Luận văn Nâng cao động lực làm việc cho cán bộ, công chức ở các phòng chuyên môn tại Ủy ban nhân dân Quận 3 - Thành phố Hồ Chí Minh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
_________________  
LÂM NGỌC MẪN  
NÂNG CAO ĐỘNG LꢀC LÀM VIꢁC CHO CÁN BỘ,  
CÔNG CHꢂC Ở CÁC PHÒNG CHUYÊN MÔN TẠI ꢃY BAN  
NHÂN DÂN QUꢄN 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHꢅ MINH  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2019  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
_____________  
LÂM NGỌC MẪN  
NÂNG CAO ĐỘNG LꢀC LÀM VIꢁC CHO CÁN BỘ,  
CÔNG CHꢂC Ở CÁC PHÒNG CHUYÊN MÔN TẠI ꢃY BAN  
NHÂN DÂN QUꢄN 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHꢅ MINH  
Chuyên ngành  
: Quản lý công (Hệ điều hành cao cấp)  
Mã số  
: 8340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS.TS. NGUYỄN HỮU HUY NHỰT  
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2019  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết  
quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ  
công trình nào khác.  
Những số liệu trong bảng biểu phục vụ trong việc phân tích, nhận xét, đánh  
giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau và được ghi rõ trong phần  
tài liệu tham khảo.  
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số  
liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đề được trích dẫn và chú thích  
nguồn gốc rõ ràng.  
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về  
nội dung luận văn của mình. Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh  
không liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá  
trình thực hiện (nếu có).  
Tôi xin cam đoan chịu trách nhiệm về lời cam đoan của tôi.  
 
MỤC LỤC  
TRANG PHỤ BÌA  
 
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
CBCC  
HCNN  
UBND  
Cán bộ, công chức  
Hành chính Nhà nước  
Ủy ban nhân dân  
 
DANH MỤC CÁC BẢNG  
 
TÓM TẮT  
Ở Việt Nam, quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền  
kinh tế thị trường, đặc biệt là sự phát triển nhanh chóng của thời kỳ hội nhập trong  
những năm gần đây đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới động lực làm việc của công  
chức ở các cơ quan HCNN. Có một thực tế là trước kia, hầu hết mọi công chức làm  
việc trong nền công vụ nhà nước đều trung thành với những lý tưởng cao đẹp, vì  
Đảng, vì dân; động lực làm việc của công chức xuất phát từ lợi ích chung, xác định  
nhu cầu, lợi ích của mình nằm trong cái chung của tập thể thì nay, do tác động của  
mặt trái từ nền kinh tế thị trường, chủ nghĩa cá nhân có điều kiện phát triển và  
những toan tính lợi ích hẹp hòi ảnh hưởng đến động cơ làm việc trong sáng, động  
lực làm việc vì thế cũng cũng dần giảm sút.  
Qua thời gian công tác ở UBND Quận 3 và quá trình học tập tại trường Đại  
học Kinh tế TP.HCM, tác giả đã tích lũy kiến thức và kinh nghiệm để tiến hành  
nghiên cứu đề tài mà tác giả cảm nhận là cần thiết cả về phương diện lý luận và  
thực tiễn cho UBND Quận 3 là đề tài “Nâng cao đꢀng lꢁc lꢂm viꢃc cho cán bꢀ,  
công chꢄc ở các phòng chuyên môn tꢅi ꢆy ban nhân dân Quꢇn 3 – Thành phố  
Hꢈ Chꢉ Minh”  
Thông qua đề tài, tác giả thực hiện việc nghiên cứu và phân tích các yếu tố tác  
động đến động lực làm việc của CBCC tại UBND Quận 3  
Luận văn được thực hiện theo cả 2 phương pháp là nghiên cứu định tính kết  
hợp phương pháp nghiên cứu định lượng.  
Đề tài thực hiện các mục tiêu cụ thể như sau:  
- Xác định các yếu tố tác động đến động lực làm việc của CBCC tại UBND  
Quận 3.  
- Đánh giá mức độ của các yếu tố tác động đến động lực làm việc của CBCC  
tại UBND Quận 3.  
- Những nhân tố nào tác động đến động lực làm việc của CBCC tại UBND Quận 3?  
 
