Luận văn Nghiên cứu hiệu ứng ngược vị thế trên thị trường chứng khoán Việt Nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
HUỲNH NGỌC THƯƠNG  
NGHIÊN CỨU HIỆU ỨNG NGƯỢC VỊ THẾ TRÊN THỊ  
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM  
LUẬN VĂN THẠC SỸ  
TP.HCM, THÁNG 10 NĂM 2012  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
HUỲNH NGỌC THƯƠNG  
NGHIÊN CỨU HIỆU ỨNG NGƯỢC VỊ THẾ TRÊN THỊ  
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM  
Chuyên ngành : Tài Chính – Ngân Hàng  
Mã số  
: 60.34.02.01  
LUẬN VĂN THẠC SỸ  
Người hướng dẫn khoa học :  
TS Trần Thị Hải Lý  
TP.HCM, THÁNG 10 NĂM 2012  
MỤC LỤC  
Danh mục bảng  
Danh mục hình  
Tóm lược  
Giới thiệu..................................................................................................................... 1  
CHƯƠNG 1: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ HIỆU ỨNG NGƯỢC VỊ THẾ.................... 3  
1.1  
Lý thuyết triển vọng.......................................................................................... 3  
1.1.1 Sự ra đời của lý thuyết kỳ vọng.............................................................. 4  
1.1.2 Bốn điểm chính trong lý thuyết triển vọng.............................................. 4  
Hiệu ứng ngược vị thế....................................................................................... 6  
Bằng chứng thực nghiệm về hiệu ứng ngược vị thế........................................... 7  
1.3.1 Bằng chứng tại Mỹ................................................................................. 7  
1.3.2 Bằng chứng ngoài nước Mỹ ................................................................. 11  
1.2  
1.3  
CHƯƠNG 2: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP .......................................................... 14  
2.1  
2.2  
Dữ liệu............................................................................................................ 14  
Phương pháp................................................................................................... 20  
CHƯƠNG 3: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ HIỆU ỨNG NGƯỢC VỊ THẾ  
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.............................................. 24  
3.1  
3.2  
3.3  
Các đặc điểm của mẫu nghiên cứu .................................................................. 24  
Hiệu ứng ngược vị thế tại thị trường chứng khoán Việt Nam .......................... 25  
Phân tích những thuộc tính ảnh hưởng đến hiệu ứng ngược vị thế trên thị trường  
chứng khoán Việt Nam ................................................................................... 28  
3.2.1 Phân tích tác động của các nhân tố đơn lẻ đến hiệu ứng ngược vị thế trên  
thị trường chứng khoán Việt Nam ........................................................ 28  
3.2.2 Phân tích tác động đồng thời của các nhân tố lên hiệu ứng ngược vị thế34  
CHƯƠNG 4: NHỮNG KẾT QUẢ CHÍNH VỀ HIỆU ỨNG NGƯỢC VỊ THẾ Ở VIỆT  
NAM VÀ MỘT SỐ HÀM Ý ..................................................................................... 41  
Tài liệu tham khảo ..................................................................................................... 44  
DANH MỤC BẢNG  
Bảng 2.1: Mô tả tổng quan dữ liệu nghiên cứu........................................................... 15  
Bảng 3.1: Mô tả dữ liệu giá trị giao dịch, số lượng giao dịch, độ tuổi, thời gian kích  
hoạt tài khoản ............................................................................................................ 24  
Bảng 3.2: Tần số của biến giới tính trong mẫu........................................................... 25  
Bảng 3.3: Mô tả các biến phụ thuộc PGR, PLR và DE............................................... 25  
Bảng 3.4: Tần số các biến phụ thuộc PGR, PLR, DE................................................. 25  
Bảng 3.5: Thống kê những chỉ tiêu tính toán PGR mẫu, PLR mẫu, PGR, PLR .......... 26  
Bảng 3.6: Kiểm định giả thuyết giá trị trung bình của PGR lớn hơn giá trị trung bình  
của PLR..................................................................................................................... 27  
Bảng 3.7 So sánh hiệu ứng ngược vị thế tại Việt Nam và Mỹ, Trung Quốc................ 28  
Bảng 3.8: Phân tích hồi quy biến giá trị giao dịch lên DE .......................................... 28  
Bảng 3.9 : Phân tích hồi quy biến số lượng giao dịch lên DE..................................... 30  
Bảng 3.10 : Phân tích hồi quy biến độ tuổi lên DE..................................................... 31  
Bảng 3.11 : Phân tích hồi quy biến thời gian kích hoạt tài khoản lên DE ................... 32  
Bảng 3.12: Phân tích hồi quy biến giới tính lên DE.................................................... 33  
Bảng 3.13: Ma trận tương quan giữa các biến ............................................................ 35  
Bảng 3.14: Phân tích hồi quy đa biến (lngtgd, lnslgd, lntuoi, lntgkh, Dgtinh) lên DE. 36  
Bảng 3.15: Phân tích hồi quy đa biến lên PGR........................................................... 38  
Bảng 3.16: Phân tích hồi quy đa biến lên PLR........................................................... 39  
DANH MỤC HÌNH  
Hình 1.1 Hàm giá trị trong lý thuyết triển vọng............................................................ 6  
Hình 2.1: VN-Index và HNX-Index trong giai đoạn nghiên cứu ................................ 15  
Tóm lược  
Nghiên cứu này nhằm trả lời cho hai câu hỏi “liệu có tồn tại hiệu ứng ngược vị thế  
(Disposition Effect) trên thị trường chứng khoán Việt Nam hay không? Và những nhân  
tố nào ảnh hưởng đến hiệu ứng này ở thị trường chứng khoán Việt Nam?”. Tôi sử  
dụng dữ liệu giao dịch của một trăm khách hàng tại một Công ty chứng khoán trong  
giai đoạn từ ngày 01 tháng 06 năm 2010 đến ngày 30 tháng 06 năm 2012. Dữ liệu gồm  
27,500 giao dịch mua bán, với tổng giá trị lên đến 2,204 tỷ đồng. Kết quả nghiên cứu  
cho thấy, mức độ sẵn lòng bán ra cổ phiếu có lời trung bình cao hơn 8.5% so với mức  
độ sẵn lòng bán ra cổ phiếu thua lỗ. Những nhà đầu tư nam giới ít chịu ảnh hưởng của  
hiệu ứng ngược vị thế hơn so với nữ, những tài khoản có giá trị giao dịch càng lớn  
càng ít thể hiện hiệu ứng này, trong khi đó, số lượng giao dịch càng cao lại càng thể  
hiện hiệu ứng ngược vị thế mạnh.  
