Luận văn Rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS tại Phòng khám ngoại trú huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
TRƢƠNG THỊ HÒA  
RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở NGƢỜI NHIỄM HIV/AIDS  
TẠI PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ HUYỆN HÓC MÔN,  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC  
HÀ NỘI - 2018  
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
TRƢƠNG THỊ HÒA  
RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở NGƢỜI NHIỄM HIV/AIDS  
TẠI PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ HUYỆN HÓC MÔN,  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Ngành: Tâm lý học  
Mã số: 8310401  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC  
TS. NGUYỄN HỮU LONG  
HÀ NỘI - 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan luận văn “Rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS tại  
phòng khám ngoại trú huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình  
nghiên cứu do tôi thực hiện và chưa được công bố trong bất cứ một công trình  
nghiên cứu nào của người khác.  
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội dung  
khác trong luận văn của mình.  
LỜI CẢM ƠN  
Để thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu này, tôi đã nhận được sự quan  
tâm và giúp đỡ rất lớn của quý Thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình. Tôi xin  
bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình đến:  
Qúy Thầy cô trong khoa Tâm lý học của Học viện khoa học xã hội, các  
giảng viên đã tận tình giảng dạy, chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình học tập tại trường.  
TS. Nguyễn Hữu Long – người trực tiếp hướng dẫn về mặt chuyên môn,  
Thầy là người khiến tôi thẩm thấu và thấm thía ý nghĩa câu nói dân gian: “không  
thầy đố mày làm nên”, tôi xin được cảm ơn Thầy đã luôn nhiệt tình, tận tâm hướng  
dẫn, hỗ trợ tài liệu, định hướng và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đến lúc  
hoàn thành luận văn này.  
Bác sĩ Ngô Hồng Việt Thanh, điều dưỡng Nguyễn Thị Xuân Trang tại phòng  
khám ngoại trú Hóc Môn đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi thực  
hiện đề tài nghiên cứu.  
Các anh chị lớp Cao học khóa VII và khóa VIII đã luôn động viên, chia sẻ,  
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như thực hiện đề tài này.  
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý đồng nghiệp, bạn bè và  
gia đình thân yêu đã luôn ở bên và giúp đỡ tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành  
luận văn này.  
Tác giả luận văn  
MỤC LỤC  
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1  
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở NGƢỜI  
NHIỄM HIV/AIDS..................................................................................................10  
1.1. Những vấn đề lý luận về rối loạn trầm cảm.......................................................10  
1.2. Cơ sở lý luận về rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS.........................22  
1.3. Nghiên cứu RLTC của người nhiễm HIV/AIDS dựa trên thang đo Beck.........29  
1.4. Yếu tố ảnh hưởng đến rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS................34  
1.5. Biện pháp hạn chế các rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS ...............37  
Chƣơng 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU............................40  
2.1. Vài nét về khách thể và địa bàn nghiên cứu ......................................................40  
2.2. Tổ chức nghiên cứu............................................................................................41  
2.3. Các phương pháp nghiên cứu.............................................................................42  
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở NGƢỜI NHIỄM  
HIV/AIDS TẠI PHÕNG KHÁM NGOẠI TRÖ HUYỆN HÓC MÔN,  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ..............................................................................49  
3.1. Kết quả nghiên cứu thực trạng rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS tại  
phòng khám ngoại trú huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh ..............................49  
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.........................................................................68  
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................72  
PHỤ LỤC  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
STT  
Viết tắt  
Viết đầy đủ  
Bảng phân loại quốc tế bệnh tật của World Health  
Organization  
1
ICD 10  
2
3
4
5
6
BN  
DSM IV  
TC  
Bệnh nhân  
Cẩm nang chẩn đoán và thống kê rối loạn tâm thần  
Trầm cảm  
RLTC  
TPHCM  
Rối loạn trầm cảm  
Thành phố Hồ Chí Minh  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
Bảng 2.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu ........................................................................41  
Bảng 3.1. Kết quả mức độ rối loạn trầm cảm theo thang đo Beck ...........................49  
Bảng 3.2. Kết quả lựa chọn phương án trả lời mặt tâm lý theo thang đo Beck........51  
Bảng 3.3. Kết quả lựa chọn phương án trả lời mặt cơ thể theo thang đo Beck ........56  
Bảng 3.4. Yếu tố mối quan hệ trong gia đình ...........................................................58  
Bảng 3.5. Yếu tố dịch vụ hỗ trợ................................................................................59  
Bảng 3.6. Mối quan hệ với môi trường xung quanh.................................................60  
Bảng 3.7. Nhận thức bản thân...................................................................................62  
Bảng 3.8. Thái độ sống của bản thân ........................................................................63  
Bảng 3.9. Biện pháp tác động làm giảm rối loạn trầm cảm......................................64  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Trong thực tế cuộc sống hiện đại, con người phải đối mặt với nhiều nguy cơ  
về rối loạn tâm lý trong đó có trầm cảm. Là nhóm người dễ bị tổn thương nên người  
nhiễm HIV/AIDS càng dễ bị rơi vào rối loạn trầm cảm.  
Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á, dân số hơn 90  
triệu người. Theo số liệu thống kê năm 2011, có khoảng 197.335 người sống chung  
với HIV/AIDS. Con số này tiếp tục tăng lên 263.317 người trong năm 2015 [21].  
Giống như những người sống chung với HIV/AIDS trên thế giới, người nhiễm  
HIV/AIDS tại Việt Nam cũng các gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần, đặc biệt là  
trầm cảm. Do những đặc trưng về căn bệnh này, nguồn lây bệnh, đối tượng mang  
bệnh nên sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người có HIV còn khá nặng nề và kéo  
theo những hỗ trợ về dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người nhiễm  
HIV/AIDS chưa đáp ứng như mong đợi.  