- Những hàm ý quản trị cần thiết nào nhằm gia tăng động lực làm việc của  
CBCC tại UBND Quận 3.  
Từ khóa: cán bộ - công chức, động lực, UBND Quận 3  
ABSTRACT  
In Vietnam, the process of changing from the centrally planned subsidized  
economy to the market economy, especially the rapid growth of the integration  
period in recent years, has been directly impacting on the motivation of civil servant  
working on state administrative agencies. There is a fact that in the past, most of  
civil servants are loyal to noblest ideals, for the Party for the People; the working  
motivation of civil servant comes from mutual benefit, the need and benefit of each  
person is for the common good, for the sake of all team; then at present, because of  
the reverses of the market economy, the individualism has the condition for  
developing and those petty intentions impacts on the pure working motivation  
which leads to the gradual decrease in working motivation.  
Based on the working experience in People's Committee of District 3 and  
learning period in Ho Chi Minh City University of Economic, the author gained the  
knowledge and experience to research the topic which the author think it is  
necessary to the People's Committee of District 3's theories and practices. The topic  
is "The improvement of working motivation for cadres - civil servants at  
functional department in People's Committee of District 3 - Ho Chi Minh  
City".  
Using this topic, the author do the research and analysis of the elements  
impactong on working motivation of cadres - civil servants in People's Committee  
of District 3.  
The thesis uses 2 methods which are qualitative research and quantitative  
research.  
The topic conduct some specific objectives as the followings:  
- Determine the elements impacting on working motivation of cadres - civil  
servants in People's Commitee of District 3.  
- Evaluate levels of the elements impacting on working motivation of cadres -  
civil servants in People's Commitee of District 3.  
 
- Which element has impact on working motivation of cadres - civil servants  
in People's Commitee of District 3?  
- Which administrative implications are necessary to enhance working  
motivation of cadres - civil servants in People's Commitee of District 3?  
Keyword: cadres - civil servant, motivation, People' s Committee of District 3  
1
CHƯƠNG 1  
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU  
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI  
Trong hoạt động lãnh đạo nhân sự thì động lực làm việc của người lao động là  
một chủ đề được quan tâm đặc biệt không chỉ bởi động lực biểu hiện cho sức sống,  
sự linh hoạt mà còn là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, quyết định tới sự thành công hay  
thất bại của tổ chức. Ở các cơ quan HCNN, xuất phát từ sứ mệnh cao cả của nền  
công vụ là thực hiện các nhiệm vụ công có trách nhiệm cao nhất để phục vụ nhân  
dân, động lực làm việc của công chức HCNN không chỉ được hiểu như là biểu hiện  
cho sức sống, sự linh hoạt, hiệu lực, hiệu quả của thể chế hành chính nhà nước mà  
còn mang tính đại diện để thực thi quyền lực nhà nước để đáp ứng yêu cầu của nền  
công vụ phục vụ nhân dân.  
Tuy nhiên, vấn đề động lực và tạo động lực cho công chức ở các cơ quan  
HCNN lại là một vấn đề vô cùng phức tạp và chứa đựng rất nhiều mâu thuẫn ở mọi  
nền hành chính quốc gia, không phân biệt chế độ, thể chế chính trị. Đó chính là mâu  
thuẫn trong giải quyết sự “cạnh tranh gay gắt” được tạo ra bởi “sức hấp dẫn” từ khu  
vực tư nhân. Xem xét các yếu tố từ tiền lương lương, tiền thưởng, môi trường làm  
việc, tạo cơ hội thăng tiến, tạo ra các giá trị tinh thần...nói chung là cơ chế quản lý  
nhân sự, cơ chế tạo động lực ở khu vực tư nhân dường như luôn linh hoạt, hiệu quả  
hơn ở khu vực các cơ quan HCNN. Cũng chính lý do này, nạn “chảy máu nhân sự”  
từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân đã và đang trở thành mối lo lắng và nguy  
cơ chung cho các nhà quản lý nhân sự ở khu vực nhà nước và ảnh hưởng trực tiếp  
đến hiệu quả công tác tạo động lực cho công chức ở các cơ quan HCNN. Bởi vậy,  
tuỳ thuộc vào thể chế chính trị ở mỗi quốc gia, tuỳ thuộc tình hình kinh tế - xã hội  
ở mỗi nước tuy có khác nhau song vấn đề động lực, tạo động lực cho công chức  
HCNN vẫn luôn là mối quan tâm hàng đầu trong công tác quản lý nhân sự và đòi  
hỏi những người làm công tác quản lý nhân sự cần phải tự giác nắm vững.  
Ở Việt Nam, quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền  
kinh tế thị trường, đặc biệt là sự phát triển nhanh chóng của thời kỳ hội nhập trong  
   