Từ khóa: Hiệu ứng ngược vị thế, lý thuyết triển vọng, tỷ lệ lãi thực hiện, tỷ lệ lỗ thực  
hiện.  
1
Giới thiệu  
Tâm lý thúc đẩy những thiên hướng trong giao dịch mua bán chứng khoán, những  
thiên hướng này có ảnh hưởng nhất định đến thành quả của nhà đầu tư, và vì vậy  
nó có tiềm năng tác động đến giá trị tài sản. Trong nghiên cứu này, tôi đi tìm bằng  
chứng thực nghiệm hiệu ứng ngược vị thế (Disposition Effect) trên thị trường  
chứng khoán Việt Nam, hiệu ứng ngược vị thế là xu hướng nhà đầu tư bán cổ  
phiếu lời quá sớm trong khi đó lại giữ cổ phiếu lỗ quá lâu.  
Hiệu ứng ngược vị thế đã được Odean (1998), Dhar và Zhu (2006) tìm thấy trên  
thị trường chứng khoán Mỹ; Gong-Meng Chen, Kenneth A. Kim, John R.  
Nofsinger, Oliver M. Rui (2004) tìm thấy trên thị trường chứng khoán Trung  
Quốc; Brad M. Barber, Yi-Tsung Lee, Yu-Jane Liu, Terrance Odean (2007) tìm  
thấy trên thị trường chứng khoán Đài Loan,…  
Tuy vậy, ở thị trường chứng khoán Việt Nam, một thị trường còn khá non trẻ, vẫn  
chưa có một nghiên cứu nào về hiệu ứng ngược vị thế. Đây là lý do thôi thúc tôi  
tìm bằng chứng thực nghiệm về sự tồn tại của hiệu ứng này trên thị trường chứng  
khoán Việt Nam.  
Mục tiêu đề tài: Tìm bằng chứng thực nghiệm hiệu ứng ngược vị thế ở các nhà đầu  
tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Đồng thời, tìm kiếm mối quan  
hệ giữa hiệu ứng này với giá trị giao dịch, số lượng giao dịch, thời gian kích hoạt  
tài khoản, độ tuổi và giới tính của nhà đầu tư.  
Các câu hỏi nghiên cứu:  
.
Hiệu ứng ngược vị thế (Disposition effect) có tồn tại ở các nhà đầu tư cá nhân  
trên thị trường chứng khoán Việt Nam không?  
.
Giá trị giao dịch, số lượng giao dịch, thời gian kích hoạt tài khoản, độ tuổi và  
giới tính của nhà đầu tư ảnh hưởng thế nào đến hiệu ứng ngược vị thế?  
Bài nghiên cứu này được trình bày như sau:  
2
Chương 1: Khung lý thuyết về hiệu ứng ngược vị thế. Trong chương này, tôi điểm  
qua những lý thuyết có liên quan đến hiệu ứng ngược vị thế và bằng chứng từ  
những nghiên cứu trước đó về hiệu ứng này.  
Chương 2: Dữ liệu và phương pháp. Trong chương này, tôi sẽ mô tả dữ liệu, cách  
tổ chức dữ liệu và trình bày phương pháp nghiên cứu.  
Chương 3: Bằng chứng thực nghiệm hiệu ứng ngược vị thế trên thị trường chứng  
khoán Việt Nam. Trong chương này, tôi chạy các thống kê mô tả, hồi quy và kiểm  
định để làm rõ các câu hỏi nghiên cứu.  
Chương 4: Những kết quả chính về hiệu ứng ngược vị thế tại Việt Nam và một số  
hàm ý.  
3
CHƯƠNG 1: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ HIỆU ỨNG NGƯỢC VỊ THẾ  
Hiệu ứng ngược vị thế được tìm thấy trên hành vi của nhà đầu tư. Do vậy để hiểu  
rõ khái niệm này, chúng ta phải đi từ nền tảng lý thuyết tài chính hành vi, mà cụ  
thể là lý thuyết triển vọng. Bên cạnh đó, những nghiên cứu đã được công bố của  
các tác giả trước đây về hiệu ứng ngược vị thế đóng vai trò quan trọng cho cơ sở lý  
thuyết của nghiên cứu này.  
