiệp khởi nghiệp nhằm xây dựng và phát triển  
các doanh nghiệp khởi nghiệp lớn mạnh, hiện đại và đảm bảo đơn giản hóa  
môi trường pháp lý khiến hoạt động khởi nghiệp của các doanh nghiệp đơn  
giản hơn và thân thiện.  
1.1.2. Một vài lý thuyết về khởi nghiệp  
Định nghĩa khởi nghiệp theo từ điển tiếng Việt được giải nghĩa là bắt  
đầu sự nghiệp. Định nghĩa khởi nghiệp cũng thay đổi qua thời gian với các  
11  
nhà nghiên cứu khác nhau. Đến đầu thế kỷ XX, định nghĩa khởi nghiệp đã  
được hoàn thiện và được diễn đạt là quá trình tạo dựng một tổ chức kinh  
doanh và người khởi nghiệp là người sáng lập nên doanh nghiệp đó. Tuy  
nhiên, “không phải bất cứ ai cũng tiềm năng để mở một doanh nghiệp riêng”  
[12] (Learned, 2002). “Một người khởi nghiệp tiềm năng là người đón lấy cơ  
hội để thành lập công ty riêng mình ngay khi cơ hội xuất hiện” [12] (Shapero,  
1981). Sự khởi nghiệp là một quá trình bắt đầu từ việc nhận biết cơ hội, từ đó  
phát triển ý tưởng để theo đuổi cơ hội qua việc thành lập công ty mới. Theo tổ  
chức Global Entrepreneurship Monitor thì “một donh nghiệp khi vừa thành  
lập sẽ trải qua 03 giai đoạn từ hình thành, phát triển ý tưởng đến thành lập  
doanh nghiệp và cuối cùng là duy trì và phát triển doanh nghiệp” [17].  
Hiện nay, các quốc gia trên thế giới nghiên cứu đề tài khởi nghiệp rất  
nhiều. Các quốc gia này có tầm nhìn hướng về một xã hội, đất nước tốt đẹp,  
giàu mạnh khi có những doanh nghiệp mới được thành lập để cung cấp các  
giá trị mới cho toàn xã hội. Đối tượng nghiên cứu khởi nghiệp đặc trưng là  
thanh niên – sinh viên. Vì đối tượng này là thành phần có nhiều tiềm năng khi  
có các tính cách đặc trưng về sự năng động và sáng tạo. Tuy nhiên có 02  
trường phái nghiên cứu về khởi nghiệp. Một trường phái chỉ tập trung nghiên  
cứu tiềm năng khởi nghiệp đối với thanh niên – sinh viên thuộc chuyên ngành  
kinh tế và trường phái còn lại thì nghiên cứu cả tổng thể những các nhân và  
tập thể, tổ chức có khả năng khởi nghiệp ở tất cả các khối ngành.  
Theo Hynes (1996) thì các nghiên cứu khoa học cũng như các lý thuyết  
khởi nghiệp cần được thực hiện ở tất cả các tầng lớp thanh niên - sinh viên  
chứ không nên chỉ tập trung vào sinh viên chuyên ngành kinh tế. Theo ý kiến  
của giáo sư Hynes, “nếu như thực hiện các nghiên cứu đánh giá chung cho cả  
sinh viên kinh tế và sinh viên khối ngành kỹ thuật thì sẽ có thể phát hiện được  
những điều tương đồng và khác biệt giữa 02 nhóm đối tượng đó về tiềm năng  
12  
khởi nghiệp của mỗi nhóm đối tượng” [17]. Những yếu tố ảnh hưởng đến  
tiềm năng khởi nghiệp được nghiên cứu nổi bật là độ tuổi, giới tính, trình độ  
học thức, kinh nghiệm làm việc, sự giáo dục và các yếu tố cá nhân (Delmar &  
Davidsion, 2000). Nếu nhóm những yếu tố riêng lẻ thành những yếu tố tổng  
quát ảnh hưởng đến tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên thì có 03 yếu tố ảnh  
hưởng. Đó là yếu tố địa lý (demographic data), yếu tố tính cách cá nhân  
(personality traits) và yếu tố môi trường (contextual factors).  
