Luận văn Quản lí hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở các trường Mầm non tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Nguyễn Thị Hồng Hoa  
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC  
NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở CÁC  
TRƯỜNG MẦM NON TẠI THỊ XÃ VĨNH CHÂU,  
TỈNH SÓC TRĂNG  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC  
Thành phố Hồ Chí Minh - 2019  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Nguyễn Thị Hồng Hoa  
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC  
NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở CÁC  
TRƯỜNG MẦM NON TẠI THỊ XÃ VĨNH CHÂU,  
TỈNH SÓC TRĂNG  
Chuyên ngành : Quản lí giáo dục  
Mã ngành  
: 8140114  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
TS. PHẠM BÍCH THỦY  
Thành phố Hồ Chí Minh - 2019  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và kết  
quả nghiên cứu nêu trong luận văn trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ  
một công trình nào khác.  
TÁC GIẢ LUẬN VĂN  
Nguyễn Thị Hồng Hoa  
 
LỜI CẢM ƠN  
Quá trình học tập và nghiên cứu theo Chương trình Đào tạo Thạc sĩ chuyên  
ngành Quản lí giáo dục ở Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã  
nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của Lãnh đạo, Quý thầy, cô và đồng  
nghiệp. Tôi xin tri ân và trân trọng cảm ơn:  
- Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh;  
- Phòng sau Đại học và các Phòng, Khoa có liên quan;  
- Khoa Khoa học Giáo dục;  
- Quý thầy, cô giảng dạy;  
- Ban Giám hiệu và giáo viên các trường mầm non trên địa bàn thị xã Vĩnh  
Châu, tỉnh Sóc Trăng.  
- Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến TS. Phạm  
Bích Thủy, giảng viên hướng dẫn khoa học, người đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn,  
động viên tôi rất nhiều trong suốt quá trình hoàn thành luận văn.  
Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi  
những sai sót, bản thân kính mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn thêm của Quý thầy,  
cô và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.  
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn.  
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2019  
Tác giả  
Nguyễn Thị Hồng Hoa  
 
MỤC LỤC  
Trang phụ bìa  
Danh mục các bảng  
 
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
Viết tắt  
Viết đầy đủ  
Cán bộ quản lí  
CBQL  
CSVC  
ĐD  
Cơ sở vật chất  
Đồ dùng  
GDĐT  
Giáo dục và Đào tạo  
Giáo dục mầm non  
Giáo viên  
GDMN  
GV  
HĐGD  
HĐGD NN  
KHHĐGD  
KHGD NN  
KHGD  
MN  
Hoạt động giáo dục  
Hoạt động giáo dục ngôn ngữ  
Kế hoạch hoạt động giáo dục  
Kế hoạch giáo dục ngôn ngữ  
Kế hoạch giáo dục  
Mầm non  
THCS  
Trung học cơ sở  
THPT  
Trung học phổ thông  
 
DANH MỤC CÁC BẢNG  
1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Nghị quyết số 29- NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện  
giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện  
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nêu rõ quan điểm: “Đổi mới căn  
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết,  
từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính  
sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý  
của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham  
gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc  
học, ngành học” và “Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên  
thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo …”  
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2014). Đồng thời Nghị quyết số 29- NQ/TW đề ra mục  
tiêu cụ thể “Đối với giáo dục mầm non, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu  
biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ  
bước vào lớp 1. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm  
2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí  
trước năm 2020. Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non. Phát triển  
giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa  
phương và cơ sở giáo dục” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2014).  
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân.  
Luật Giáo dục năm 2005 nêu rõ mục tiêu của giáo dục mầm non: “giúp trẻ em phát  
triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của  
nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một” (Quốc hội, 2005). Những kỹ năng,  
những kiến thức mà trẻ được tiếp thu qua chương trình chăm sóc giáo dục mầm non  
sẽ là nền tảng cho việc học tập phổ thông của trẻ. Vì thế, chúng ta cần quan tâm đến  
vấn đề giáo dục mầm non, tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ. Đây là yếu  
tố quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực tương lai cho đất nước sau này.  
Để hiểu và diễn tả được những gì mà đứa trẻ muốn nói thì đòi hỏi cần có  
ngôn ngữ. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp giúp trẻ trao đổi thông tin với mọi  
 
2
người xung quanh. Vì thế chương trình giáo dục mầm non luôn chú trọng giáo dục  
ngôn ngữ cho trẻ và coi đây là nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu, góp phần phát  
triển toàn diện nhân cách trẻ. Đặc biệt, đối với trẻ mẫu giáo (3-6 tuổi), khả năng  
ngôn ngữ và giáo dục ngôn ngữ cho trẻ càng trở thành một nhiệm vụ quan trọng của  
nhà trường.  