1.1  
Lý thuyết triển vọng  
Trong hầu hết các mô hình lý thuyết truyền thống, dựa trên những giả định nền  
tảng, chẳng hạn như giả định về khẩu vị rủi ro của các nhà đầu tư, giả định về cách  
đánh giá rủi ro của họ trước các thương vụ mạo hiểm. Các mô hình này thường giả  
định những người tham gia thị trường thường đánh giá rủi ro theo khuôn khổ của  
“hữu dụng kỳ vọng” (the expected utility framework- viết tắt là EU). Lý thuyết  
hữu dụng kỳ vọng được phát triển bởi Von Neumann và Morgenstern (1944). Theo  
đó, các tác giả cho rằng khẩu vị rủi ro của các nhà đầu tư nếu thỏa tính độc lập,  
liên tục,… thì nó được đại diện bằng một hàm hữu dụng.  
Ngay khi lý thuyết EU ra đời, các công trình nghiên cứu thực nghiệm theo sau đó  
phát hiện rằng những người tham gia thị trường vi phạm một cách có hệ thống lý  
thuyết EU, từ đó làm bùng nổ sự ra đời và phát triển của các lý thuyết non-EU, mà  
trong đó, các lý thuyết này cố gắng xâu chuỗi lại các chứng cứ thực nghiệm trong  
các bài nghiên cứu của họ. Có thể kể ra một số các nghiên cứu đáng chú ý như “lý  
thuyết sự thất vọng” [Gul (1991)], “lý thuyết hối tiếc” [Loomes và Sugden (1982)],  
và “lý thuyết triển vọng” [Kahneman và Tversky (1979), Tversky và Kahneman  
(1992)].  
Trong số các nghiên cứu theo trường phái non-EU, lý thuyết triển vọng do  
Kahneman và Tversky, nghiên cứu năm 1979 và 1992 là hứa hẹn nhất. Nguyên  
nhân chính là vì lý thuyết này thành công nhất trong việc tập hợp các bằng chứng  
thực nghiệm và mô tả một cách rõ ràng thái độ của những người tham gia thị  
trường trước nhiều dạng trò chơi may rủi khác nhau. Trong khi các nghiên cứu  
4
khác chỉ đơn thuần tập hợp các chứng cứ thực nghiệm về một số hiện tượng bất  
thường, với mục đích làm suy yếu lý thuyết EU.  
1.1.1 Sự ra đời của lý thuyết kỳ vọng  
Lý thuyết tài chính truyền thống giả định rằng các nhà đầu tư ra quyết định trong  
điều kiện không chắc chắn bằng cách tối đa hóa hữu dụng kỳ vọng của tài sản và  
tiêu dùng. Lý thuyết hữu dụng kỳ vọng là một lý thuyết thuần toán học và các tiên  
đề trong đó được xây dựng dựa trên nền tảng các tư duy hợp lý. Tuy nhiên, theo  
nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng một số giả định của lý thuyết hữu  
dụng kỳ vọng không đúng trong thực tế, dẫn đến sự mô tả của lý thuyết này về  
hành vi của con người khi lựa chọn các phương án chọn lựa không chính xác.  
Kahneman và Tversky (1979) đề xuất lý thuyết triển vọng như là một mô hình mô  
tả hành vi ra quyết định của con người trong các điều kiện không chắc chắn. Lý  
thuyết triển vọng tiếp cận vấn đề bằng cách mô tả các hành vi thực tế của con  
người khi họ quyết định lựa chọn các phương án. Lý thuyết này khác với lý thuyết  
hữu dụng kỳ vọng ở chỗ con người được khảo sát trong lý thuyết triển vọng  
thường có xu hướng vi phạm các quy tắc đặt ra trong lý thuyết hữu dụng kỳ vọng.  
1.1.2 Bốn điểm chính trong lý thuyết triển vọng  
Lý thuyết triển vọng được hiểu rõ hơn qua những điểm sau:  
Thứ nhất, con người trong lý thuyết EU lựa chọn phương án dựa trên cơ sở tác  
động của các cấp độ tài sản. Ngược lại, con người trong lý thuyết triển vọng lựa  
chọn các phương án dựa trên tác động của các kết quả thay đổi trong các cấp độ tài  
sản. Nói cách khác, người ta đánh giá các kết quả dựa trên lời và lỗ.  
Thứ hai, con người trong lý thuyết EU luôn luôn không ưa thích rủi ro (risk  
averse), không bao giờ tìm kiếm rủi ro trong bất kỳ lựa chọn nào của họ. Ngược  
lại, con người trong lý thuyết triển vọng không ưa thích rủi ro trong miền lời và  
tìm kiếm rủi ro trong miền lỗ. Xem xét ví dụ sau:  
.
A = chắc chắn đạt được 25000$.  
5
.
.
.
B = 25% cơ hội nhận được 100000$ và 75% không nhận được gì cả.  
C = chắc chắn lỗ 75000$.  
D = 75% cơ hội mất đi 100000$ và 25% không mất gì cả.  
Kahneman và Tversky phát hiện rằng lựa chọn phổ biến là A, và lựa chọn ít phổ  
biến hơn là B. Điều này khẳng định cho lập luận rằng các nhà đầu tư không ưa  
thích rủi ro, và không bao giờ tìm kiếm rủi ro (risk-seeking) theo lý thuyết EU đã  
đề xuất. Tuy nhiên, giữa C và D, lựa chọn phổ biến là D. Điều này ủng hộ cho lý  
thuyết triển vọng vì khi đó, người ta có xu hướng tìm rủi ro khi lựa chọn phương  
án D. Ở đây lưu ý rằng kỳ vọng lỗ 75,000$ trong phương án D (75% lỗ 100,000$)  
bằng với mức lỗ 75,000$ ở phương án C, nhưng lựa chọn D rủi ro hơn lựa chọn C  
vì thực tế, người ta có thể lỗ 100,000$. Kahneman và Tversky cho rằng con người  
thích lựa chọn D thay vì C là do họ không ưa thích các khoản lỗ chắc chắn  
(aversion to sure loss).  