Yếu tố địa lý (demographic data) thường dùng để diễn tả cá nhân khởi  
nghiệp về giới tính, độ tuổi, vùng miền.  
Yếu tố tính cách cá nhân (personality traits) thường được biết đến ở  
người khởi nghiệp là tính cách tham vọng, chấp nhận rủi ro và khả năng độc  
lập trong quyết định. McClelland vào năm 1961 đã nhấn mạnh rằng nhu cầu  
thành đạt là yếu tố quyết định chính đến tiềm năng khởi nghiệp của cá nhân.  
Trong khi đó vào năm 1987, Robinson thì khẳng định rằng “sự tự tin và thỏa  
mãn bản thân là yếu tố quyết định” [17]. Các nhà nghiên cứu khác thì tranh  
luận rằng “tiềm năng khởi nghiệp được quyết định bởi nhiều tính cách mà  
không chỉ riêng một tính cách” [17].  
Dyer vào năm 1995 đã đưa ra mô hình phát triển của quá trình khởi  
nghiệp bao gồm các yếu tố tính cách cá nhân, các yếu tố xã hội (mối quan hệ  
gia đình và vai trò của từng cá thể trong gia đình) và các yếu tố kinh tế vĩ mô.  
Scott vào năm 1988 đã kết luận rằng “những đứa trẻ có tiềm năng khởi  
nghiệp thường làm việc trong công ty của gia đình từ khi còn nhỏ” [17]. Scott  
đã khảng định rằng sự tác động của cha mẹ đến tiềm năng khởi nghiệp của cá  
nhân gồm 02 phần: vai trò ảnh hưởng và vai trò người cung cấp nguồn lực để  
khởi nghiệp.  
Reynolds đã dựa vào kết quả các nghiên cứu trước đó và tiến hành đè  
tài của mình vào năm 1997. Ông đã đi đến kết luận rằng “sự ảnh hưởng tích  
13  
cực của gia đình, trình độ học vấn cao, nhu cầu thành đạt cao, khả năng chấp  
nhận rủi ro cao và có xu hướng đổi mới là những nhân tố ảnh hưởng đến tiềm  
năng khởi nghiệp của nam giới từ độ tuổi 25 đến 40 tuổi” [17].  
Đối với nhóm các yếu tố tính cách cá nhân, có 02 cách nghiên cứu đang  
được các nhà nghiên cứu tiến hành. Thứ nhất, người nghiên cứu chỉ xem xét  
tác động của một yếu tốt tính cách cá nhân. Cách còn lại, người nghiên cứu  
xem tác động tổng hợp của một nhóm các yếu tốt tính cách cá nhân lên tiềm  
năng khởi nghiệp. Hai nhà nghiên cứu Driessen và Zwart đã thực hiện nghiên  
cứu sự tác động của 10 yếu tố tính cách cá nhân lên tiềm năng khởi nghiệp  
vào năm 2006. Mô hình đã được hai tác giả phát triển lên thành mô hình E-  
Scan sau đó để đo lường các tính cách này tác động đến tiềm năng khởi  
nghiệp của một cá nhân và được khảo sát trên mạng Internet toàn cầu.  
1.1.3. Chính sách khởi nghiệp  
Chính sách khởi nghiệp tinh gọn  
Khởi Nghiệp Tinh Gọn là một phương pháp kinh doanh mới, đang  
được áp dụng trên toàn thế giới. Đây là quá trình liên tục kiểm tra tầm nhìn  
kinh doanh, điều chỉnh và thích nghi trước khi mọi việc trở nên quá muộn.  