2
những năm gần đây đã và đang ảnh hưởng trực tiếp tới động lực làm việc của công  
chức ở các cơ quan HCNN. Có một thực tế là trước kia, hầu hết mọi công chức làm  
việc trong nền công vụ nhà nước đều trung thành với những lý tưởng cao đẹp, vì  
Đảng, vì dân; động lực làm việc của công chức xuất phát từ lợi ích chung, xác định  
nhu cầu, lợi ích của mình nằm trong cái chung của tập thể thì nay, do tác động của  
mặt trái từ nền kinh tế thị trường, chủ nghĩa cá nhân có điều kiện phát triển và  
những toan tính lợi ích hẹp hòi ảnh hưởng đến động cơ làm việc trong sáng, động  
lực làm việc vì thế cũng cũng dần giảm sút.  
Lý tưởng, niềm tin vào những giá trị tốt đẹp khi được phục vụ cộng đồng ở  
khu vực nhà nước dần mất đi khiến không ít công chức rơi vào vòng xoáy của nền  
“kinh tế thị trường”. Trong giai đoạn các công ty, các tập đoàn lớn bắt đầu thâm  
nhập vào thị trường Việt Nam, họ tận dụng điểm mạnh của chúng ta thường tuyển  
dụng những lao động giỏi, trẻ và sẵn sàng trả mức lương cao đối với những yêu cầu  
của họ.  
Quận 3 là quận trung tâm của TP.HCM, là cầu nối chuyển tải và tổ chức thực  
hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với các tổ  
chức, nhân dân trên địa bàn Quận. Hoạt động của UBND Quận 3, cụ thể là của cán  
bộ, công chức, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn quận.  
Việc cần phải có một đội ngũ cán bộ, công chức hành chính đủ về số lượng và đảm  
bảo về chất lượng là vô cùng cấp thiết.  
Là khu vực trong điểm nhưng hiệu suất làm việc không cao, dẫn đến công tác  
quản lý Nhà nước chưa đạt được hiệu quả cao như kỳ vọng. Nguyên nhân là do  
thiếu động lực làm việc của công chức tại UBND Quận 3, những mục tiêu của từng  
cá nhân chưa thực sự đóng góp vì sự phát triển của tập thể nói riêng cũng như bộ  
máy hành chính nói chung.  
Tại UBND Quận 3, vấn đề trẻ hóa và đổi mới đội ngũ CBCC đang được Ban  
Lãnh đạo hết sức quan tâm cũng không tránh được tình trạng trên. Chỉ trong năm  
2016 – 2018 đã có 3 công chức trẻ vừa được tuyển dụng mới đã xin nghỉ việc để  
sang khu vực tư nhân. Kết quả đánh giá phân loại CBCC hằng năm , có 28% Cán  
bộ công chức hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế năng lực, có 02 trường hợp  
3
bỏ việc và 02 trƣờng hợp thi trúng tuyển nhưng không vào làm. Năng lực và chất  
lượng làm việc của cán bộ,công chức được đánh giá là chưa hiệu quả, chưa tận  
dụng hết năng lực của công chức và chưa tạo được niềm đam mê trong công việc  
cho công chức, điều này ảnh hưởng rất lớn đến mục tiêu của cơ quan. Lãnh đạo  
UBND cũng đã nhận ra những vấn đề trên và thừa nhận rằng môi trường làm việc  
tại UBND còn kém đã làm giảm sự nhiệt huyết và động lực cho nhân viên. Và  
UBND quận cũng đã có nhiều chính sách để khuyến khích nhân viên làm việc: khen  
thưởng, bổ nhiệm, lên lương trước thời hạn…đối với những cá nhân có thành tích  
xuất sắc trong công tác.  
Chính từ thực trạng và một phần biểu hiện tiêu cực của một bộ phận không  
nhỏ CBCC trong các cơ quan HCNN nêu trên đã khiến cho vấn đề động lực và việc  
tạo động lực làm việc cho các đơn vị HCNN càng trở thành chủ đề nóng bỏng hơn bao giờ  
hết.  
Qua thời gian công tác ở UBND Quận 3 và quá trình học tập tại trường Đại  
học Kinh tế TP.HCM, tác giả đã tích lũy kiến thức và kinh nghiệm để tiến hành  
nghiên cứu đề tài mà tác giả cảm nhận là cần thiết cả về phương diện lý luận và  
thực tiễn cho UBND Quận 3 là đề tài “Nâng cao đꢀng lꢁc lꢂm viꢃc cho cán bꢀ,  
công chꢄc ở các phòng chuyên môn tꢅi ꢆy ban nhân dân Quꢇn 3 – Thành phố  
Hꢈ Chꢉ Minh”  
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU  
1.2.1. Mục tiêu tổng quát  
Thông qua đề tài, tác giả thực hiện việc nghiên cứu và phân tích các yếu tố tác  
động đến động lực làm việc của CBCC tại UBND Quận 3  
Từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao động lực làm việc của các CBCC  
tại UBND Quận 3.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
Đề tài thực hiện các mục tiêu cụ thể như sau:  
- Xác định các yếu tố tác động đến động lực làm việc của CBCC tại UBND  
Quận 3.  
     