Đảng và Chính quyền thị xã Vĩnh Châu tỉnh Sóc Trăng, trong những năm  
gần đây, đã có nhiều hành động thể hiện sự quan tâm đến công tác giáo dục và đào  
tạo, trong đó, đặc biệt quan tâm tới giáo dục mầm non. Tuy nhiên, phòng học vẫn  
thiếu chưa đáp ứng đủ nhu cầu đến lớp của trẻ. Đặc biệt, ở nhiều trường mầm non,  
tỷ lệ trẻ dân tộc chiếm trên 70%. Trẻ không giỏi tiếng việt, phát âm ngọng.  
Để hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ đạt hiệu quả thì trước hết những  
người truyền cảm hứng - giáo viên phải đạt được những kỹ năng nhất định như:  
chất giọng, ngữ điệu, điệu bộ, cách phát âm… Nhưng hầu như các giáo viên mầm  
non tại thị xã Vĩnh Châu đều không đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên. Đây là vấn đề  
khó khăn của các trường mầm non trong giáo dục ngôn ngữ. Giáo viên thiếu kinh  
nghiệm, thiếu chuyên môn nên khả năng diễn cảm trong văn học gặp nhiều hạn chế.  
Giáo viên dạy theo kiểu thấy chữ thì đọc và trẻ chỉ cần đọc thuộc là đạt yêu cầu. Kết  
quả là cách diễn đạt câu nói của trẻ cụt ý, thiếu nghĩa, cách đọc thơ không diễn cảm,  
kể chuyện chưa thể hiện được giọng các nhân vật…  
Bên cạnh đó, công tác quản lí hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ ở các  
trường mầm non tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng còn nhiều điều bất cập. Người  
cán bộ quản lí chưa nắm rõ được công tác giáo dục ngôn ngữ ở trường mình đã đạt  
được mục tiêu của chương trình? Giáo viên còn gặp phải những khó khăn gì trong  
việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ?. Trong từng chức năng của quản lý hoạt động giáo  
dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở trường mẫu giáo cũng còn nhiều tồn tại. Các  
trường đã xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình giáo dục nhưng vẫn mang tính  
thụ động, hình thức. Việc chỉ đạo chưa sát sao, cụ thể. Hoạt động kiểm tra, đánh giá  
chưa tiến hành thường xuyên, kịp thời.  
Theo tổng quan nghiên cứu vấn đề mà tôi thu thập được thì đến giai đoạn  
này chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục ngôn ngữ ở các  
3
trường mầm non. Vì vậy, tôi chọn đề tài “Quản lí hoạt động giáo dục ngôn ngữ  
cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng” là  
đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục.  
2. Mục đích nghiên cứu  
Đề xuất các biện pháp quản lí góp phần nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động  
giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non tại thị xã Vĩnh Châu,  
tỉnh Sóc Trăng trong giai đoạn hiện nay.  
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu  
3.1. Khách thể nghiên cứu  
Hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non  
3.2. Đối tượng nghiên cứu  
Quản lí hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non  
tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng  
4. Giả thuyết khoa học  
Công tác quản lí hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở các trường  
mầm non tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng đã đạt được một số kết quả như trẻ  
nói được tròn câu, đọc được thơ, kể được chuyện. Tuy nhiên, công tác này còn có  
một số hạn chế trong việc lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch chỉ đạo thực  
hiện và kiểm tra, đánh giá. Nếu khảo sát và đánh giá đúng thực trạng về hoạt động  
giáo dục ngôn ngữ và quản lí hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo tại các  
trường mầm non, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng thì có thể đề xuất được một số  
biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác này tại các trường.  
5. Nhiệm vụ nghiên cứu  
5.1. Hệ thống hóa cơ sở lí luận về hoạt động giáo dục ngôn ngữ và công tác  
quản lí hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non.  
5.2. Mô tả và đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục ngôn ngữ và quản lí  
hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo tại các trường mầm non thị xã Vĩnh  
Châu, tỉnh Sóc Trăng.  
4
5.3. Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lí hoạt động  
giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo tại các trường mầm non, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh  
Sóc Trăng.  
6. Phạm vi nghiên cứu  
6.1. Về nội dung nghiên cứu  
Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lí hoạt động giáo dục ngôn ngữ  
cho trẻ mẫu giáo qua hoạt động làm quen văn học ở các trường mầm non tại thị xã  
Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.  