Bao nhiêu thế kỷ qua, nhân loại vẫn đang cố gắng dùng mọi nguồn lực để khắc  
phục hậu quả của HIV/AIDS. Cả thế giới đang chung tay cùng nhau đẩy lùi tác hại của  
HIV/AIDS. Có thể nói HIV/AIDS mang đến hậu quả là bệnh tật, đói nghèo và đau khổ  
cho con người. Ngoài sự tàn phá về sức khỏe thể chất, căn bệnh thế kỷ này còn tàn phá  
sức khỏe tâm trí của con người một cách khủng khiếp.  
Chính điều đó ngày càng làm gia tăng tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS bị trầm  
cảm. Thực tế, họ là đối tượng cần được hỗ trợ, giúp đỡ và chăm sóc đặc biệt về mặt  
sinh học, xã hội và tâm lý. Trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS làm giảm khả năng  
lao động, thu rút xã hội, suy giảm thể chất, là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến  
thất nghiệp đồng thời khiến người ta gặp khó khăn trong việc giải quyết mọi vấn đề,  
xuất hiện nguy cơ gãy đổ về mặt tình cảm như ly hôn, bệnh tật, chết chóc.  
Vì vậy rất cần có những dự án vì cộng đồng, những nghiên cứu về người  
nhiễm HIV/AIDS để tìm hiểu những rối loạn trầm cảm của người nhiễm  
HIV/AIDS. Theo số liệu trong một cuộc khảo sát quốc gia ở Pháp (2016), tỷ lệ trầm  
cảm của người sống chung với HIV/AIDS là 21%, ở Nam Phi con số này lên tới  
42,4% [28]. Tại Việt Nam, cuộc khảo sát cắt ngang trên 1.503 bệnh nhân nhiễm  
HIV được điều trị ARV ở hai phòng khám HIV tại Hà Nội năm 2016, kết quả tỷ lệ  
trầm cảm trên người nhiễm HIV/AIDS là 26,2%, điểm số cao hơn ở hỗ trợ xã hội,  
1
đặc biệt là hỗ trợ tình cảm/thông tin và tương tác xã hội tích cực sẽ cho thấy mối  
liên hệ đáng kể với trầm cảm thấp hơn [22].  
Nhận thấy đây là một đối tượng nghiên cứu đặc biệt, các nghiên cứu về lĩnh  
vực này ở Việt Nam chưa nhiều, một số nghiên cứu như trên chỉ dừng lại ở tỷ lệ  
trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS và bước đầu tiếp cận ở các khoa học khác như :  
Y học, Dịch tễ học, Xã hội học, Nhân chủng học. Trầm cảm nhìn từ góc độ tâm lý  
học sẽ khác so với các khoa học khác. Khi mà trầm cảm trở thành vấn đề sức khỏe  
tâm thần phổ biến nhất trong các vấn đề liên quan tới sức khỏe của người nhiễm  
HIV/AIDS.  
Đối với tôi, trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến năm 2013, tôi có cơ hội  
được tham gia mạng lưới phi chính phủ về truyền thông và chăm sóc điều trị cho người  
nhiễm HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí  
Minh. Tại đây, tôi đã có cơ hội được tiếp cận, được làm việc, được lắng nghe, chia sẻ  
về những vấn đề khó khăn trong cuộc sống của những người nhiễm HIV/AIDS. Quá  
trình công tác khiến tôi nhận ra được tầm quan trọng của việc nâng đỡ, hỗ trợ tâm lý  
mang lại cho người nhiễm HIV/AIDS trong việc xoa dịu đau buồn, lo lắng, sợ hãi và  
trấn an tinh thần cho họ, tạo ra những tác động tích cực đối với quá trình điều trị của  
người nhiễm HIV/AIDS.  
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Rối loạn trầm cảm trên ngƣời nhiễm  
HIV/AIDS ở phòng khám ngoại trú huyện Hóc Môn tại Thành phố Hồ Chí  
Minh” làm luận văn tốt nghiệp. Tôi hy vọng nghiên cứu này có đóng góp nhỏ vào  
việc nhận diện chứng RLTC của bệnh nhân HIV, góp phần làm tăng hiệu quả điều  
trị từ đó cải thiện tình trạng sức khỏe tâm thần nói riêng và sức khỏe của bệnh nhân  
HIV nói chung. Xác định mục đích tìm hiểu thực trạng các rối loạn trầm cảm của  
người nhiễm HIV/AIDS, các yếu tố ảnh hưởng đến rối loạn trầm cảm của người  
nhiểm HIV/AIDS, đưa ra một số biện pháp nhằm hạn chế các rối loạn trầm cảm ở  
người nhiễm HIV/AIDS.  
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài  
2.1. Một số nghiên cứu trên thế giới  
Theo một nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)  
trong năm 2010 có 298 triệu người mắc trầm cảm (chiếm tỷ lệ 4,3% dân số toàn  
cầu). Có sự khác nhau về tỷ lệ người mắc trầm cảm giữa các nước, các khu vực trên  
thế giới: Nhật Bản là 3%, Mỹ chiếm 17%.  
2
Kết quả một nghiên cứu khác ở Mỹ năm 2014, hàng năm có khoảng 17.6  
nghìn người bị trầm cảm, có tới hơn 2/3 người trầm cảm mà không biết mình bị  
trầm cảm. Con số báo động là có tới 48% người trầm cảm có ý tưởng tự sát, trong  
đó 24% những người có ý tưởng tự sát vì không nhận được sự hỗ trợ điều trị bệnh  
trầm cảm.  