Thứ ba, lý thuyết triển vọng thường đề cập đến thuật ngữ “không ưa thích lỗ”. Một  
cá nhân không ưa thích lỗ khi không thích một cách như nhau các trò cá cược 50-  
50, và hơn nữa sự không ưa thích lỗ đối với các trò cá cược này có thể tăng lên  
thậm chí ngay cả khi rủi ro của các trò cá cược đó không thay đổi. Nói cách khác,  
người ta đánh giá không đồng đều giá trị hữu dụng của việc nhận được một khoản  
lời hay lỗ có cùng giá trị với mức xác suất xảy ra là như nhau. Sự không ưa thích  
lỗ nói lên rằng hữu dụng mất đi do việc từ bỏ các giá trị tốt thì cao hơn giá trị hữu  
dụng của việc nhận được giá trị tốt đó. Sự không ưa thích lỗ nói lên rằng có thể  
trong một số trường hợp, việc né tránh lỗ có thể dẫn đến việc phải chấp nhận một  
mức rủi ro cao hơn khi lựa chọn phương án. Vài tranh luận cũng cho thấy rằng các  
nhà đầu tư lựa chọn một phương án mục đích không phải để tránh rủi ro mà mục  
đích là để tránh lỗ. Ý tưởng này có thể được minh họa bằng ví dụ của Samuelson  
(1963). Samuelson đề nghị các đồng nghiệp của ông chơi trò tung đồng xu, nếu  
sấp, họ nhận được 200$, nếu ngửa thì họ mất 100$. Báo cáo của ông ghi lại câu  
nói của đồng nghiệp ông rằng: “tôi sẽ không đánh cược đâu vì tôi cảm thấy lỗ  
100$ nhiều hơn lời 200$”.  
6
Thứ bốn, con người theo lý thuyết EU đánh giá rủi ro khách quan thông qua xác  
suất xảy ra của nó. Ngược lai, độ hữu dụng của con người trong lý thuyết triển  
vọng ít phụ thuộc vào xác suất xảy ra mà thay vào đó, hữu dụng này phụ thuộc  
nhiều vào sự thay đổi trong xác suất. Sự thay đổi xác suất này có thể được xem  
như là một trọng số quyết định, hoặc là xác suất chủ quan. Họ không đo lường xác  
suất xảy ra của sự kiện, thay vào đó, họ đo lường tác động của các sự kiện lên ước  
muốn hình thành từ các kỳ vọng. Đặc điểm này của lý thuyết triển vọng có thể giải  
thích một số trường hợp vi phạm lý thuyết EU của những người tham gia thị  
trường, bao gồm nghịch lý nổi tiếng Allais. Con người trong lý thuyết triển vọng  
đánh giá cao quá mức các xác suất nhỏ. Việc đánh giá cao quá mức xác suất nhỏ  
giải thích tại sao tồn tại nhu cầu của con người đối với vé số, một hình thức cung  
cấp một cơ hội nhỏ cho một khoản lời lớn, và nhu cầu của con người đối với bảo  
hiểm, một hình thức chứa đựng một xác suất nhỏ cho một khoản lỗ lớn.  
Nói tóm lại, dưới lý thuyết triển vọng con người đánh giá rủi ro bằng việc sử dụng  
hàm giá trị được định nghĩa trên lời và lỗ. Theo đó hình dạng của hàm giá trị sẽ là  
lõm trong miền lời và lồi trong miền lỗ. Điểm xoắn lại tại điểm tham chiếu  
(referenve point) cho thấy người ta nhạy cảm với các khoản lỗ hơn các khoản lời;  
và sử dụng xác suất chủ quan (transformed hay subjective probability), được cung  
cấp bởi hàm trọng số (weighting function), hơn là xác suất khách quan để đánh giá  
rủi ro.  
Hình 1.1 Hàm giá trị trong lý thuyết triển vọng  
Nguồn: Kahneman và Tversky (1979)  
7
1.2  
Hiệu ứng ngược vị thế  
Hiệu ứng ngược vị thế (Disposition Effect) là khuynh hướng nhà đầu tư nắm giữ  
cổ phiếu lỗ quá lâu, trong khi bán cổ phiếu lời quá sớm.  
Hầu hết nhà đầu tư tham gia thị trường đều từng nghe qua nguyên tắc cắt lỗ. Theo  
nguyên tắc này, ở vị thế mua (long position) nhà đầu tư phải bán cổ phiếu ra khi  
giá đi ngược dự đoán của nhà đầu tư một tỷ lệ phần trăm nhất định. Tỷ lệ phần  
trăm này phụ thuộc vào từng nhà đầu tư khác nhau. Tuy nhiên, rất nhiều nhà đầu  
tư gặp khó khăn khi tuân theo nguyên tắc này. Thay vào đó, họ có khuynh hướng  
bán sớm các cổ phiếu có giá tăng và tiếp tục nắm giữ các cổ phiếu đang giảm giá.  
