Luận văn Áp dụng các chuẩn mực của Hiệp ước Basel trong đảm bảo an toàn vốn của các Ngân hàng thương mại Việt Nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRỪỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
  
NGUYỄN THỊ ÁI VÂN  
ÁP DỤNG CÁC CHUẨN MỰC CỦA  
HIỆP ƯỚC BASEL TRONG ĐẢM BẢO  
AN TOÀN VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG  
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRỪỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
  
NGUYỄN THỊ ÁI VÂN  
ÁP DỤNG CÁC CHUẨN MỰC CỦA  
HIỆP ƯỚC BASEL TRONG ĐẢM BẢO  
AN TOÀN VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG  
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM  
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng  
Mã số  
: 60340201  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS.TS. PHẠM VĂN NĂNG  
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan nội dung và số liệu phân tích trong Luận văn này là kết quả  
nghiên cứu độc lập của tôi. Tất cả các thông tin, số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc đáng  
tin cậy.  
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình.  
Người thực hiện luận văn  
(Ký tên)  
Nguyễn Thị Ái Vân  
MỤC LỤC  
Trang  
2.2.3.1 Hệ số giới hạn huy động vốn (H1) ................................................................... 44  
2.2.3.2 Hệ số giữa vốn tự có so với tổng tài sản Có (H2) ............................................ 45  
 
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
CIDA  
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
Tổ chức Hợp tác và phát triển Quốc tế Canada  
Liên minh Châu Âu  
EU  
FED  
Cục dự trữ Liên bang Mỹ  
Ngân hàng  
NH  
NHNN  
NHNNg  
NHTM  
NHTM CP  
NHTM VN  
NHTM NN  
NHTW  
OECD  
TCTD  
Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam  
Ngân hàng nước ngoài  
Ngân hàng Thương mại  
Ngân hàng Thương mại cổ phần  
Ngân hàng Thương mại Việt Nam  
Ngân hàng Thương mại Nhà nước  
Ngân hàng Trung Ương  
Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế  
Tổ chức tín dụng  
VTC  
Vốn tự có  
XHTD  
Xếp hạng tín dụng  
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU  
Bảng 1.1 : So sánh sự khác biệt về tỷ lệ an toàn vốn giữa Basel II và Basel III  
Bảng 1.2 : Lộ trình cụ thể của việc áp dụng Hiệp ước Basel III  
Bảng 1.3 : Tổng quan việc thực hiện Basel II (kết quả khảo sát năm 2010)  
Bảng 2.1 : Số lượng ngân hàng trong hệ thống NHTM VN qua các năm  
Bảng 2.2 : Quy mô vốn điều lệ của một số NHTM VN và các quốc gia trong khu vực  
Bảng 2.3 : Vốn điều lệ tại các NHTM VN tính đến 31/12/2012  
Bảng 2.4 : Vốn tự có và hệ số CAR của hệ thống NHTM VN đến 31/05/2005  
Bảng 2.5 : Hệ số CAR của một số NHTM VN (2005-2009)  
Bảng 2.6 : Hệ số CAR của một số NHTM VN trong năm 2010  
Bảng 2.7 : Hệ số CAR của hệ thống NHTM VN và một số quốc gia, khu vực trên thế giới  
Bảng 2.8 : Hệ số giới hạn huy động vốn tại một số NHTM VN  
Bảng 2.9 : Tình hình hệ số H2 tại một số NHTM  
Bảng 2.10: Hệ số Dư Nợ/Nguồn vốn huy động và Dư Nợ/Tổng tài sản Có tại một số  
NHTM VN  
Bảng 2.11: Hệ số CAR của BIDV qua các năm (2006-2009)  
Bảng 3.1 : Lộ trình dự kiến áp dụng các chuẩn mực của Basel II và Basel III tại Việt Nam  
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ  
Hình 2.1 : Tỷ trọng vốn điều lệ của các khối ngân hàng  
Hình 2.2 : Hoạt động huy động vốn tại các NHTM VN (2012)  
Hình 2.3 : Tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống và của một số NHTM VN (2012)  
Hình 2.4 : Tình hình nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng qua các năm (2005-2012)  
Hình 2.5 : Tỷ lệ nợ xấu tại một số NHTM VN (2012)  
Hình 2.6 : Quy mô vốn điều lệ các khối ngân hàng qua các năm (2011-2012)  
Hình 2.7 : Hệ số CAR của một số NHTM VN vào cuối năm 2012  
Hình 2.8 : Tốc độ tăng vốn tự có và hệ số CAR của một số NHTM VN (2012/2011)  
1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu  
Toàn cầu hóa vừa tạo ra những cơ hội lớn, vừa ẩn chứa những nguy cơ, thách thức  
đối với nền kinh tế. Việc hội nhập quốc tế nói chung và hội nhập trong lĩnh vực tài chính –  
ngân hàng nói riêng là một trong những giải pháp quan trọng được các nước trên thế giới  
lựa chọn nhằm phát triển nền kinh tế ổn định và bền vững.  