6.2. Về địa bàn nghiên cứu  
Khảo sát ở 6/11 trường mầm non trong thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng,  
gồm: Trường mầm non Vĩnh Hiệp; Trường mầm non Vĩnh Phước 1; Trường mầm  
non Vĩnh Tân 1; Trường mầm non Phường 2; Trường mầm non Lạc Hòa; Trường  
mầm non Vĩnh Tân  
6.3. Đối tượng khảo sát  
- Cán bộ quản lý: 34  
- Giáo viên: 63  
6.4. Giới hạn về thời gian  
Đề tài thu thập và sử dụng số liệu năm học 2017 -2018  
7. Phương pháp nghiên cứu  
7.1. Phương pháp luận nghiên cứu  
7.1.1. Quan điểm hệ thống  
Quan điểm này xem xét đối tượng nghiên cứu như một hệ thống toàn vẹn,  
trong đó bao gồm nhiều bộ phận có quan hệ với nhau. Trong đề tài này, công tác  
quản lí hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non được  
coi như là một hệ thống gồm nhiều bộ phận là các khâu lập kế hoạch, tổ chức, chỉ  
đạo, kiểm tra. Các khâu đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và tác động qua lại lẫn  
nhau.  
Cũng có thể xem hoạt động giáo dục ngôn ngữ bao gồm các thành tố: mục  
tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức và kiểm tra, đánh giá  
kết quả hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ. Tất cả các thành tố trên cũng có mối  
5
quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Chính vì vậy khi quản lý, cần phải tác động đồng  
bộ đến tất cả các thành tố này thì hoạt động quản lý mới có hiệu quả.  
Bản thân công tác quản lí hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ có mối quan  
hệ biện chứng với việc quản lí các hoạt động khác của công tác quản lí nhà trường  
như quản lí đội ngũ giáo viên, quản lí tài chính, quản lí cơ sở vật chất và các điều  
kiện hỗ trợ, quản lí thi đua khen thưởng, quản lí việc chăm sóc trẻ, quản lí hoạt  
động giáo dục vận động... Qua nghiên cứu có thể phát hiện các quy luật và các mối  
quan hệ ấy. Thực hiện tốt công tác quản lí hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ sẽ  
góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà trường và nâng cao chất lượng giáo dục ở  
trường mầm non.  
7.1.2. Quan điểm thực tiễn  
Giáo dục ngôn ngữ và quản lí hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo  
phải xuất phát từ thực tiễn và phục vụ cho thực tiễn. Chính vì vậy, các biện pháp đề  
xuất phải dựa trên thực tiễn của thị xã Vĩnh Châu tỉnh Sóc Trăng; có tính cần thiết,  
khả thi và phù hợp với thực tiễn tại địa phương.  
7.1.3. Tiếp cận theo chức năng của quản lí  
Thực trạng công tác quản lí hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mầm non và  
hệ thống biện pháp nâng cao công tác quản lí hoạt động giáo dục ngôn ngữ tại các  
trường mầm non được mô tả, phân tích theo 4 chức năng quản lí, bao gồm: lập kế  
hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, kiểm tra đánh giá  
việc thực hiện kế hoạch.  
7.2. Phương pháp nghiên cứu  
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết  
Mục đích: Xây dựng cơ sở lý luận của luận văn  
Cách thức thực hiện: Hệ thống hóa các vấn đề lý luận có liên quan đến hoạt  
động giáo dục ngôn ngữ và quản lí hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở  
các trường mầm non từ chương trình giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành,  
các trang web, những tài liệu, những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.  
6
7.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn  
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi  
Mục đích: Nhằm khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ và  
quản lí hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non thị xã  
Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng làm căn cứ thực tiễn để đề xuất những biện pháp nâng  
cao hiệu quả quản lý. Đồng thời phương pháp này còn nhằm khảo sát tính cần thiết  
và tính khả thi của các biện pháp mà tác giả đề xuất để nâng cao hiệu quả quản lí  
hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non thị xã Vĩnh  
Châu, tỉnh Sóc Trăng.  
Cách thức thực hiện: Xây dựng 02 bộ câu hỏi dành cho 02 nhóm đối tượng.  
Nhóm 1 gồm: cán bộ quản lý bao gồm hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng  
chuyên môn và Nhóm 2 gồm: giáo viên dạy khối mẫu giáo.  
Phương pháp thống kê toán học  
Mục đích: Xử lý các số liệu định lượng thu thập được.  
Cách thức thực hiện: Sử dụng mềm SPSS 20.0 (Statistical Package For The  
Social Seienees) để xử lý số liệu.  