Trầm cảm cũng chính là vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến nhất của những  
người sống chung với HIV/AIDS. Khả năng rối loạn trầm cảm ở người nhiễm  
HIV/AIDS được báo cáo là cao gấp 2,3 lần so với dân số chung [22].  
Số liệu về tỷ lệ trầm cảm ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS trên thế giới phong  
phú và đa dạng.  
Một nghiên cứu được thực hiện ở Nam Phi đã cho thấy tỷ lệ trầm cảm ở bệnh  
nhân HIV là 42,4% [23], ở Yaounde Cameroon tỷ lệ này là 63% [24]. Năm 2014  
thực hiện nghiên cứu trên 42.366 người nhiễm HIV/AIDS ở các nước có thu nhập  
trung bình và thấp thu được kết quả là tỷ lệ trầm cảm dao động từ 12,8% đến 78% .  
Tại Iran, khu vực phía tây Iran là 30% , ở miền bắc 45% và nam Iran 56%. Trong  
một cuộc khảo sát quốc gia ở Pháp, có 21% người sống chung với HIV/AIDS bị  
trầm cảm [21]. Vùng cận Sahara châu Phi người sống chung với HIV/AIDS là  
29,5% [27], Nigeria 21,3%, Hàn Quốc 21% [25-26]. Chúng ta nhận thấy có sự khác  
biệt về tỷ lệ người trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS khác nhau. Có thể do sự  
khác biệt trong việc lựa chọn các công cụ để sàng lọc và chẩn đoán rối loạn trầm  
cảm, kích thước mẫu và sự khác biệt về dân số nghiên cứu.  
Mặc dù trên đây cùng một nội dung nghiên cứu, nhưng tiến hành các quốc gia  
khác nhau. Chúng ta nhận thấy tỷ lệ trầm cảm ở những người nhiễm HIV ở Iran bị  
trầm cảm cao hơn so với những người nhiễm HIV/AIDS ở Pháp, lý do có thể là do  
sự kỳ thị xã hội và hỗ trợ xã hội thấp cho bệnh nhân nhiễm HIV [30]. Mặt khác,  
tình hình kinh tế, thu nhập cá nhân, trình độ học vấn thấp có nguy cơ trầm cảm cao  
hơn [21].  
Những người nhiễm HIV/AIDS thường có biểu hiện rối loạn trầm cảm. Dù  
cho tỷ lệ trầm cảm khác nhau nhưng có thể tới 40% (Angelino 2001). Trầm cảm là  
một bệnh nặng với nhiều biến chứng, 15-20% số bệnh nhân với các đợt trầm cảm  
tái phát đã tự tử. Các biến chứng thường gặp khác là thiếu hụt về thể chất, xã hội  
hoặc tư duy con người (Low-Beer 2000).  
3
Kết quả nghiên cứu của Lopes và cộng sự (2012) ghi nhận 63,91% những  
người nam HIV dương tính có một rối loạn tâm lý trong đó có trầm cảm. Tỉ lệ này ở  
người nữ nhiễm HIV lần lượt là 37,45% và 27,94%.  
Có thể thấy trên thế giới, vấn đề trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS đã được  
các nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu và tiếp cận trên nhiều phương diện dựa trên  
các yếu tố liên quan như tình hình kinh tế, thu nhập cá nhân, tình trạng hôn nhân,  
giới tính… các kết quả thu được phong phú và đa dạng nhưng nhìn chung nói lên sự  
quan tâm về sức khỏe tâm thần của các nước trên thế giới đối với cộng đồng là một  
bộ phận dân cư nhiễm HIV/AIDS.  
2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam  
Theo WHO trong năm 2015, ở Việt Nam có khoảng 3.500.000 người bị rối loạn  
trầm cảm, chiếm 4% dân số. Con số này chưa phải là con số cuối cùng và có dấu hiệu  
gia tăng trong thời gian gần đây. Ai trong chúng ta cũng đều có nguy cơ rối loạn trầm  
cảm, rối loạn trầm cảm xảy ra ở nữ giới nhiều hơn so với nam giới, trầm cảm thường  
xảy ra ở những người bị stress, với những người đang phải đối diện với cuộc sống khó  
khăn như: bệnh tật hiểm nghèo phải kể đến ung thư, mất mát người thân, đổ vỡ về tình  
cảm... và nhiễm HIV/AIDS.  
Ở Việt Nam các nghiên cứu về người nhiễm HIV/AIDS còn mới và khá khiêm  
tốn. Một số nghiên cứu của các tác giả trong nước mới chỉ quan tâm đến trầm cảm nói  
chung. Trong số các nghiên cứu phải kể đến các nghiên cứu sau:  
Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Quang về rối loạn tâm thần ở 30 bệnh  
nhân nhiễm HIV tại TP Hồ Chí Minh năm 2003 cho thấy có biểu hiện rối loạn tâm  
thần: trầm cảm chiếm 30%, rối loạn lo âu chiếm 70%, rối loạn trí nhớ chiếm 17%, ý  
tưởng hành vi tự sát chiếm 6,67% [16].  
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2008) nhận thấy tỷ lệ trầm cảm ở lứa tuổi mãn kinh rất  
cao và liên quan nhiều đến yếu tố bệnh tật như nghỉ hưu, sự ra đi của người thân [8].  
Tác giả Lương Bạch Lan (2009) đã có nghiên cứu được tiến hành vào năm  
2009, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trầm cảm ở các bà mẹ sau sinh là  
11,6%[13].  