Với tầm nhìn chiến lược cho khu vực NH Việt Nam đến năm 2020 là xây dựng một  
hệ thống NH vững mạnh, năng động và có cơ sở hạ tầng tài chính đủ năng lực đáp ứng các  
nhu cầu về tài chính và dịch vụ NH ngày càng phát triển của nền kinh tế, hội nhập sâu hơn  
với khu vực và quốc tế, hệ thống NH Việt Nam có những cải cách đáng kể theo hướng thị  
trường mở và mở cửa khu vực tài chính - ngân hàng. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng đặt ra  
những thách thức không nhỏ cho hệ thống NH cần thực hiện đầy đủ và có những giải pháp  
thích hợp để hệ thống NH Việt Nam tiếp tục hội nhập và phát triển.  
Các nhà quản trị trên thế giới rất quan tâm đến Hiệp ước quốc tế về an toàn vốn tối  
thiểu, hay còn gọi là Hiệp ước Basel. Hệ thống đo lường vốn đầu tiên được ban hành năm  
1988 (Basel I), và đến nay không chỉ các nước OECD mà cả những nước ngoài OECD  
cũng đặc biệt quan tâm và áp dụng. Ở Việt Nam chưa có lộ trình áp dụng Basel, mà cụ thể  
là Basel II và Basel III bởi hạ tầng tài chính và năng lực hệ thống NHTM chưa đủ điều  
kiện để áp dụng. Hơn bao giờ hết công tác đảm bảo an toàn hoạt động nói chung và đảm  
bảo an toàn vốn nói riêng đặc biệt được quan tâm trong trong giai đoạn hiện nay khi các  
NHTM VN đang trong quá trình tái cơ cấu theo Đề án 254 của Chính phủ nhằm sắp xếp  
lại các TCTD, kiên quyết xử lý các TCTD yếu kém và hướng các NHTM hoạt động theo  
hướng an toàn, vững chắc và hiệu quả. Để tiếp cận với Basel đòi hỏi kỹ thuật phức tạp,  
trong khi hệ thống NHTM VN đang trong giai đoạn phát triển để vươn mình ra thế giới.  
Việc áp dụng Basel chỉ còn là vấn đề thời gian. Do đó, cần phải nghiên cứu thật sâu, nắm  
rõ quy định, chuẩn mực của Basel, cũng như đánh giá thực trạng hệ thống NHTM VN, các  
khó khăn và thách thức, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao áp dụng các chuẩn mực của  
Hiệp ước Basel trong đảm bảo an toàn vốn của hệ thống NHTM VN. Vì vậy, tác giả chọn  
đề tài: “Áp dụng các chuẩn mực của Hiệp ước Basel trong đảm bảo an toàn vốn của các  
Ngân hàng thương mại Việt Nam” để nghiên cứu.  
 
2
2. Mục tiêu nghiên cứu  
Đề tài chủ yếu tập trung tìm hiểu các quy định, chuẩn mực của Basel. Đồng thời  
phân tích và đánh giá tình hình hoạt động của hệ thống NHTM VN trong thời gian qua,  
những vấn đề cần lưu ý trong công tác đảm bảo an toàn vốn, thực trạng thanh tra, giám sát  
NH …và các thách thức mà các NHTM đang đối mặt khi áp dụng Basel. Từ đó đề xuất các  
giải pháp cho việc áp dụng các chuẩn mực của Basel trong đảm bảo an toàn vốn tại các  
NHTM VN với mong muốn hệ thống NHTM VN ngày càng hội nhập sâu vào hệ thống  
NH trong khu vực và thế giới trên nền tảng an toàn, vững chắc và hiệu quả.  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định, chuẩn mực đánh giá an toàn vốn của  
Basel. Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của mình, đề tài chỉ giới hạn việc nghiên cứu  
các chuẩn mực mang tính khái quát, đơn giản liên quan đến an toàn vốn, cũng như tóm  
lượt một cách chung nhất về thực trạng đảm bảo an toàn vốn của một số NHTM VN.  