Chính sách khởi nghiệp tinh gọn là chính sách nhằm hỗ trợ xây dựng  
công ty khởi nghiệp là công việc liên quan đến thể chế, quản trị. Chúng ta  
đang phí phạm năng lực dư thừa nên có quá nhiều thất bại. Khởi Nghiệp Tinh  
Gọn lấy tên từ cuộc cải cách Sản xuất tinh gọn tại Toyota. Nguyên lý của nó  
là pháp huy kiến thức, sự sáng tạo của công nhân, giảm thiểu quy mô của  
nhóm, sản xuất đúng thời điểm, kiểm soát hàng tồn kho, đẩy nhanh chu kỳ  
sản xuất. Khởi Nghiệp Tinh Gọn hướng dẫn bạn thực hiện vòng xoay Xây  
dựng – Đo lường – Học hỏi, phản hồi với kim chỉ nam là tầm nhìn chiến lược  
để đưa đến sản phẩm trong quá trình tối ưu hóa.  
14  
Khởi nghiệp là một thể chế con người được thiết lập để tạo ra sản phẩm  
hoặc dịch vụ mới dưới những điều kiện cực kỳ thiếu chắc chắn. Chẳng có quy  
ước về quy mô, lĩnh vực hay khu vực kinh tế. Bất kể ai đang tạo ra một sản  
phẩm hay công ty mới dưới điều kiện thiếu chắc chắn cao độ đều là doanh  
nhân khởi nghiệp.  
Khởi nghiệp không chỉ là sản phẩm, công nghệ, ý tưởng mà còn là một  
thiết chế con người rất sâu sắc.  
“Công ty khởi nghiệp hoạt động với rất nhiều yếu tố bất ổn. Công ty  
khởi nghiệp chưa biết được khách hàng của họ là ai, sản phẩm của họ như thế  
nào.” [14]. Từ những bất ổn trong thực tiễn các công ty khởi nghiệp đa phần  
đều thất bại, Eric Ries xây dựng và đưa ra những lý luận khởi nghiệp tinh  
gọn. Đây là mô hình khởi nghiệp “có những bài học mà không cần phải trả  
giá vẫn có thể học được” [14].  
Năm nguyên tắc của Khởi nghiệp tinh gọn được liệt kê như sau:  
Một là, “doanh nhân khởi nghiệp có ở khắp nơi” [14]. Điều này có  
nghĩa tất cả mọi người đều có khả năng khởi nghiệp, đều có khả năng thành  
lập công ty khởi nghiệp và tạo ra sản phẩm mới khởi nghiệp trong điều kiện  
bấp bênh nhất. Đồng thời doanh nhân cũng có mặt ở khắp nơi, Khởi nghiệp  
tinh gọn có thể áp dụng cho mọi loại hình doanh nghiệp, mọi loại hình kinh  
doanh, tùy theo quy mô lớn nhỏ, với mọi ngành nghề, lĩnh vực.  
Hai là, “kinh doanh cũng là quản trị” [14]. Một công ty khởi nghiệp là  
một thể chế mà không phải là sản phẩm, vì vậy nó đòi hỏi một dạng quản trị  
mới, có cách lèo lái riêng.  
Ba là, “Học hỏi có kiểm chứng. Các công ty khởi nghiệp tồn tại không  
chỉ để tạo ra thứ này thứ kia, để kiếm tiền, hay thậm chí để phục vụ khách  
hàng. Chúng tồn tại để học cách xây dwungj một doanh nghiệp vững bền”  
[14].  
15  
Bốn là, “Xây dựng – Đo lường – Học hỏi” [14]. Công ty khởi nghiệp tổ  
chức hoạt động căn bản là từ ý tưởng tạo ra sản phẩm, đo lường và xem xét  
sản phẩm khi đưa ra thị trường xem xem phản ứng khách hàng như thế nào,  
sau đó nghiên cứu điều chỉnh hay vẫn giũ nguyên ý tưởng ban đầu. Tất cả  
hoạt động khỏi nghiệp đều được thiết kế sao cho vòng quay phản hồi sản  
phẩm diễn ra nhanh nhất.  
Năm là, “Kế toán cải tiến” [14]. Nhằm cải thiện đầu ra của sản phẩm và  
bắt nhà cải tiến chịu trách nhiệm về sản phẩm, cần tập trung vào: “làm thế nào  
đo lường tiến độ, làm thế nào để đặt ra các điểm mốc, làm thế nào để đặt thứ  
tự ưu tiên cho công việc. Điều này đòi hỏi một kiểu kế toán được thiết kế đặc  
biệt cho công ty khởi nghiệp – cũng như cho bất kỳ nhà đầu tư nào vào công  
ty đó” [14].  