Một nghiên cứu khác của Hồ Ngọc Quỳnh (2009) liên quan tới trầm cảm của  
nhóm đối tượng là sinh viên. Tác giả đã lấy sinh viên điều dưỡng và y tế công  
cộng tại Thành phố Hồ Chí Minh để nghiên cứu, kết quả cho thấy tỷ lệ mắc trầm  
cảm ở sinh viên y tế công cộng là 17,6 %, trầm cảm ở sinh viên điều dưỡng là  
4
16,5%. Trầm cảm của sinh viên liên quan tới một số yếu tố như sự quan tâm của  
cha mẹ, gắn kết với nhà trường, thành tích học tập, quan hệ xã hội, tự nhận thức  
về bản thân [15].  
Nhận thấy vấn đề sức khỏe tâm thần ở người nhiễm HIV/AIDS chưa được  
quan tâm ở Việt Nam. Nghiên cứu về RLTC được thực hiện và thường được  
thực hiện trên các khách thể như bệnh nhân ở bệnh viện, bệnh nhân ung thư, phụ  
nữ sau sinh, học sinh, sinh viên, cộng đồng dân cư. Có thể kể đến một số nghiên  
cứu như sau:  
Những nghiên cứu về RLTC ở đối tượng học sinh – sinh viên, có thể kể đến nghiên  
cứu thực trạng các rối loạn lo âu, trầm cảm ở học sinh trường tiểu học Hoàng Văn Thụ,  
Thành phố Thái Nguyên của tác giả Đàm Thị Thanh Hoa và Nguyễn Thị Phương Loan  
(2010). Nghiên cứu được tiến hành qua hai bước, thực hiện trên một mẫu 744 học sinh từ  
6 –11 tuổi, sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang. Kết quả nghiên cứu thể  
hiện tổng số trẻ có rối loạn 5,24%, trong đó trầm cảm là 4,7%, rối loạn lo âu 2,28%.  
Trong số trẻ có rối loạn trầm cảm: trầm cảm đơn thuần chỉ chiếm 28,57%, trầm cảm phối  
hợp với các rối loạn khác chiếm 71,43%. Trong số trẻ có rối loạn lo âu: lo âu ám ảnh sợ  
đơn thuần là 5,88%, lo âu kết hợp xấp xỉ 94%. Trong 39 trẻ có rối loạn trầm cảm, lo âu  
thì chỉ có 10 trẻ có rối loạn trầm cảm đơn thuần (25,64%), 1 trẻ có rối loạn lo âu ám ảnh  
sợ (2,56%) còn lại chủ yếu là các rối loạn kết hợp (71,77%) trong đó trầm cảm kết hợp  
với lo âu chiếm tỷ lệ cao nhất (25,64%) [10].  
Theo Trần Văn Cường (2011), điều tra dịch tễ 10 bệnh nhân tâm thần tại 8 địa  
điểm của các vùng sinh thái khác nhau, cho kết quả về tỷ lệ mắc các bệnh tâm thần  
là 12,5%, trong đó RLTC 2,47%, rối loạn lo âu 2,27% dân số. Tỷ lệ bệnh nhân  
khám tại các cơ sở y tế nhà nước là 31,9%, tại các cơ sở y tế tư nhân là 21,9% và số  
bệnh nhân chưa bao giờ đi khám là 68,5%. Thái dộ của gia đình, cộng đồng đối với  
người bệnh còn xa lánh, hắt hủi chiếm 68,5% [4].  
Nghiên cứu của Cao Tiến Đức, Phạm Quỳnh Giang, Nguyễn Tất Định (2012)  
về đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm và lo âu ở bệnh nhân ung thư dạ dày  
(UTDD), nghiên cứu ở 60 bệnh nhân UTDD điều trị nội trú ở bệnh viện 103 từ  
tháng 1/2010 đến tháng 6/2012. Kết quả nghiên cứu cho thấy rối loạn trầm cảm  
chiếm 65%, mệt mỏi chiếm 65%, cảm giác buồn chán chiếm 60%, khí sắc trầm  
chiếm 55%, giảm hoạt động chiếm 45% và rối loạn lo âu chiếm 81,67%. Các bệnh  
nhân có các biểu hiện như lo sợ chiếm 81,67%, buồn chán đứng ngồi không yên  
5
chiếm 65%, đau căng đầu chiếm 51%, hồi hộp đánh trống ngực chiếm 48%. Rối  
loạn trầm cảm kết hợp với rối loạn lo âu chiếm 46,67%. Nghiên cứu dẫn đến kết  
luận là trầm cảm, lo âu ở bệnh nhân ung thư dạ dày có tỷ lệ cao [7].  
Nghiên cứu của Chu Ngọc Sơn (2015) về việc tìm hiểu rối loạn tâm lý ở bệnh  
nhân bị bệnh động mạch chi dưới mạn tính, điều trị nội trú tại viện tim mạch - Bệnh  
viện Bạch Mai được tiến hành ở 50 bệnh nhân từ tháng 04/2015 đến tháng 10/2015.  
Kết quả nghiên cứu thu được: bệnh nhân có biểu hiện rối loạn tâm lý là 21 người,  
chiếm 42% . Tỷ lệ bệnh nhân có biểu hiện trầm cảm là 58%, trong đó bệnh nhân  
biểu hiện trầm cảm nhẹ là 36%; bệnh nhân biểu hiện trầm cảm vừa là 22%;  
không có bệnh nhân biểu hiện trầm cảm nặng. Tỷ lệ bệnh nhân có biểu hiện lo âu  
là 22%. Có 6 bệnh nhân có cả dấu hiệu trầm cảm và lo âu, chiếm 12% tổng số  
bệnh nhân [17].  