4
- Đánh giá mức độ của các yếu tố tác động đến động lực làm việc của CBCC  
tại UBND Quận 3.  
- Kiểm định sự khác biệt của các biến định tính (giới tính, vị trí công tác, trình  
độ, độ tuổi và thời gian làm việc) đối với động lực làm việc.  
- Qua mô hình nghiên cứu, đề xuất các hàm ý quản trị nhằm nâng cao động  
lực làm việc của CBCC tại UBND Quận 3.  
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, nội dung của đề tài cần trả lời  
các câu hỏi như sau:  
Những nhân tố nào tác động đến động lực làm việc của CBCC tại UBND Quận 3 ?  
Mức độ các yếu tố tác động đến động lực làm việc của CBCC tại UBND Quận 3  
như thế nào ?  
Có hay không sự khác biệt giữa các biến định tính (giới tính, vị trí công tác,  
trình độ, độ tuổi và thời gian làm việc) đối với động lực làm việc ?  
Những hàm ý quản trị cần thiết nào nhằm gia tăng động lực làm việc của  
CBCC tại UBND Quận 3 ?  
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
1.3.1. Đối tượng nghiên cꢄu  
Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố tác động đến động lực làm việc CBCC tại  
UBND Quận 3.  
Đối tượng khảo sát là CBBC đang làm việc tại các phòng ban tại UBND Quận 3.  
1.3.2. Phꢅm vi nghiên cꢄu  
Thời gian: Từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 01 năm 2019  
Không gian: UBND Quận 3  
Đối tượng thực hiện khảo sát: CBCC các phòng chuyên môn tại UBND Quận 3.  
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Luận văn được thực hiện theo cả 2 phương pháp là nghiên cứu định tính kết  
hợp phương pháp nghiên cứu định lượng.  
1.4.1. Phương pháp nghiên cꢄu định tính  
Dựa trên tham khảo các nghiên cứu trước, đồng thời thực hiện thảo luận nhóm  
các cán bộ, công chức hiện đang công tác tại các phòng chuyên môn thuộc UBND  
           
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 123 trang yennguyen 13141 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nâng cao động lực làm việc cho cán bộ, công chức ở các phòng chuyên môn tại Ủy ban nhân dân Quận 3 - Thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nang_cao_dong_luc_lam_viec_cho_can_bo_cong_chuc_o_c.pdf