Chính sách liên quan đến tạo môi trường pháp lý cho hoạt động khởi  
nghiệp  
Nhìn chung, thuật ngữ khởi nghiệp còn khá mới ở Việt Nam nên cho  
đến nay vẫn chưa có khung pháp lý quy định đầy đủ, cụ thể, trực tiếp và có  
tính hệ thống về doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy vậy, trong thực tế cũng đã có  
chủ trương và một số quy định có liên quan về vườn ươm doanh nghiệp,  
doanh nghiệp nói chung, các trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp… dưới dạng là một  
số điều khoản quy định nằm rải rác ở các Luật, Nghị định,… khác nhau như:  
Luật chuyển giao công nghệ, Nghị định 99/2003/NĐ-CP ngày 28/8/1993 về  
ban hành quy chế khu công nghệ cao, Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày  
23/11/2001 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa,  
Quyết định số 53/2004/QĐ-TTg ngày 05/4/2004 của Thủ tướng Chính  
phủ,…Cho đến nay, chỉ có Luật chuyển giao công nghệ số 80/2006/QH11  
ngày 29/11/2006 là có những quy định cơ bản đối với các cơ sở ươm tạo công  
nghệ, cơ sở ươm tạo doanh nghiệp công nghệ (Điều 3, khoản 6) và hoạt động  
16  
ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ nhằm tạo ra và hoàn  
thiện công nghệ có triển vọng ứng dụng thực tiễn và thương mại hóa, hỗ trợ  
thành lập doanh nghiệp sử dụng công nghệ mới được tạo ra (Điều 3, khoản  
19,20).  
Luật này đã có những quy định khuyến khích và thúc đẩy hoạt động  
ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ, đẩy mạnh việc chuyển  
giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh (Điều 5, khoản 3), đồng  
thời quy trình thành lập Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia nhằm thực hiện mục  
đích hỗ trợ ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ (Điều 39,  
khoản 1, điểm c). Nhà nước cũng khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho tổ  
chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài thành lập cơ sở ươm  
tạo doanh nghiệp công nghệ (Điều 47). Như vậy, có thể thấy, quy định về địa  
vị pháp lý của vườn ươm chưa được cụ thể hóa rõ ràng dựa theo các quy định  
trên và cũng mới chỉ tập trung chủ yếu đối với doanh nghiệp công nghệ.  
Chính sách hỗ trợ về vốn, tín dụng  
Nghị định 99/2003/NĐ-CP ngày 28/8/1993 về ban hành quy chế khu  
công nghệ cao cũng xác định vốn ngân sách nhà nước được bố trí cho xây  
dựng vườn ươm doanh nghiệp, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp, công nghệ cao  
(Điều 9, khoản d). Đáng chú ý là việc quy định các quỹ đầu tư mạo hiểm  
được phép đầu tư vào các hoạt động ươm tạo công nghệ cao, đầu tư ý tưởng  
khởi nghiệp, các chương trình dành cho khởi nghiệp để người khởi nghiệp có  
thể thực hiện ý tưởng thành hiện thực và được hưởng lợi ích từ các hoạt động  
đầu tư. Đồng thời, Nhà nước cũng khuyến khích các quỹ đầu tư nước ngoài  
đang hoạt động tại Việt Nam và ở nước ngoài tham gia hoạt động đầu tư mạo  
hiểm vào khu công nghệ cao, trung tâm khởi nghiệp, vườn ươm doanh  
nghiệp, chương trình hỗ trợ khởi nghiệp … và tạo điều kiện hỗ trợ kinh phí  
17  
ban đầu để hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm phát triển công nghệ cao và  
doanh nghiệp công nghệ cao trong nước (Điều 19).  