Nghiên cứu trên đối tượng công nhân, tác giả Lê Minh Công (2016) quan tâm  
đến tỷ lệ và các biểu hiện lâm sàng của một số rối loạn tâm thần của công nhân tại  
khu công nghiệp Biên Hòa 2 và tiến hành trên 840 công nhân, kết quả nghiên  
cứu cho thấy tỷ lệ một số rối loạn tâm thần (trầm cảm, lo âu, suy nhược, rối loạn  
giấc ngủ) ở công nhân tại khu công nghiệp Biên Hòa 2 là 14,2%. Trong đó, trầm  
cảm: 7,26% (TC mức độ nhẹ là 6,17%, TC mức độ vừa là 0,71%, TC mức độ  
nặng là 0,35%); rối loạn lo âu là 3,57%, suy nhược là 11,5% và rối loạn giấc ngủ  
là 9,5% [3].  
Đáng chú ý là khảo sát cắt ngang trên 1.503 bệnh nhân nhiễm HIV được  
điều trị ARV tại hai phòng khám HIV tại Hà Nội năm 2016. Kết quả ghi nhận  
26,2% người nhiễm HIV/AIDS có rối loạn trầm cảm [19].  
Nhận thấy, trầm cảm là vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến nhất đối với sức  
khỏe tâm thần của những người sống chung với HIV/AIDS. Nghiên cứu này, chúng  
tôi nhằm tìm hiểu thực trạng rối loạn trầm cảm và các yếu tố liên quan ảnh hưởng  
đến rối loạn trầm cảm ở những bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS. Như vậy, mặc dù trên  
thực tế, tình hình nghiên cứu về rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS còn  
chưa nhiều, các tác giả trong nước hầu như mới chỉ quan tâm dừng lại ở trầm cảm ở  
các đối tượng là phụ nữ sau sinh, học sinh, sinh viên, bệnh nhân ở các bệnh viện…  
tác giả luận văn nhận thấy HIV/AIDS là lĩnh vực nghiên cứu đặc biệt vì người nhiễm  
HIV/AIDS là nhóm người dễ bị tổn thương về mặt tinh thần. Thực hiện đề tài nghiên  
cứu như một sự bắt đầu quan tâm tới sức khỏe tâm thần của con người, đặc biệt là với  
6
những người HIV/AIDS. Nhằm cung cấp sự chăm sóc toàn diện cho người nhiễm  
HIV/AIDS, đề tài nghiên cứu rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS sẽ giúp  
chúng ta có những định hướng can thiệp và hỗ trợ đúng đắn.  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
3.1. Mục đích nghiên cứu  
Nghiên cứu thực trạng rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS tại phòng  
khám ngoại trú huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất một số khuyến  
nghị giúp người nhiễm HIV/AIDS giảm thiểu rối loạn trầm cảm.  
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu  
- Xác định cơ sở lí luận rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS;  
- Khảo sát, phân tích thực trạng rối loạn trầm cảm, các yếu tố ảnh hưởng tới  
thực trạng này ở người nhiễm HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú huyện Hóc  
Môn, thành phố Hồ Chí Minh  
- Đề xuất một số khuyến nghị giúp người nhiễm HIV/AIDS giảm thiểu rối  
loạn trầm cảm.  
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
4.1. Đối tượng nghiên cứu  
Biểu hiện và mức độ rối loạn trầm cảm trên người nhiễm HIV/AIDS.  
4.2. Phạm vi nghiên cứu  
Nghiên cứu này được tiến hành trên 117 người đã được giám định y tế là bị  
nhiễm HIV/AIDS đang trị liệu HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú huyện Hóc  
Môn, thành phố Hồ Chí Minh.  
Bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS thăm khám tại phòng khám ngoại trú huyện Hóc  
Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (trong giai đoạn nghiên cứu từ tháng 4 năm 2018  
đến tháng 07 năm 2018). Do khách thể nghiên cứu là những người nhiễm  
HIV/AIDS nên việc lựa chọn mẫu nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp  
chọn mẫu thuận tiện và đảm bảo nguyên tắc tự nguyện cũng như sự đồng ý của  
cơ sở quản lý người nhiễm HIV/AIDS. Khách thể nghiên cứu trong độ tuổi từ 16  
– 45 có hoàn cảnh kinh tế khác nhau, môi trường sống khác nhau, trình độ học  
vấn khác nhau.  
Luận văn tiếp cận nghiên cứu rối loạn trầm cảm theo quan điểm của DSM IV  
qua thang đo trầm cảm Beck.  
7
4.3. Giả thuyết nghiên cứu  
Rối loạn trầm cảm trên người nhiễm HIV/AIDS được biểu hiện ở các mặt khác  
nhau như: tâm lý và cơ thể. Trong đó, biểu hiện ở mặt tâm lý là rõ nét nhất.  
Rối loạn trầm cảm trên người nhiếm HIV/AIDS chịu ảnh hưởng của cả yếu tố  
chủ quan và các yếu tố khách quan. Tuy nhiên yếu tố chủ quan có ảnh hưởng nhiều  
hơn yếu tố khách quan.  
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu  
5.1. Cơ sở lý luận  
- Quan điểm hệ thống cấu trúc  
Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc để xây dựng cơ sở lý luận như: Định  
nghĩa trầm cảm, khái niệm trầm cảm, khái niệm HIV/AIDS, tiêu chuẩn chẩn đoán  
trầm cảm.  