Trong đó, tập trung thu thập và phân tích số liệu từ năm 2010, 2011, 2012 của 8 NH thuộc  
4 nhóm giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm 2012 theo Chỉ thị số 01/CT-NHNN  
do NHNN ban hành ngày 13/02/2012:  
- Nhóm 1 gồm: NHTM CP Công Thương Việt Nam (Vietinbank) và NHTM CP  
Ngoại Thương Việt Nam (VCB).  
- Nhóm 2 gồm: NHTM CP Đông Á (DongA Bank) và NHTM CP Phương Đông  
(OCB).  
- Nhóm 3 và 4 gồm: NHTM CP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank),  
NHTM CP Nam Việt (NaViBank), NHTM CP Sài Gòn Công Thương (Saigonbank) và  
NHTM CP Phương Tây (Western Bank).  
4. Phương pháp nghiên cứu  
Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với phương pháp thống kê, so  
sánh, phân tích…đi từ cơ sở lý thuyết đến thực tiễn nhằm giải quyết và làm sáng tỏ mục  
đích đặt ra trong đề tài. Trong đó, chủ yếu tập trung nghiên cứu các nội dung chung nhất  
của Hiệp ước Basel về an toàn vốn, thanh tra giám sát trong hoạt động các NH, các hệ số,  
tiêu chuẩn về vốn cần tuân thủ theo Basel, cũng như các quy định của NHNN về đảm bảo  
an toàn vốn trong hoạt động. Bên cạnh đó, tác giả cũng chọn lọc thông tin từ các báo cáo  
thường niên của NHNN, các NHTM và các bài viết chuyên đề trên các tạp chí chuyên  
   
3
ngành…để làm cơ sở tổng hợp, phân tích để có những đánh giá khách quan nhất về nội  
dung của đề tài.  
5. Kết cấu của đề tài  
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được trình bày trong phạm vi ba chương:  
- Chương 1: Tổng quan về các chuẩn mực của Hiệp Ước Basel trong đảm bảo an  
toàn vốn của các Ngân hàng thương mại.  
- Chương 2: Thực trạng áp dụng các chuẩn mực của Hiệp ước Basel trong đảm bảo  
an toàn vốn của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.  
- Chương 3: Giải pháp để áp dụng các chuẩn mực của Hiệp ước Basel trong đảm  
bảo an toàn vốn của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.  
6. Ý nghĩa và hướng phát triển của đề tài  
Tuy đề tài chỉ mang tính khái quát và chưa có những nghiên cứu mang tính quy mô  
để có thể áp dụng ngay vào thực tiễn, nhưng tác giả hy vọng rằng nội dung cùng với sự  
hướng dẫn, đóng góp quý báu của quý Thầy Cô thì đề tài sẽ được sử dụng làm tài liệu  
tham khảo, làm cơ sở xem xét để nghiên cứu sâu hơn trong lĩnh vực quản trị, đảm bảo an  
toàn hoạt động tại các ngân hàng.  