Đây chính là biểu hiện của hiệu ứng ngược vị thế. Hiệu ứng ngược vị thế có thể  
cản trở việc tạo ra những quyết định sáng suốt và có thể dẫn đến thành quả kém cỏi  
do nhà đầu tư quá tập trung vào giá mua cổ phiếu đó. Và một khi cả thị trường bị  
tác động một cách có hệ thống bởi hiệu ứng ngược vị thế thì rất có thể số lượng  
giao dịch và sự sai khác giữa giá trị thị trường với giá trị nội tại có thể xảy ra.  
1.3  
Bằng chứng thực nghiệm về hiệu ứng ngược vị thế.  
1.3.1 Bằng chứng tại Mỹ  
Khoảng 28 năm trước, Shefrin và Statman (1984) phát hiện ra một mẫu hình thú  
vị, mô tả cách thức các nhà đầu tư cá nhân nắm giữ những cổ phiếu trong danh  
mục đầu tư của họ với các khoảng thời gian khác nhau, tùy thuộc vào thành quả  
trước đó của cổ phiếu này.  
Gần đây hơn, Odean (1998) cũng tìm thấy bằng chứng về hiệu ứng ngược vị thế ở  
một mẫu lớn các nhà đầu tư cá nhân từ một công ty môi giới chiết khấu. Ngoài ra,  
Odean tìm thấy những hành vi như vậy có lẽ không xuất phát từ những động cơ  
hợp lý, bởi thực tế là những cổ phiếu có lời trong quá khứ có thành quả tốt hơn so  
với những cổ phiếu lỗ sau ngày bán cổ phiếu của một nhà đầu tư cá nhân. Dữ liệu  
của ông bao gồm các đầu tư trên thị trường chứng khoán của 10,000 tài khoản tại  
một công ty môi giới chiết khấu ở Mỹ từ 1987 đến 1993 (đây là bộ dữ liệu rất lớn  
để nghiên cứu hiệu ứng ngược vị thế, bộ dữ liệu đã giải quyết những khó khăn về  
8
dữ liệu của các nghiên cứu trước đó). Odean phát triển một phương pháp để đo  
lường hiệu ứng ngược vị thế, mà một vài nghiên cứu sau này sử dụng. Trong  
phương pháp này, vào thời điểm một nhà đầu tư bán một cổ phiếu, các nhà nghiên  
cứu sẽ ghi chép số lượng các vị thế cổ phiếu (các công ty khác nhau trong danh  
mục đầu tư) như sau (1) bán có lãi, (2) bán bị lỗ, (3) không bán và thể hiện một  
mức lãi, (4) không bán và thể hiện một mức lỗ. Odean tính toán lãi và lỗ theo giá  
mua ban đầu của các cổ phiếu. Lãi thực hiện (1) và lỗ thực hiện (2) là các giao  
dịch thật sự mà nhà đầu tư thu được lãi hay lỗ thực tế. Các cổ phiếu mà chưa bán  
được gọi là lãi danh nghĩa (3) và lỗ danh nghĩa (4), cũng được xét theo giá mua, và  
bằng việc sử dụng giá đóng cửa của ngày như là giá bán giả định của họ. Tất cả 4  
loại vị thế cổ phiếu là các yếu tố quyết định giá trị tài sản của các nhà đầu tư.  
Tổng lãi thực hiện (1) và lãi danh nghĩa (3) cho thấy tất cả các khoản lãi có thể  
nhận được. Tổng lỗ thực hiện (2) và lỗ danh nghĩa (4) cho thấy tất cả các khoản lỗ  
tương ứng. Hiệu ứng ngược vị thế dự báo rằng các nhà đầu tư hiện thực hóa nhiều  
lãi hơn so với tổng lãi có thể nhận được, và hiện thực hoá lỗ ít hơn so với tổng lỗ  
có thể có. Việc so sánh các khoản lãi và lỗ đã thực hiện với các cơ hội lãi hay lỗ  
tương ứng loại bỏ sự ảnh hưởng của các điều kiện thị trường. Ví dụ, trong thị  
trường chứng khoán bùng nổ, một nhà đầu tư có thể tiềm ẩn nhiều lãi hơn lỗ trong  
danh mục đầu tư, vì vậy việc nhận thấy nhiều lãi đã thực hiện hơn thì không đáng  
ngạc nhiên. Odean (1998) tính toán các con số này cho cả mẫu và cho từng nhà  
đầu tư riêng biệt.  
Ông sử dụng tổng các số để tạo thành tỷ lệ sau:  
.
Lãi thực hiện (Real Gains)/[Lãi thực hiện (Real Gains) + Lãi danh nghĩa  
(Paper Gains)] = Tỷ lệ lãi thực hiện (PGR)  
.
Lỗ thực hiện (Real Losses)/[Lỗ thực hiện (Real Losses) + Lỗ danh nghĩa  
(Paper Losses)] = Tỷ lệ lỗ thực hiện (PLR)  
Trong đó:  
PGR: Tỷ lệ lãi thực hiện (Proportion of Gains Realized)  
.
9
.
PLR: Tỷ lệ lỗ thực hiện (Proportion of Losses Realized)  
PGR và PLR cho thấy các nhà đầu tư sẵn lòng thực hiện các khoản lời và các  
khoản lỗ của mình. Hiệu ứng ngược vị thế được thể hiện khi PGR lớn hơn PLR.  