Đề tài dựa trên cấu trúc đã được xác lập để tiến hành xây dựng bảng hỏi, thiết kế  
mẫu phỏng vấn, test tâm lý, và bình luận thực trạng.  
- Quan điểm logic lịch sử  
Nghiên cứu vận dụng quan điểm logic – lịch sử để xem xét và trình bày lịch sử  
nghiên cứu về vấn đề rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS theo tiến trình  
thời gian, phân tích, đánh giá, rút ra ưu điểm, hạn chế và đóng góp của các công  
trình trên.  
- Quan điểm thực tiễn  
Việc thu thập số liệu thực tiễn, xử lý và phân tích để chứng minh cho lý luận về rối  
loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS. Từ đó kiến nghị một số biện pháp nâng đỡ,  
hỗ trợ tâm lý xã hội giúp nguời nhiễm HIV/AIDS giảm thiểu rối loạn trầm cảm.  
Từ đó, người nghiên cứu xác định mục đích, nhiệm vụ, phương pháp, đối tượng,  
khách thể và giả thuyết nghiên cứu cho đề tài: Rối loạn trầm cảm trên người nhiễm  
HIV/AIDS ở phòng phòng khám ngoại trú huyện Hóc Môn tại thành phố Hồ Chí  
Minh”.  
5.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể  
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.  
- Phương pháp trắc nghiệm.  
- Phương pháp quan sát.  
- Phương pháp phỏng vấn sâu.  
- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học.  
8
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn  
6.1. Ý nghĩa lý luận  
Luận văn xây dựng được khái niệm rối loạn trầm cảm ở bệnh nhân bệnh  
nhiễm HIV/AIDS, chỉ ra được các mặt biểu hiện tâm lý, cơ thể và các yếu tố ảnh  
hưởng đến rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS.  
Trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS biểu hiện ở các mặt tâm lý và cơ thể theo  
bốn mức độ từ không trầm cảm, trầm cảm nhẹ, trầm cảm vừa, trầm cảm nặng.  
Việc tìm hiểu biểu hiện và mức độ rối loạn trầm cảm ở người nhiễm  
HIV/AIDS trên cơ sở thang đo của Beck gồm 21 đề mục đã được chuẩn hóa ở Việt  
Nam đã giúp khẳng định độ tin cậy và độ hiệu lực của thang đo.  
Những kết quả này góp phần làm sáng tỏ hơn lí luận về rối loạn trầm cảm ở  
người nhiễm HIV/AIDS vào Tâm lý học lâm sàng.  
6.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Luận văn đã chỉ ra được thực trạng rối loạn trầm cảm ở người nhiễm  
HIV/AIDS qua hai mặt tâm lý và cơ thể. Đồng thời khảo sát mức độ rối loạn trầm  
cảm ở người nhiễm HIV/AIDS. Bên cạnh đó luận văn cũng chỉ ra được các yếu tố  
chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến rối loạn trầm cảm. Trên cơ sở đó đề xuất  
được một số biện pháp tham vấn, trị liệu tâm lý làm giảm rối loạn trầm cảm ở người  
nhiễm HIV/AIDS.  
Kết quả nghiên cứu này có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo bổ ích cho nhà  
tâm lý học lâm sàng, cho người nhiễm HIV/AIDS và cho cơ sở điều trị HIV/AIDS  
tại phòng khám ngoại trú huyện Hóc Môn, TPHCM.  
7. Kết cấu của luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn  
gồm 3 chương  
Chương 1: Cơ sở lí luận về rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS  
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu  
Chương 3: Thực trạng rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS tại phòng  
khám ngoại trú huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh  
9
Chƣơng 1  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỐI LOẠN TRẦM CẢM Ở  
NGƢỜI NHIỄM HIV/AIDS  
1.1. Những vấn đề lý luận về rối loạn trầm cảm  
1.1.1. Khái niệm rối loạn trầm cảm  
Có rất nhiều khái niệm về rối loạn trầm cảm của các tác giả trong và ngoài  
nước, nhưng trong luận văn này, tác giả sử dụng những khái niệm về rối loạn trầm  
cảm như sau:  
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Rối loạn trầm cảm là một rối loạn tâm thần  
phổ biến, đặc trưng bởi sự buồn rầu, mất sự thích thú hoặc khoái cảm, cảm giác tội lỗi  
hoặc giá trị bản thân thấp, rối loạn giấc ngủ hoặc ăn uống và kém tập trung”.  
“Trầm cảm có thể kéo dài hoặc tái phát, làm suy giảm đáng kể khả năng làm  
việc, học tập hoặc đương đầu với cuộc sống hằng ngày của một cá nhân. Ở dạng  
nặng nhất, trầm cảm có thể dẫn đến tự tử. Nếu nhẹ, người bị trầm cảm có thể được  
chữa trị không cần dùng thuốc. Mức độ vừa và nặng, người bệnh cần được hỗ trợ  
điều trị bằng thuốc kết hợp với biện pháp tâm lý.”[15].  
Theo bảng phân loại tâm thần lần thứ 4 của hiệp hội tâm thần học Mỹ (DSM –  
IV, 1984): “Trầm cảm là trạng thái rối lopanj cảm xúc, biểu hiện bằng giảm khí sắc,  
mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng sự mệt mopirvaf giảm  
hoạt động, phổ biến là tăng sự mệt mỏi sau một số cố gắng nhỏ, tồn tại trong một  
khoảng thời gian kéo dài, ít nhất là hai tuần”[3].  