Phương pháp phỏng vấn  
Mục đích: Nhằm Bổ sung, kiểm tra và làm rõ những thông tin đã thu thập  
được thông qua phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi. Qua đó tìm hiểu thêm hoạt  
động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ và quản lí hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu  
giáo ở trường mầm non thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Những thông tin này  
cũng giúp cho nhà nghiên cứu có thêm căn cứ để khẳng định tính trung thực, độ tin  
cậy của kết quả nghiên cứu.  
Cách thức thực hiện: Trực tiếp trao đổi với cán bộ quản lí, giáo viên và trẻ  
8. Cấu trúc của luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục của tài liệu tham  
khảo, phụ lục nghiên cứu, luận văn gồm có 3 chương:  
Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu  
giáo ở trường mầm non  
7
Chương 2: Thực trạng về quản lí hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu  
giáo ở các trường mầm non tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng  
Chương 3: Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở  
các trường mầm non tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng  
8
Chương 1  
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC  
NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở TRƯỜNG MẦM NON  
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề  
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới  
Vấn đề ngôn ngữ đã được đề cập đến ngay từ thời cổ đại. Nhưng thời cổ đại  
người ta nghiên cứu ngôn ngữ không tách khỏi triết học và lôgíc học. Các nhà triết  
học cổ đại đã coi ngôn ngữ như là một hình thức biểu hiện bề ngoài của các bên  
trong là "logos", tinh thần, trí tuệ của con người. Trong cuốn "Triết học  
DESCARTES" Descartes đã chỉ ra những đặc tính chủ yếu của ngôn ngữ và lấy đó  
làm tiêu chí phân biệt con người, khác với động vật. Ông đã nhấn mạnh tính chất  
của ngôn ngữ, cái tín hiệu duy nhất ấy chắc chắn là của một tư duy tiềm tàng trong  
cơ thể và kết luận rằng "Có thể lấy ngôn ngữ làm chỗ khác nhau thực sự giữa con  
người và con vật". Chỉ đến giữa thế kỷ XIX khuynh hướng tâm lý học mới nảy sinh  
trong ngôn ngữ học. Người đầu tiên sáng lập ra trường phái ngôn ngữ học tâm lý là  
Shteintal (1823 - 1899). Ông đã đưa ra học thuyết ngôn ngữ là sự hoạt động của cá  
nhân và sự phản ánh tâm lý dân tộc. Theo ông, ngôn ngữ học phải dựa vào tâm lý cá  
nhân trong khi nghiên cứu ngôn ngữ cá nhân, phải dựa vào tâm lý dân tộc trong khi  
nghiên cứu ngôn ngữ của dân tộc (Trần Thái Đỉnh, 2005).  
Sau cách mạng tháng Mười Nga 1917, các nhà ngôn ngữ học, tâm lý học Xô  
Viết đã vận dụng quan điểm của Mac - Lênin vào hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ  
đó là: xem xét ngôn ngữ với tư cách là một hiện tượng xã hội. Ngôn ngữ thể hiện  
các mối quan hệ giữa con người với con người được quy định bởi những điều kiện  
cụ thể của thời kỳ lịch sử nhất định. Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy và là  
phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người (Tô Văn Sông, 2009). Với quan điểm  
này có thể kể đến: L.X.Vưgôtxki; R.O.Shor; E.D.Polivanov; K.N.Derzhavin;  
B.A.Larin; M.V.Sergievskij; M.N.Peterson; L.J.JaKubinskij; A.M.Selishchev ... Họ  
đã đi vào nghiên cứu tính chất xã hội của ngôn ngữ, về mối quan hệ giữa ngôn ngữ  
và tư duy, sự phụ thuộc qua lại giữa các thuộc tính của ngôn ngữ… L. X. Vưgotxki  
     
9
trong cuốn: "Tư duy và ngôn ngữ" đã lập luận rằng hoạt động tinh thần của con  
người chính là kết quả học tập mang tính xã hội chứ không phải là một học tập chỉ  
là của cá thể. Theo ông, khi trẻ em gặp phải những khó khăn trong cuộc sống, trẻ  
tham gia vào sự hợp tác của người lớn và bạn bè có năng lực cao hơn, những người  
này giúp đỡ trẻ và khuyến khích trẻ. Trong mối quan hệ hợp tác này, quá trình tư  
duy trong mét xã hội nhất định được chuyển giao sang trẻ. Do ngôn ngữ là phương  
thức đầu tiên mà qua đó, con người trao đổi các giá trị xã hội, L.X. Vưgotxki coi  
ngôn ngữ là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của tư duy (Phạm Minh Hạc,  
2002).  