Về hỗ trợ tín dụng, các nhà đầu tư có dự án đầu tư tại khu Công nghệ  
cao được xem xét cho vay tín dụng trung hạn, dài hạn với lãi suất ưu đãi,  
được bảo lãnh vay vốn, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư theo quy định hiện hành và  
được hưởng ưu đãi của Nhà nước về tín dụng hỗ trợ xuất khẩu khi trực tiếp  
xuất khẩu sản phẩm (Quyết định số 53/2004/QĐ-TTg ngày 05/4/2004 của  
Thủ tướng Chính phủ quy định một số chính sách khuyến khích đối với các  
dự án đầu tư tại các khu Công nghệ cao).  
Chính sách thuế, đất đai đối với hoạt động ươm tạo, cơ sở ươm tạo  
doanh nghiệp  
Về chính sách thuế, cơ sở ươm tạo công nghệ, cơ sở ươm tạo doanh  
nghiệp công nghệ, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp và các doanh nghiệp khởi  
nghiệp ở những cơ sở này sẽ được miễn thuế thu nhập trong 4 năm, được  
giảm 50% thuế thu nhập phải nộp trong 9 năm tiếp theo và được miễn thuế sử  
dụng đất (Khoản 8, Điều 44, Luật chuyển giao công nghệ). Các tổ chức, cá  
nhân ươm tạo doanh nghiệp tại vườn ươm doanh nghiệp nằm trong khu công  
nghệ cao được Ban quản lý khu công nghệ cao hỗ trợ 50% tiền thuê nhà,  
xưởng, cung cấp thông tin miễn phí, được cung cấp các dịch vụ kinh doanh  
với điều kiện ưu đãi và được hỗ trợ để vay vốn tại các tổ chức tài chính và  
quỹ đầu tư (Khoản 2, Điều 20, Nghị định 99/2003/NĐ-CP ngày 28/8/1993).  
Theo Quyết định số 53/2004/QĐ-TTg ngày 5/4/2004 của Thủ tướng  
Chính phủ quy định một số chính sách khuyến khích đối với các dự án đầu tư  
tại các Khu công nghệ cao, thị nhà đầu tư có dự án đầu tư tại các Khu công  
nghệ cao được:  
- Hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10% trong suốt thời  
gian thực hiện dự án;  
18  
- Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu  
thuế và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo;  
- Miễn, giảm thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao để bằng mức  
thuế phải nộp án dụng với người nước ngoài có cùng mức thu nhập;  
- Chính sách một giá trong thuê đất trực tiếp từ Ban quản lý khu công  
nghệ cao;  
- Thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong  
thời hạn thuê đất, thuê lại đất tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam  
theo quy định của pháp luật;  
- Miễn tiền thuê đất thực hiện dự án nghiên cứu - phát triển công nghệ  
hoặc đào tạo nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao theo quy định của  
Chính phủ.  
Chính sách về thương mại hóa sản phẩm và đảm bảo thực thi quyền  
sở hữu trí tuệ  
Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ về trợ  
giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ quy định: Chính phủ khuyến khích  
việc thành lập các “vườn ươm doanh nghiệp vừa và nhỏ” để hướng dẫn, đào  
tạo doanh nhân trong bước đầu thành lập doanh nghiệp (Điều 4, khoản 4).  
Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 khẳng định rõ hơn: Nhà nước  
khuyến khích thành lập vườn ươm doanh nghiệp để thực hiện hỗ trợ có thời  
hạn doanh nghiệp trong giai đoạn khởi sự theo quy trình và có hệ thống thông  
qua việc cung cấp cho các doanh nghiệp được ươm tạo không gian, các dịch  
vụ hỗ trợ kinh doanh và các nguồn lực cần thiết nhằm giúp các doanh nghiệp  
hiện thực hóa, thương mại hóa các ý tưởng kinh doanh và công nghệ (Điều  
14). Quyết định số 53/2004/QĐ-TTg ngày 5/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ  
quy định nhà đầu tư có dự án đầu tư tại Khu công nghệ cao được áp dụng  
chính sách một giá về dịch vụ công do Nhà nước quy định,…  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 75 trang yennguyen 17900 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Thực hiện chính sách hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_thuc_hien_chinh_sach_ho_tro_thanh_nien_khoi_nghiep.pdf