.Lý thuyết nhận thức của Aaron T. Beck về cơ bản nói rằng có những cá nhân  
dễ bị trầm cảm có niềm tin tiêu cực. Họ có thể có cái nhìn tiêu cực về bản thân họ,  
thấy mình vô giá trị, không thể tha thứ, họ có cái nhìn tiêu cực về môi trường của  
họ, nhìn thấy nó như là áp đảo, đầy chướng ngại vật và thất bại. Họ có một cái nhìn  
tiêu cực về tương lai của họ, nhìn thấy nó như là vô vọng và tin rằng không có nỗ  
lực nào sẽ sẽ thây đổi cuộc sống của họ. Ba yếu tố này được gọi là bộ ba nhân thức.  
Cách tư duy tiêu cực hướng dẫn nhận thức [1].  
Trong từ điển Tâm lý học của J.P. Chaplin PhD., trầm cảm được phân thành  
hai loại: một được xem như hiện tượng tâm lý có thể xuất hiện ở bất kỳ cá nhân  
bình thường nào, đặc trưng bởi tình trạng buồn bã, ít hy vọng, cảm xúc nghèo nàn,  
lười hoạt động và sự chán nản về tương lai; một được xét theo góc độ tâm bệnh học,  
10  
trầm cảm là tình trạng nghiêm trọng của việc không phản ứng với những kích thích  
bên ngoài cùng với việc tự hạ thấp giá trị của bản thân, hoang tưởng về sự không  
thỏa đáng và sự vô vọng [20, tr.122].  
Andrew M. Colman định nghĩa rõ hơn: “trầm cảm là một trạng thái buồn bã,  
vô vọng và những ý nghĩ bi quan cùng với sự mất hứng thú hoạc mất sự thõa mãn,  
hài lòng trong những hoạt động trước đây”. Ông nhấn mạnh thêm trong trường hợp  
trầm cảm nghiêm trọng, nghĩa là vượt sang mức bệnh lý, có thể xảy ra “chứng biếng  
ăn và hậu quả là sụt cân, mất ngủ (đặc biệt là chứng mất ngủ vào khoảng giữa hoặc  
cuối của giấc ngủ) hoặc chứng ngủ nhiều, suy nhược, cảm giác vô giá trị hoặc tội  
lỗi, mất khả năng suy nghĩ hoặc tập trung, những ý nghĩ tái diễn về cái chết hoặc tự  
tử. Nó xuất hiện như nhiều triệu chứng của rối loạn tâm thần”.[2, tr 196].  
Theo hiệp hội Tâm thần Mỹ, trầm cảm được xem là một dạng rối loạn khí  
sắc. Tùy thuộc vào sự xuất hiện hay không của các cơn hưng cảm mà người ta  
phân ra làm hai loại: Rối loạn trầm cảm (hay trầm cảm đơn cực) và rối loạn  
lưỡng cực [9, tr.161].  
Nguyễn Khắc Viện đã dùng từ trầm nhược thay cho trầm cảm và xem nó  
không chỉ là một trạng thái tâm lý mà còn bao gồm cả khía cạnh thể chất: “ Trầm là  
chìm xuống, mất hào hứng, sôi nổi; tính khí buồn bã, chán chường, bi quan,” còn  
“nhược là suy yếu, uể oải, không muốn cử động, tay chân mệt mỏi, mặc dù không  
có bệnh gì rõ rệt”. [19, tr.1].  
Cũng trong từ điển Tâm lý học, Nguyễn Khắc Viện còn đưa ra những triệu  
chứng lâm sàng của trầm cảm: “trầm cảm là tâm trạng buồn lo, kết hợp với ức chế  
vận động và tâm trí. Dễ có cảm tưởng tội lỗi, bản thân suy sụp, không chữa được,  
có khi dẫn đến tự sát. Trong chứng loạn tâm hưng trầm hay xuất hiện những cơn  
tầm cảm muộn: mặt mũi đờ đẫn, vai rụt xuống, nét mặt đau khổ, ít nói, nói rằng  
mình không còn cảm giác gì nữa, thờ ơ, đau khổ vì thấy cuộc sống bản thân không  
còn ý nghĩa, thấy mình vô tích sự, bất lực, không còn khả năng nghĩ về ngày mai. Ý  
nghĩ quanh quẩn với những dề tài đau ốm, tội lỗi, tai ương, suy sụp, có cảm tưởng  
bị truy bức. Hoạt động tâm trí bị ức chế nghiêm trọng”. [19, tr.294].  
Với các khái niệm trên, trầm cảm được xem xét biểu hiện ở các mặt: cảm xúc,  
nhận thức, cơ thể và hành vi.  
11  
Tuy nhiên Nguyễn Khắc Viện đề cập đến khái niệm trầm cảm với một loạt  
các triệu chứng về tâm lý và cơ thể trong cơn hưng trầm cảm.  
Trên phương diện Tâm lý học, tác giả Vũ Dũng cho rằng trầm cảm là “trạng  
thái cảm xúc xuất hiện trên cơ sở cảm xúc âm tính, thay đổi động cơ, trí tuệ (gắn  
với nhận thức) và sự thụ động nói chung của hành vi”. Trong đó có một số biểu  
hiện về cảm xúc, nhận thức và hành vi như: cảm xúc nặng nề, đau khổ và u uất,  
hứng thú, say mê, nỗ lực ý chí giảm, xuất hiện cảm giác tội lỗi, bất lực, vô vọng; tự  
đánh giá giảm sút; chậm chạp, mệt mỏi [5, tr.360].  