Odean đã tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ cho hiệu ứng ngược vị thế. Các nhà đầu  
tư trung bình hiện thực hóa các khoản lời (PGR) 14.8%, trong khi chỉ hiện thực  
hóa các khoản lỗ (PLR) trung bình 9.8%. Như vậy, các nhà đầu tư hiện thực hóa  
các khoản lời lớn hơn 50% so với việc hiện thực hóa các khoản lỗ.  
Mặc dù thực tế hiệu ứng ngược vị thế được phát hiện phổ biến ở cấp độ thị trường,  
Dhar và Zhu (2006) thấy có những biến thể đáng kể trong hiệu ứng này ở cấp độ  
nhà đầu tư cá nhân. Họ phân tích các dữ liệu giao dịch của một nhà môi giới chiết  
khấu lớn để khám phá hiệu ứng ngược vị thế và cố gắng giải thích sự khác biệt  
giữa các nhà đầu tư khác nhau. Tác giả sử dụng dữ liệu giao dịch của 50,000 nhà  
đầu tư cá nhân của một công ty môi giới chiết khấu từ năm 1991 đến 1996. Ông  
lưu giữ dữ liệu trong 3 tập tin, một tập tin về giao dịch, một tập tin về vị thế và một  
tập tin mô tả (nhân khẩu học, demographics). Tập tin về giao dịch ghi lại những  
giao dịch mua, bán, giá cả và thời gian của tất cả giao dịch. Tập tin về vị thế bao  
gồm thông tin về danh mục của nhà đầu tư vào thời điểm kết thúc mỗi tháng trong  
suốt thời kỳ nghiên cứu. Tập tin về nhân khẩu học lưu lại tất cả những thuộc tính  
của nhà đầu tư chẳng hạn như tuổi, sự chuyên nghiệp và thu nhập. Dựa vào những  
phát hiện trong kinh tế học thí nghiệm và tâm lý học xã hội, các tác giả đưa ra giả  
thiết rằng những khác biệt trong sự hiểu biết của nhà đầu tư về thị trường tài chính  
và tần số giao dịch là một phần nguyên nhân của hiệu ứng ngược vị thế của các cá  
nhân. Sử dụng các biến nhân khẩu học và kinh tế xã hội làm những đại diện cho sự  
hiểu biết của nhà đầu tư, nghiên cứu tìm thấy bằng chứng thực nghiệm là các cá  
nhân giàu có và các cá nhân làm việc trong các ngành nghề chuyên nghiệp biểu  
hiện hiệu ứng ngược vị thế thấp hơn. Phù hợp với kinh tế học thí nghiệm, tần số  
giao dịch cũng có xu hướng làm giảm hiệu ứng ngược vị thế.  
10  
Một phát hiện khác của Dhar và Zhu (2006) là một vài nhà đầu tư trong mẫu của  
họ không thể hiện hiệu ứng ngược vị thế và thậm chí thể hiện các mẫu hình giao  
dịch ngược lại với hiệu ứng ngược vị thế trong nhiều trường hợp. Những phát hiện  
này thúc đẩy các nghiên cứu trong tương lai để xem xét những nguyên nhân khác  
có thể nằm đằng sau hiệu ứng ngược vị thế.  
Barber và Odean (2001) cho rằng đầu tư như là một nhiệm vụ truyền thống của  
người đàn ông. Do vậy đàn ông thường rơi vào tự tin thái quá, chẳng hạn như giao  
dịch quá nhiều và sẵn lòng nhận mức rủi ro cao hơn. Cũng qua nghiên cứu này,  
phụ nữ tạo ra thành quả đầu tư cổ phiếu tốt hơn nam giới.  
Kaustia (2004) cung cấp một kiểm định khác của hiệu ứng ngược vị thế và dựa vào  
hiệu ứng giá tham chiếu trong bối cảnh thị trường phát hành lần đầu ra công chúng  
(IPO). Bởi giá mức giá chào bán là mức giá mua phổ biến, hiệu ứng ngược vị thế  
có thể được xác định rõ ràng. Kaustia thấy rằng khối lượng giao dịch thấp nếu giá  
thấp hơn giá chào bán và có sự bùng nổ về khối lượng giao dịch nếu giá vượt giá  
chào bán. Hơn nữa, có sự gia tăng đáng kể trong khối lượng giao dịch nếu giá đạt  
tới mức tối đa hoặc tối thiểu mới, điều này cho thấy bằng chứng của hiệu ứng giá  
tham chiếu.  
Weber và Camerer (1998) thực hiện các thí nghiệm được thiết kế đặc biệt để phát  
hiện hiệu ứng ngược vị thế. Theo đó, các đối tượng được mua và bán trong sáu tài  
sản rủi ro. Giá các tài sản giao động trong từng thời kỳ. Kết quả cho thấy, các đối  
tượng có xu hướng bán cổ phiếu lời và giữ cổ phiếu lỗ. Khi cổ phiếu được bán một  
cách tự động sau từng thời kỳ, hiệu ứng ngược vị thế giảm đi đáng kể.  