   
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC CHUẨN MỰC CỦA HIỆP  
ƯỚC BASEL TRONG ĐẢM BẢO AN TOÀN VỐN CỦA CÁC  
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI  
1.1 Tổng quan về Hiệp ước Basel  
1.1.1 Sự hình thành và hoạt động của Ủy ban Basel  
Vào những năm 1980, hệ thống NHTM trên thế giới phát triển mạnh và có những  
dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh giữa các NH. Đồng thời, quy định về vốn điều lệ của  
các NHTM ở các nước khác nhau nên dẫn đến việc cạnh tranh không công bằng trong  
cùng một thị trường, đây là điều cấm kỵ trong cơ chế hội nhập. Vì vậy lãnh đạo các nước  
phát triển đã ngồi lại với nhau để tìm giải pháp thích hợp vừa khuyến khích cạnh tranh vừa  
đảm bảo công bằng và an toàn cho người gửi tiền, đó là một trong những lý do quan trọng  
cho sự ra đời Hiệp ước Basel (Basel). Hiệp ước Basel là yêu cầu về an toàn vốn do các NH  
thuộc nhóm 10 nước phát triển khởi xướng và được Ủy ban Quản lý NH thuộc NH Thanh  
toán Quốc tế (BIS) ban hành lần đầu tiên vào năm 1988, xuất phát từ những cuộc khủng  
hoảng về tiền tệ quốc tế và thị trường NH, mà đáng quan tâm nhất là sự sụp đổ của NH  
Herstatt ở Tây Đức vào thời điểm đó. Do tính thiết thực của nó nên cộng đồng các tổ chức  
tài chính, NH của hơn 100 nước khác cùng hưởng ứng. Để phù hợp với những thay đổi lớn  
của thị trường, Basel đã được cải tiến và sửa đổi lần thứ hai (Basel II) vào năm 2001 và có  
hiệu lực vào năm 2006. Ủy ban Basel bao gồm Thống đốc NHTW của các nước thuộc  
nhóm 10 nước phát triển và một số nước có hệ thống NH lớn mạnh hàng đầu thế giới bao  
gồm Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Italia, Nhật, Luxembua, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Anh,  
Mỹ đã kí Hiệp ước Basel (Basel Accord), một cơ quan gọi là Hội đồng Basel về giám sát  
NH quốc tế cũng đã được chính thức thành lập để theo dõi và chỉ đạo việc thực thi Hiệp  
ước. Ngoài ra, hệ thống NH của nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng đã đồng thuận  
tham gia tuân thủ Hiệp ước này.  
Ủy ban Basel tổ chức họp thường niên tại trụ sở NH thanh toán quốc tế (BIS) tại  
Washington DC – Mỹ hoặc tại Thành phố Basel (còn gọi là Basle) – Thụy Sĩ. Ban thư ký  
thường trực của Ủy ban này cũng có trụ sở làm việc tại Washington DC – Mỹ. Quan điểm  
của Ủy ban Basel là sự yếu kém trong hệ thống NH của một quốc gia dù là phát triển hay  
đang phát triển đều có thể đe dọa không chỉ đến sự ổn định về tài chính của quốc gia đó  
     
5
mà còn cả trên phạm vi toàn thế giới. Ủy ban Basel thường xuyên tổ chức các cuộc thảo  
luận xoay quanh sự hợp tác quốc tế để giảm bớt khoảng cách trong công tác giám sát NH,  
nâng cao chất lượng công tác giám sát hoạt động NH trên toàn thế giới. Để làm được điều  
này, Ủy ban Basel đã cố gắng tìm hiểu và thực hiện được 3 điều cơ bản là: Trao đổi thông  
tin về hoạt động giám sát cấp quốc gia; Cải thiện hiệu quả kỹ thuật giám sát hoạt động NH  
quốc tế; Đặt ra những tiêu chuẩn giám sát tối thiểu trong những lĩnh vực mà Ủy ban thực  
sự quan tâm.  
1.1.2 Những chuẩn mực cơ bản của Basel I  
Năm 1988, Ủy ban về giám sát NH đã phê duyệt một văn bản đầu tiên lấy tên là  
Hiệp ước về vốn của Basel (Basel I). Basel I ra đời nhằm củng cố sự ổn định của toàn hệ  
thống NH quốc tế, thiết lập một hệ thống NH quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm sự  
cạnh tranh không lành mạnh giữa các NH hoạt động quốc tế. Basel I gồm các nội dung chủ  
yếu sau:  
Tiêu chuẩn 1: tỷ lệ vốn dựa trên rủi ro (Tỷ lệ Cook): Tỷ lệ này được phát triển  
bởi Ủy ban Basel với mục đích củng cố hệ thống NH quốc tế, đối tượng ban đầu là những  
NH hoạt động quốc tế, nhưng sau này đã được thực thi trên hơn 100 quốc gia. NH phải giữ  
lại lượng vốn bằng ít nhất 8% của tài sản có trọng số rủi ro, được tính toán theo nhiều  
phương pháp khác nhau và phụ thuộc vào mức độ rủi ro của chúng:  
Tổng vốn  
CAR =  
≥ 8%  
Tài sản có trọng số rủ ro (RWA)  
Tiêu chuẩn này quy định 5 định mức về vốn như sau:  
- Mức vốn tốt  
: CAR > 10%  
- Mức vốn thích hợp : CAR > 8%  
- Thiếu vốn  
: CAR < 8%  
: CAR < 6%  
- Thiếu vốn rõ rệt  
- Thiếu vốn trầm trọng : CAR < 2%  
Tiêu chuẩn 2: Vốn cấp 1, Vốn cấp 2, Vốn cấp 3: Basel I đã đưa ra định nghĩa  
chung nhất về vốn và tỷ lệ vốn an toàn của NH. Đến 1996, Basel I được sửa đổi bổ sung  
thêm rủi ro thị trường, theo đó rủi ro thị trường bao gồm cả rủi ro thị trường chung và rủi  
ro thị trường cụ thể. Rủi ro thị trường chung đề cập đến những thay đổi về giá trị thị  
trường do biến động lớn trên thị trường. Rủi ro thị trường cụ thể là những thay đổi giá trị  
 
6
một loại tài sản nhất định. Có bốn loại biến số kinh tế làm phát sinh rủi ro thị trường, đó là:  
tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, chứng khoán và hàng hóa. Khi đó tiêu chuẩn về vốn của NH quy  
định:  
Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3  
- Vốn cấp 1 (Vốn nòng cốt): gồm lượng vốn dự trữ sẵn có chắc chắn và các nguồn  
dự phòng được công bố như vốn điều lệ, vốn cổ phần thường, cổ phần ưu đãi, dự phòng  
các khoản vay.  