Như vậy, khái niệm về trầm cảm đã được xem xét là một trạng thái tâm lý về  
mặt cảm xúc có ảnh hưởng đến hành vi, nhận thức. Trầm cảm trong cấu trúc ba khía  
cạnh tâm lý con người: nhận thức – hành động – tình cảm. Qua những khái niệm về  
trầm cảm nêu ở trên, cho thấy dù rối loạn trầm cảm dược dùng dưới nhiều tên gọi  
khác nhau như trầm nhược, trầm uất nhưng đều có chung ý nghĩa nội hàm và được  
tiếp cận dưới 2 góc độ: góc độ Tâm lý học và góc độ tâm bệnh học.  
Dưới góc độ tâm lý học, có thể xem trầm cảm là một trạng thái tiêu cực, âm  
tính kéo dài và ảnh hưởng nặng nề đến hầu hết các mặt trong đời sống tâm lý của  
con người, tình cảm, nhận thức và hành động ý chí.  
Dưới góc độ tâm bệnh học, trầm cảm được gọi là bệnh tâm lý ảnh hưởng đến  
cuộc sống sinh hoạt cá nhân, quan hệ xã hội và công việc của chủ thể. Khi đó, trầm  
cảm phải được quan sát thấy biểu hiện ở cả tâm lý và mặt cơ thể.  
Khái niệm trầm cảm của tác giả Lê Minh Thuận (2016), Nghiên cứu trầm cảm ở  
sinh viên đại học”, Luận án Tiến sĩ Tâm lý học, Học viện Khoa học xã hội: “Trầm cảm  
là trạng thái suy giảm tâm lý kéo dài, gây ra những hậu quả tiêu cực cho hoạt động và  
được biểu hiện ở các mặt nhận thức, cảm xúc, và hành vi của cá nhân” [18].  
Như vậy, qua những phân tích ở trên đây, người nghiên cứu sử dụng khái  
niệm RLTC theo quan niệm của DSM - IV như sau: “RLTC là trạng thái rối loạn  
cảm xúc, biểu hiện bằng giảm khí sắc, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng  
lượng dẫn đến tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, phổ biến là tăng sự mệt mỏi sau  
một số cố gắng nhỏ, tồn tại trong một khoảng thời gian kéo dài, ít nhất là hai tuần”.  
Đây là khái niệm mà luận văn sử dụng làm khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài:  
“Rối loạn tầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú huyện Hóc  
Môn, Thành Phố Hồ Chí Minh”.  
12  
1.1.2. Cách phân loại rối loạn trầm cảm theo DSM IV và ICD – 10  
Có thể phân loại rối loạn trầm cảm theo nhiều cách khác nhau, trong đó phải kể  
đến các cách phân loại rối loạn trầm cảm nguồn gốc uy tín từ Mỹ như DSM III, DSM  
IV, DSM V, ICD10, ICD11… Mặc dù hiện tại, ICD - 11 đã ra đời, tuy nhiên Bộ Y tế  
chưa đưa vào ứng dụng rộng rãi, nguồn ICD - 11 chưa được dịch và chuẩn hóa để đưa  
vào thực hành lâm sàng tại Việt Nam. Nên trong luận văn này, tác giả sử dụng ICD-10  
để phân loại rối loạn trầm cảm vì ICD - 10 được chấp nhận rộng rãi nhất hầu hết ở các  
quốc gia. Tại Việt Nam ICD - 10 có tính pháp lý cao, được Bộ Y tế dịch và ban hành  
dùng để phân loại bệnh tật trong khám lâm sàng và về cơ bản cách phân loại rối loạn  
trầm cảm theo ICD -10 không có khác biệt so với DSM IV.  
Tiêu chuẩn DSM IV dùng chẩn đoán trầm cảm:  
Trong vòng hai tuần, hầu như mỗi ngày: tính khí sầu muộn và/hoặc từ chối những  
nguồn vui vốn có cộng với ít nhất 4 trong số các triệu chứng sau:  
Giảm hoặc lên cân, giảm hoặc tăng cảm giác ngon miệng.  
Mất ngủ hoặc ngủ triền miên.  
Kích động hoặc trở nên chậm chạp.  
Mệt mỏi hoặc mất sức.  
Cảm giác vô dụng, vô giá trị hoặc mặc cảm tội lỗi.  
Giảm khả năng tập trung, do dự.  
Hay nghĩ đến cái chết, có ý tưởng hoặc hành vi tự sát.  
Không còn ham muốn các lĩnh vực trong cuộc sống như âphim ảnh, các hoạt  
động thế thao các hoạt động xã hội rơi vào trạng thái buồn không lý do,chán nản  
không muốn phấn đấu, làm việc. Người trầm cảm luôn có cảm giác bị bỏ rơi, bị mọi  
người xa lánh.  
Theo ICD 10 – Bảng phân loại quốc tế bệnh tật của World Health  
Organization phân loại rối loạn trầm cảm [22] như sau:  
- F32. Các giai đoạn trầm cảm điển hình nhẹ, trung bình hoặc nặng. Bệnh nhân  
bị giảm khí sắc, giảm năng lượng và giảm hoạt động. Khả năng thích thú, quan  
tâm, tập trung đều giảm sút và thường mệt mỏi rõ rệt sau khi cố gắng dù là rất ít.  
Thường có rối loạn giấc ngủ và ăn kém ngon miệng. Tính tự tọng và sự tự tin hầu  
như luôn luôn giảm sút và ngay cả trong thể nhẹ thường có một vài ý tưởng tội lỗi  
hoặc không xứng đáng. Khí sắc giảm, thay đổi ít từ ngày này sang ngày khác,  
13  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 97 trang yennguyen 19160 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS tại Phòng khám ngoại trú huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_roi_loan_tram_cam_o_nguoi_nhiem_hivaids_tai_phong_k.pdf