Bên ngoài phòng thí nghiệm, Heath, Huddart và Lang (1999) xác định hiệu ứng  
ngược vị thế trong thực hiện quyền chọn của các nhân viên tại Mỹ. Sử dụng dữ  
liệu hơn 50,000 nhân viên ở 7 tập đoàn, họ thấy rằng có sự liên hệ chặt chẽ giữa  
việc lựa chọn quyền chọn của các nhân viên với thành quả trong quá khứ của cổ  
phiếu đó. Nhân viên thực hiện các hoạt động này xấp xỉ gấp đôi khi giá vượt quá  
giá tối đa của năm trước đó. Trong một nghiên cứu khác, Genesove và Mayer  
11  
(2001) tìm thấy mẫu hình tương tự giữa các giao dịch hộ gia đình tại chung cư  
Boston. Họ cho thấy, chủ sở hữu nhà chung cư chịu các khoản lỗ danh nghĩa, thiết  
lập mức giá chào bán cao hơn 25-35% chênh lệch giữa giá bán kỳ vọng và giá mua  
ban đầu của họ, đây là những người ít thành công trong việc bán tài sản hơn so với  
những người khác.  
Barberis và Xiong (2009) tìm thấy rằng, tuỳ thuộc vào độ lớn của các khoản lời  
hoặc lỗ và tần suất đánh giá thành quả của nhà đầu tư, đôi khi lý thuyết triển vọng  
dự đoán hành vi ngược lại với hành vi được mô tả bởi hiệu ứng ngược vị thế. Phát  
hiện này mang lại một số quan điểm mới và có khả năng kích thích những nghiên  
cứu xa hơn.  
1.3.2 Bằng chứng ngoài nước Mỹ  
Ngày càng có nhiều nghiên cứu cho thấy hiệu ứng ngược vị thế phổ biến ở các thị  
trường bên ngoài Mỹ. Dưới đây sẽ chỉ cung cấp một vài nghiên cứu trong số đó.  
Trong một nghiên cứu toàn diện về hoạt động giao dịch, sử dụng bộ dữ liệu của  
Phần Lan, Grinblatt và Keloharju (2001) xác nhận hiệu ứng ngược vị thế. Họ cũng  
thấy rằng tồn tại hiệu ứng giá tham chiếu, trong đó các cá nhân có nhiều khả năng  
bán cổ phiếu nếu giá của chúng đạt đến mức cao của tháng trước đó.  
Đối với các tổ chức, họ thường đầu tư vào các cổ phiếu có thành quả hoạt động  
trước đây tốt (Grinblatt, Titman, và Wermers, 1995; Badrinath và Wahal, 2002),  
trong khi những nhà đầu tư cá nhân dường như đi ngược lại trào lưu trên. Nghĩa là,  
họ nhiều khả năng sẽ mua những cổ phiếu có thành quả trong quá khứ dưới mức  
trung bình (Grinblatt và Keloharju, 2000).  
Lãi và lỗ được tính tương tự như Odean (1998). Nghĩa là một khi nhà đầu tư bán  
một loại cổ phiếu, những cổ phiếu khác đang được nắm giữ của nhà đầu tư này  
được ký hiệu là doanh thu danh nghĩa cho ngày hôm đó. Grinblatt và Keloharju  
(2001) chạy hồi quy logarit với biến phụ thuộc nhận giá trị 1 đối với doanh thu  
thực hiện và 0 cho doanh thu danh nghĩa. Các biến độc lập bao gồm các biến kiểm  
soát liên quan đến cổ phần (ví dụ như lợi nhuận trong quá khứ), nhà đầu tư (như  
12  
giá trị danh mục đầu tư), thời gian (các biến giả cho mỗi tháng) và các điều kiện  
thị trường (như tỷ suất sinh lợi thị trường). Hiệu ứng ngược vị thế được đại diện  
bởi một biến giả nhận giá trị 1 đối với các khoản lỗ thực hiện và danh nghĩa và  
nhận giá trị 0 đối với các trường hợp khác. Dữ liệu dựa trên tất cả các nhà đầu tư  
trên thị trường chứng khoán tại Phần Lan. Kết quả cho thấy có hiệu ứng ngược vị  
thế mạnh khi kiểm soát nhiều nhân tố khác trong phân tích.  
Trong một nghiên cứu thực nghiệm khá công phu tại thị trường chứng khoán  
Trung Quốc của Gong-Meng Chen, Kenneth A. Kim, John R. Nofsinger, Oliver  
M. Rui (2004) cho thấy, những nhà đầu tư Trung Quốc hay mắc phải những lỗi  
giao dịch như: những cổ phiếu bị bán ra lại có thành quả tốt hơn so với những cổ  
phiếu họ đã mua vào, họ miễn cưỡng thực hiện thua lỗ, họ thường tự tin thái quá  
khi ít đa dạng hóa danh mục và mức độ giao dịch thường xuyên, đặc biệt họ rất  
thích mua những cổ phiếu có biểu hiện tốt trước ngày họ quyết định mua vào.  
Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy những nhà đầu tư kinh nghiệm không làm  
giảm lỗi nhận thức (cognitive errors), bản thân kinh nghiệm hay sự sành điệu  
không làm giảm xu hướng hành vi, hay cải thiện thành quả giao dịch. Hiệu ứng  
ngược vị thế được nhóm tác giả tính toán với PGR là 0.519 trong khi đó PLR là  
0.310. Như vậy, PGR lớn hơn 0.209 so với PLR cho thấy thị trường chứng khoán  
Trung Quốc có hiệu ứng ngược vị thế mạnh hơn so với thị trường chứng khoán Mỹ  
(vì theo kết quả của Odean ở trên, chênh lệch giữa PGR so với PLR trên thị trường  
Mỹ chỉ là 0.05).  