- Vốn cấp 2 (Vốn bổ sung): gồm tất cả các vốn khác như lợi nhuận giữ lại không  
công bố, dự phòng đánh giá lại tài sản, dự phòng chung, các công cụ nợ có khả năng  
chuyển đổi thành cổ phiếu, nợ thứ cấp có kỳ hạn (> 5 năm).  
- Vốn cấp 3 (dành cho rủi ro thị trường): là các khoản vay ngắn hạn  
Giới hạn về vốn: Vốn tự có = Vốn cấp 1 + Vốn cấp 2  
Trong đó:  
- Vốn cấp 2  
≤ 100% Vốn cấp 1  
≤ 50% Vốn cấp 1  
- Nợ thứ cấp có kỳ hạn  
- Dự phòng chung  
≤ 1,25% tài sản có rủi ro  
- Dự trữ đánh giá lại tài sản được chiết khấu 55%  
Tiêu chuẩn 3: tài sản có trọng số rủi ro (RWA)  
Tài sản có trọng số rủi ro (RWA) = Tài sản x Trọng số rủi ro  
Mỗi loại tài sản (cả nội bảng và ngoại bảng) có hệ số rủi ro khác nhau (Phụ lục 1),  
các trọng số rủi ro khác nhau ứng với những loại tài sản khác nhau sẽ cho yêu cầu về vốn  
khác nhau.  
Hiệp ước Basel I mang tính chất thỏa thuận quốc tế các tiêu chuẩn về vốn và chỉ áp  
dụng trong hoạt động của các NH quốc tế thuộc nhóm 10 nước phát triển và sau này trở  
thành chuẩn mực quốc tế về vốn tự có được áp dụng trên 100 quốc gia. Nó quy định về tỷ  
lệ an toàn vốn tối thiểu và quản lý rủi ro tín dụng đối với NH, và là một trong những căn  
cứ, tiêu chuẩn để các NH của các quốc gia trên thế giới áp dụng quản lý, bảo đảm an toàn  
trong hoạt động.  
Bộ 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng: (Phụ lục 2)  
Tháng 10/1999, Ủy ban Basel đã giới thiệu bộ 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát hệ  
thống NH hiệu quả, bao gồm một số nhóm nội dung chủ yếu sau:  
7
- Nhóm nguyên tắc về điều kiện tiên quyết cho việc giám sát NH hiệu quả: Nguyên  
tắc 1.  
- Nhóm nguyên tắc về cấp phép và cơ cấu: từ Nguyên tắc 2 đến Nguyên tắc 5.  
- Nhóm nguyên tắc về các quy định và yêu cầu thận trọng: từ Nguyên tắc 6 đến  
Nguyên tắc 15.  
- Nhóm nguyên tắc về giám sát nghiệp vụ NH: từ Nguyên tắc 16 đến 20  
- Nhóm nguyên tắc về yêu cầu thông tin: Nguyên tắc 21.  
- Nhóm nguyên tắc về quyền hợp pháp của chuyên gia giám sát: Nguyên tắc 22.  
- Nhóm nguyên tắc về NH xuyên biên giới: từ Nguyên tắc 23 đến 25.  