A. M. Leusina đã tiến hành nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc của  
trẻ mẫu giáo và đi đến kết luận: Không phải là từ mà là câu và ngôn ngữ mạch lạc là  
đơn vị của ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp. Trẻ càng lớn tính hoàn cảnh  
của ngôn ngữ càng giảm dần chuyển sang hình thức nói mạch lạc gắn chặt với sự  
lĩnh hội của vốn từ, lĩnh hội hệ thống ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ (C.Mác -  
Ph.Ăngghen, 1993).  
X. L. Rubinxtêin cho rằng: Điều cơ bản trong phát triển lời nói mạch lạc cho  
trẻ là chỉnh sửa và hoàn thiện kỹ năng sử dụng lời nói như một phương tiện giao  
tiếp… Phát triển vốn từ cũng như việc nắm vững các hình thức ngữ pháp đã ảnh  
hưởng đến lời nói mạch lạc ở từng thời điểm nhất định (C.Mác - Ph.Ăngghen,  
1993).  
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam  
Ở Việt Nam việc nghiên cứu ngôn ngữ của trẻ em lứa tuổi mầm non (0 - 6  
tuổi) cũng được rất nhiều tác giả quan tâm và tiếp cận sâu ở từng góc độ khác nhau  
trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Có thể kể đến những tác giả và các công trình  
nghiên cứu sau:  
- Các tác giả đã nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em theo từng  
giai đoạn 12 -24 tháng, 24 - 36 tháng, 3 tuổi, 4 - 5 tuổi, 1 - 3 tuổi, 3 - 5 tuổi  
như tác giả Lưu Thị Lan (1986), Bùi Việt Anh (1989) …  
- Nghiên cứu sự phát triển các thành phần ngôn ngữ (vốn từ, ngữ pháp,  
hiểu từ, ngôn ngữ mạch lạc) của trẻ em các độ khác nhau có thể kể đến công  
 
10  
trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Minh Huệ (1989), Hồ Minh Tâm  
(1989), Dương Diệu Hoa (1985), Lưu Thị Lan (1996), Nguyễn Thị Mai  
(1998), Đỗ Thị Xuyến (2000) Nguyễn Thị Oanh (2000), Bùi Thị Thanh  
(2005)…  
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển ngôn ngữ trẻ em  
(môi trường sống, sức khoẻ, giáo dục gia đình…) qua công trình nghiên cứu  
của Lưu Thị Lan (1989), Võ Phan Thu Hương (2006) …  
- Các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em nhà trẻ - mẫu giáo qua  
các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước như Nguyễn Gia Cầu  
(1986), Hà Thị Dần (1986), Đỗ Thị Xuyến (2000), Nguyễn Thị Băng Tâm  
(2000), Nguyễn Xuân Khoa (2004), Nguyễn Thị Yến (2004), Nguyễn Thị  
Xuân (2005), Nguyễn Thị Hằng (2008) …  
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ trẻ em với các lĩnh vực khoa  
học: văn học, giao tiếp, tư duy… Với các công trình nghiên cứu của các tác  
giả Đào Thị Minh Huyền (1989), Hồ Lam Hồng (1993), Nguyễn Thạc (1995),  
Nguyễn Xuân Thức (1997) …  
- Nghiên cứu các phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ em của tác giả  
Đinh Hồng Thái (2013).  
- Nghiên cứu về giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mầm non của tác giả Trần Nguyễn  
Nguyên Hân (2017).  
- Tác giả Hoàng Kim Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức với: “Phương  
pháp phát triển ngôn ngữ”. Các tác giả đã đưa ra các phương pháp nhằm tăng  
vốn từ cho trẻ.  
- Tác giả Tạ Ngọc Thanh trong tác phẩm “Đánh giá và kích thích sự phát triển  
của trẻ từ 0 -3 tuổi” cho rằng sự phát cảm ngôn ngữ của trẻ diễn ra mạnh từ 1-3 tuổi.  
- Tác giả Bùi Kim Tuyến và đồng sự với nghiên cứu “Các hoạt động phát  
triển ngôn ngữ của trẻ mầm non”.  
- Các tác giả Nguyễn Quang Ninh, Bùi Kim Tuyến, Lưu Thị Lan, Nguyễn  
Thanh Hồng với: “Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ”, đề cập  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 148 trang yennguyen 18300 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Quản lí hoạt động giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ở các trường Mầm non tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_quan_li_hoat_dong_giao_duc_ngon_ngu_cho_tre_mau_gia.pdf