Brad M. Barber, Yi-Tsung Lee, Yu-Jane Liu, Terrance Odean (2007) tìm thấy  
bằng chứng thực nghiệm hiệu ứng ngược vị thế trên thị trường chứng khoán Đài  
Loan. Theo nghiên cứu này, có đến 84% nhà đầu tư Đài Loan bán cổ phiếu lời sớm  
hơn so với cổ phiếu lỗ, nhà đầu tư cá nhân, doanh nghiệp và những nhà lướt sóng  
không ưa thích hiện thực hóa thua lỗ, trong khi đó các quỹ hỗ tương và nhà đầu tư  
nước ngoài lại có mức độ hiệu ứng ngược vị thế thấp hơn.  
Chen, Gongmeng, Kenneth A. Kim, John R. Nofsinger, and Oliver M. Rui (2007)  
lập luận rằng việc thực hiện hóa lợi nhuận cho phép một người duy trì lòng tự  
13  
trọng, trong khi thực hiện hóa khoản lỗ làm cho người đó thừa nhận một quyết  
định đầu tư sai lầm, và do đó bị né tránh.  
Shapira và Venezia (2001) tìm thấy hiệu ứng ngược vị thế trong mẫu đại diện các  
nhà đầu tư tại thị trường chứng khoán Israel. Tác giả so sánh hiệu ứng ngược vị thế  
ở những nhà đầu tư ra quyết định độc lập và hiệu ứng ngược vị thế ở những nhà  
đầu tư được chăm sóc bởi nhà môi giới chuyên nghiệp, kết quả nghiên cứu cho  
thấy hiệu ứng ngược vị thế ở nhóm ra quyết định độc lập lớn hơn so với nhóm  
được chăm sóc bởi chuyên gia.  
Tóm lại, Hiệu ứng ngược vị thế tỏ ra khá phổ biến trên thị trường chứng khoán.  
Hàng loạt bằng chức thực nghiệm đã được tìm thấy ở Mỹ, Phần Lan, Trung Quốc,  
Đài Loan, Nhật Bản, Israel,… Đây là cơ sở khá vững chắc cho nghiên cứu này trên  
thị trường chứng khoán Việt Nam.  
14  
CHƯƠNG 2: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP  
Trong chương này, tôi sẽ mô tả dữ liệu, cách tổ chức dữ liệu và trình bày phương  
pháp nghiên cứu.  
2.1  
Dữ liệu:  
Thị trường chứng khoán Việt Nam là một thị trường khá non trẻ, số lượng nhà đầu  
tư tham gia thị trường chưa lớn, hầu hết nhà đầu tư là cá nhân, kinh nghiệm nhà  
đầu tư chưa nhiều. Sàn giao dịch chứng khoán tập trung chính thức đi vào hoạt  
động từ năm 2000, tính đến hết năm 2011, giá trị vốn hóa thị trường chỉ đạt 25.6 tỷ  
USD. Theo báo cáo thường niên của Trung Tâm Lưu Ký Việt Nam, tổng số lượng  
tài khoản toàn thị trường cuối năm 2011 là 1,170,000 tài khoản. Theo một báo cáo  
khác của Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước, số lượng tài khoản nhà đầu tư cá nhân  
chiếm đến 99.6% tổng số lượng tài khoản toàn thị trường. Điều này cho thấy nhà  
đầu tư cá nhân là lực lượng chủ yếu tham gia thị trường chứng khoán ở Việt Nam.  
Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu giao dịch của một trăm khách hàng cá nhân tại  
một Công ty chứng khoán. Theo số liệu của Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước ở  
trên, hầu hết nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán là nhà đầu tư cá nhân, do  
vậy, nghiên cứu này phù hợp với phần phổ biến của thị trường chứng khoán Việt  
Nam.  
Theo bảng 2.1, dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu được thu thập từ ngày 01 tháng 06  
năm 2010 đến ngày 30 tháng 06 năm 2012. Dữ liệu gồm 27,500 giao dịch mua  
bán, với tổng giá trị lên đến 2,204 tỷ đồng.  
Theo hình 2.1, thị trường trong giai đoạn nghiên cứu có xu hướng giảm, nhưng  
mức độ biến động không quá lớn. Điều này rất quan trọng, vì theo nghiên cứu của  
Kim và Nofsinger (2004), hành vi nhà đầu tư (đặc biệt là sự tự tin thái quá) khác  
nhau giữa thị trường lên giá mạnh mẽ và thị trường xuống giá mạnh mẽ.  
15  
Bảng 2.1: Mô tả tổng quan dữ liệu nghiên cứu  
Số lượng tài khoản  
100  
Thời kỳ nghiên cứu  
01/06/2010 đến 30/06/2012  
Giá trị giao dịch (Tỷ đồng)  
Giá trị mua (Tỷ đồng)  
Giá trị bán (Tỷ đồng)  
2,203.7  
1,120.4  
1,083.3  
27,591  
Tổng số lượng giao dịch  
Nguồn: Tác giả tính toán từ dữ liệu của một Công ty chứng khoán  
Hình 2.1: VN-Index và HNX-Index trong giai đoạn nghiên cứu  
Nguồn: Dữ liệu từ Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh (HSX) và  
Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX)  
Dữ liệu giao dịch gồm những thông tin sau:  
.
.
.
.
Ngày giao dịch  
Loại giao dịch: mua hoặc bán  
Mã chứng khoán  
Khối lượng giao dịch  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 58 trang yennguyen 24700 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nghiên cứu hiệu ứng ngược vị thế trên thị trường chứng khoán Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nghien_cuu_hieu_ung_nguoc_vi_the_tren_thi_truong_ch.pdf