Những thiếu sót của Basel I:  
Sau khi rủi ro tín dụng được thiết lập vào năm 1988, Uỷ ban Basel đã chuyển sự  
chú ý của họ sang rủi ro thị trường để phản ứng lại các hoạt động kinh doanh chuyên hữu  
ngày càng tăng của các NHTM và đến năm 1996, Basel I đã được sửa đổi với mục đích  
tính đến cả phí vốn đối với rủi ro thị trường. Mặc dù vậy, Basel I vẫn có khá nhiều điểm  
hạn chế. Một trong những điểm hạn chế cơ bản của Basel I là không đề cập đến một loại  
rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp với mức độ ngày càng tăng lên, đó là rủi ro họat  
động (không có yêu cầu vốn dự phòng rủi ro hoạt động). Ngoài ra vẫn còn một số điểm  
hạn chế khác như: Phân loại rủi ro chưa chi tiết cho các khoản vay; Hệ số rủi ro chưa chi  
tiết cho rủi ro theo đối tác (ví dụ như năng lực tài chính của khách hàng), hay theo đặc  
điểm của khoản vay (thời hạn trả nợ). Điều này cho rằng có thể các NH khác nhau có cùng  
tỷ lệ an toàn vốn nhưng có thể đang đối mặt với các loại rủi ro khác nhau với mức độ và  
quy mô khác nhau; Chưa tính đến lợi ích của đa dạng hóa hoạt động, rủi ro sẽ giảm khi đa  
dạng hóa danh mục đầu tư. Tuy nhiên Basel I đưa ra quy định về vốn không khác biệt giữa  
NH có hoạt động kinh doanh đa dạng (ít rủi ro hơn) và NH kinh doanh tập trung (rủi ro  
cao hơn), một khoản nợ riêng lẻ yêu cầu một lượng vốn bằng với một danh mục đầu tư  
được đa dạng hóa với cùng một giá trị, ví dụ như không có khác biệt nào về yêu cầu về  
vốn giữa một khoản vay 100 USD và 100 khoản vay 1 USD (ít rủi ro hơn).  
1.1.3 Những chuẩn mực cơ bản của Basel II  
Nhằm khắc phục các hạn chế của Hiệp ước Basel I và đáp ứng nhu cầu thực tiễn  
hoạt động của hệ thống NH, từ năm 1999 Uỷ ban Basel đã nỗ lực đưa ra một Hiệp ước  
mới thay thế cho Basel I, và bản Hiệp ước quốc tế mới về vốn của Basel (Basel II) đã  
chính thức được ban hành vào năm 2004 với mục tiêu: Nâng cao chất lượng và sự ổn định  
 
8
của hệ thống NH quốc tế; Tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẵng cho các NH trên bình  
diện quốc tế; Đẩy mạnh việc chấp nhận thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý  
rủi ro. Về bản chất, Hiệp ước Basel II đơn thuần làm tinh xảo hơn, hoàn thiện hơn cách  
thức đo lường và tính toán những rủi ro nhằm giúp các NH quản lý rủi ro hiệu quả hơn. Ba  
trụ cột chính của Hiệp ước Basel II:  
Trụ cột thứ nhất: yêu cầu về vốn tối thiểu là tiêu chí cốt lõi của Basel II. Ngoài  
rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường đã được quy định tại Basel I, Basel II bổ sung thêm một  
loại rủi ro nữa là rủi ro hoạt động (rủi ro hoạt động là rủi ro xảy ra tổn thất do các quy  
trình, hệ thống hay nhân viên trong nội bộ NH vận hành không tốt hoặc do các nguyên  
nhân khách quan bên ngoài. Đây là một trong những rủi ro trầm trọng mà NH thường phải  
đối mặt trong quá trình hoạt động). Basel II vẫn quy định mức vốn an toàn tối thiểu là 8%  
và chỉ thay đổi cách tính ở mẫu số trong công thức tính tỷ lệ đủ vốn. Theo đó, mẫu số phải  
bao gồm cả ba loại rủi ro: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Tỷ lệ vốn  
được tính dựa trên vốn điều chỉnh và các tài sản có trọng số rủi ro:  
- Tổng tỷ lệ vốn (CAR) ≥ 8%  
- Vốn cấp 2  
- Vốn cấp 3  
≤ 100% Vốn cấp 1  
≤ 250% Vốn cấp 1  
Tổng vốn (giống Basel I)  
CAR =  
≥ 8%  
RWArủi ro tín dụng + +12,5 x (∑Krủi ro hoạt động + ∑K rủi ro thị trường  
)
RWArủi ro tín dụng : Tổng tài sản có trọng số rủi ro đối với rủi ro tín dụng  
Krủi ro hoạt động  
K rủi ro thị trường  
: Mức độ an toàn vốn đối với rủi ro hoạt động  
: Mức độ an toàn vốn đối với rủi ro thị trường  
Basel II đã bãi bỏ cách tiếp cận rủi ro của Basel I và thay bằng cách phân định các  
mức rủi ro trên cơ sở xếp hạng chính xác hơn mức độ rủi ro, các NH sẽ phải phụ thuộc chủ  
yếu vào kết quả xếp hạng và đánh giá độ tín nhiệm của các tổ chức độc lập như Moody,  
S&P. Hệ thống đo lường theo Basel II phức tạp hơn, nhưng có khả năng đánh giá chính  
xác mức độ an toàn vốn. Về mặt định lượng công tác đo lường rủi ro tín dụng, Hiệp ước  
này đưa ra một chọn lựa giữa các phương pháp “được tiêu chuẩn hóa”, “cơ bản” và “nâng  
cao”.  
9
Các phương pháp đo lường rủi ro tín dụng:  
- Phương pháp chuẩn hóa (SA): tài sản có rủi ro (RWA) được áp dụng các hệ số rủi  
ro khác nhau do tổ chức XHTD quy định. Phương pháp này đo lường rủi ro tín dụng như  
Basel I nhưng ở mức độ nhạy cảm với rủi ro hơn vì nó sử dụng XHTD do các tổ chức xếp  
hạng độc lập cung cấp hoặc XHTD nội bộ làm hệ số khi tính toán tài sản điều chỉnh theo  
rủi ro. Phát triển quan trọng nữa là việc mở rộng danh mục tài sản thế chấp, bảo lãnh, tín  
dụng phái sinh. Ủy ban cho phép các NH lựa chọn giữa 2 phương pháp tính toán yêu cầu  
vốn phòng ngừa rủi ro tín dụng là sử dụng đánh giá của tổ chức XHTD độc lập hay sử  
dụng đánh giá XHTD nội bộ (tuy nhiên phải có sự đồng ý của cơ quan giám sát NH là  
NHNN hoặc thanh tra NH). Nói chung phương pháp này phụ thuộc nhiều vào kết quả  
XHTD làm hệ số khi tính toán điều chỉnh rủi ro.  
- Phương pháp dựa trên hệ thống đánh giá nội bộ cơ bản (F-IRB): tài sản có rủi ro  
được tính trên những dữ liệu nội bộ về xác suất vỡ nợ (PD) và tổn thất ước tính (LGD).  
- Phương pháp dựa trên hệ thống đánh giá nội bộ tiên tiến (A-IRB): tài sản có rủi ro  
được tính trên PD và LGD từ dữ liệu nội bộ nhưng cách tính phức tạp hơn.  
Phương pháp IRB là một trong những yếu tố mang tính đổi mới nhất của Basel II,  
nó cho phép bản thân NH quyết định và ước tính những thành tố trong công thức tính toán  
nhu cầu vốn của họ. Từ đó, hệ số rủi ro hay phần tỷ lệ vốn được xác định thông qua sự kết  
hợp của các yếu tố đầu vào định lượng cho cả NH lẫn cơ quan giám sát, và các hàm số rủi  
ro do Ủy ban Basel quy định. Các NH sẽ sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ để đánh  
giá rủi ro tín dụng, từ đó xác định CAR. NH xác định các thành phần rủi ro: xác suất vỡ  
nợ, tổn thất ước tính, tổng dư nợ tại thời điểm vỡ nợ và kỳ đáo hạn hiệu dụng.  
Các phương pháp đo lường rủi ro thị trường:  
Theo Ủy ban Basel rủi ro thị trường là rủi ro xảy ra sự mất mát trong trạng thái giao  
dịch khi giá cả biến động thất thường. Thông thường rủi ro thị trường sẽ gắn với 4 loại rủi  
ro cơ bản trên các giao dịch sổ sách, đó là rủi ro lãi suất, rủi ro trạng thái vốn, rủi ro tỷ giá  
và rủi ro hàng hóa. Vốn tự có bao gồm vốn cấp 1 và cấp 2, tuy nhiên quy định của Basel II  
khi đánh giá rủi ro thị trường cho phép NH tính thêm phần vốn cấp 3. Theo đó, NH chỉ sử  
dụng vốn cấp 3 để đối phó với rủi ro thị trường, còn rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động thì  
được xem xét trong phạm vi vốn tự có của NH. Vốn cấp 3 được giới hạn tới 250% vốn cấp  
1 dùng để dự phòng rủi ro thị trường. Nếu có vốn cấp 2 đảm bảo rủi ro thị trường thì vốn  
cấp 3 cũng bị chi phối theo giới hạn 250% vốn cấp 2.  
10  
- Phương pháp chuẩn (SA): yêu cầu về vốn đối phó với rủi ro thị trường theo  
phương pháp này sẽ được xem xét đối với từng yếu tố rủi ro bao gồm: rủi ro lãi suất, rủi ro  
trạng thái vốn, rủi ro tỷ giá và rủi ro hàng hóa.  
- Phương pháp mô hình nội bộ (IMA): các NH muốn sử dụng phương pháp này  
phải có sự đồng ý của cơ quan giám sát. Điều kiện tối thiểu mà mỗi NH phải đáp ứng là có  
hệ thống quản lý rủi ro thống nhất về quan điểm và được áp dụng trung thực và có đủ số  
lượng chuyên viên có kỹ năng trong việc sử dụng các mô hình phức tạp, không chỉ trong  
giao dịch mà còn trong kiểm soát rủi ro, kiểm tra, kiểm toán.  
Các phương pháp đo lường rủi ro hoạt động:  
- Phương pháp chỉ số cơ bản (BIA): các NH sử dụng phương pháp này cần duy trì  
mức vốn để đối phó với rủi ro hoạt động bằng mức bình quân lợi nhuận gộp hàng năm của  
thời kỳ 3 năm trước đó với tỷ lệ phần trăm cố định trên lợi nhuận gộp hàng năm dương.  
- Phương pháp chuẩn (TSA): theo phương pháp này, hoạt động của NH chia thành  
8 nhóm nghiệp vụ: tài trợ doanh nghiệp, bán hàng và giao dịch, nghiệp vụ NH bán lẻ,  
nghiệp vụ NHTM, dịch vụ chi trả và thanh toán, dịch vụ đại lý, quản trị tài sản và môi giới  
bán lẻ. Trong mỗi nhóm, lợi nhuận gộp là một chỉ số phổ biến coi như là một thướt đo cho  
hoạt động, và như vậy cũng là căn cứ xác định mức độ rủi ro hoạt động. Theo phương  
pháp này, lợi nhuận gộp được đo cho từng loại nghiệp vụ chứ không phải theo từng loại tổ  
chức.  
- Phương pháp đo lường nâng cao (AMA): cho đến nay, phương pháp này được  
xem là phương pháp tiên tiến nhất để xác định nhu cầu về vốn dự phòng rủi ro hoạt động.  
Theo đó, yêu cầu về vốn được tính toán dựa trên hệ thống đo lường rủi ro hoạt động nội bộ  
cơ bản của NH, có sử dụng các tiêu chí định lượng và định tính. Hệ thống này không chỉ  
thống kê số liệu thiệt hại thực tế bên trong và bên ngoài mà còn phân tích tình huống và  
các nhân tố liên quan đến môi trường kinh doanh cũng như môi trường kiểm soát nội bộ  
của NH. Hơn nữa, phương pháp này đạt chuẩn mực về thống kê có thể so sánh với phương  
pháp IRB. Các NH muốn sử dụng phương pháp này phải được sự chấp thuận của cơ quan  
giám sát NH.  
Trụ cột thứ hai: trụ cột này liên quan tới việc hoạch định chính sách NH, cung  
cấp cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với Basel I, tập trung  
vào việc xây dựng hệ thống quản lý rủi ro. Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp  
tăng cường cơ chế giám sát, đặc biệt là việc đánh giá chất lượng quản lý rủi ro của NH.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 134 trang yennguyen 15000 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Áp dụng các chuẩn mực của Hiệp ước Basel trong đảm bảo an toàn vốn của các Ngân hàng thương mại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_ap_dung_cac_chuan_muc_cua_hiep_uoc_basel_trong_dam.pdf