Luận văn Phát hiện và phân loại âm thanh ho trên các thiết bị IoT

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG  
---------------------------------------  
Nguyễn Lý Hòa  
PHÁT HIỆN VÀ PHÂN LOẠI ÂM THANH HO TRÊN CÁC  
THIẾT BỊ IOT  
Chuyên ngành: Khoa học máy tính  
Mã số: 8.48.01.01  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÁY TÍNH  
(Theo định hướng ứng dụng)  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS. TS. PHẠM VĂN CƯỜNG  
HÀ NỘI - NĂM 2020  
i
MỤC LỤC  
 
iii  
DANH MỤC HÌNH VẼ  
 
v
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ, CHỮ VIẾT TẮT  
Viết tắt  
IoT  
Tiếng Anh  
Tiếng Việt  
Internet of Thing  
Internet Vạn Vật  
HMM  
GMM  
DNN  
ANN  
CNN  
RNN  
LSTM  
RBM  
DBN  
SVM  
SFFT  
Hidden Markov Model  
Gaussian Mixture Model  
Deep Neural Network  
Mô hình Markov ẩn  
Mô hình Gaussian hỗn hợp  
Mạng nơ ron sâu  
Artificial Neural Network  
Convolutional Neural Network  
Recurrent Neural Network  
Long shot term memory  
Restricted Boltzmann Machine  
Deep Bayesian Networks  
Support Vector Machine  
Sparse Fast Fourier Transform  
Mạng nơ ron nhân tạo  
Mạng học sâu tích chấp  
Mạng học sâu quy hồi  
Bộ nhớ dài – ngắn hạn  
Máy Boltzmann bị hạn chế  
Mạng học sâu Bayes  
Máy véc tơ hỗ trợ  
Biến đổi Fourier nhanh  
Mel Frequency Cepstral  
Coefficients  
Phương pháp trích xuất đặc trưng  
MFCC  
âm thanh  
 
vi  
BẢN CAM ĐOAN  
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.  
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai  
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.  
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2020  
HỌC VIÊN CAO HỌC  
Nguyễn Lý Hòa  
 
vii  
LỜI CẢM ƠN  
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được  
sự động viên, khuyến khích và tạo điều kiện giúp đỡ nhiệt tình của các cấp lãnh đạo,  
của các thầy giáo, cô giáo, anh chị em, bạn bè đồng nghiệp và gia đình.  
Tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo, phòng Sau đại học  
Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn Thông và đặc biệt là các thầy cô giáo trực tiếp  
giảng dạy các chuyên đề của khóa học đã tạo điều kiện, đóng góp ý kiến cho tôi trong  
suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn thạc sỹ.  
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS.Phạm Văn Cường –  
Người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi tiến hành các hoạt động  
nghiên cứu khóa học để hoàn thành luận văn này.  
Với thời gian nghiên cứu còn hạn chế, thực tiễn công tác lại vô cùng sinh động,  
luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được các ý kiến  
đóng góp chân thành từ các thầy giáo, cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè.  
Hà Nội, ngày tháng năm 2020  
Học viên  
Nguyễn Lý Hòa  
 
viii  
LỜI NÓI ĐẦU  
Các loại bệnh dịch trong suốt bề dày lịch sử của loài người đã có sự phát triển,  
phân cấp các loại bênh biến đổi và thay đổi không ngừng. Một trong số đó không thể  
không nhắc tới những bệnh liên quan tới đường hô hấp, đặc biệt là dịch bệnh COVID-  
19 kinh hoàng gần đây đã và đang làm cho thế giới chao đảo. Tính từ đầu năm 2020  
đến nay đã có tới 43,9 triệu người nhiếm trên toàn thế giới và hơn 1,16 triệu người tử  
vong. Tại Việt Nam, chúng ta đã vô cùng thành công khi chỉ có 1169 người nhiễm,  
chỉ có 35 người tử vong với bệnh nền nặng. Dịch bệnh đã lây lan đến mức kinh hoàng  
trên quy mô cả thế giới như vậy hầu như là do tính chủ quan của người bệnh, cũng  
như việc đánh giá sai các triệu chứng của mình.  
Các dịch bệnh về hô hấp đã nhiều lần gây ra sự hỗn loạn trên thế giới, chủng  
bệnh thay đôi liên tục, tăng cường thích nghi với mỗi lần chúng ta tìm ra vacxin điều  
trị. Ta cũng có thể thấy được các đại dịch lớn đều có các triệu chứng liên quan tới  
triệu chứng ho tiêu biểu như: bệnh lao, đại dịch cúm Tay Ban Nha (1918), dịch cúm  
Châu Á (1957),… và đặc biệt dịch SARS (2003) nay đã biến đổi và quay trở lại với  
tên gọi COVID-19. Triệu chứng ho là một trong các triệu chứng đặc trưng của các  
dịch bệnh này, với mỗi dịch bệnh về hồ hấp mới sẽ có các đặc trưng ho riêng biệt như  
đối với dịch COVID-19 là triệu chứng ho khan cùng với các triệu chúng khác ta có  
thể phân biệt chúng với các triệu chứng cúm thông thường. Chính vì sự thiếu hiểu  
biết cũng như chủ quan của con người mà đôi khi đã khiến căn bênh trở lên trầm  
trọng hơn hoặc gây nguy hiểm cho những người xum quanh. Đặc biệt với thực trạng  
đang quá tải các bệnh viên như hiện nay thì việc có thể nhận dạng bệnh lý còn khó  
khăn hơn khi không thể nghe những lời khuyên y tế.  
Tuy nhiên, sự phát triển của con người cũng đã tạo ra sự phát triển về công  
nghệ thông tin, sự phát triển của các thiết bị IoT. Chúng ta đã áp dụng công nghệ  
thông tin vào các ngành nghề khác từ giao thông vận tại, giáo dục, sản xuất chế tạo,…  
Con người cũng đã áp dụng Công nghệ thông tin trong y tế, dựa trên các hệ thống lưu  
động, lưu trữ thông tin bệnh nhân; hệ thống báo hiệu sống còn của bệnh nhân; hay cả  
 
ix  
đến ứng dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo, học sâu để nhận biết các dao động của nhịp  
tim, nhận dạng tiếng thở, âm thanh ho… Bằng cách nghiên cứu các phương pháp học  
sâu, tôi mong muốn có thể đưa ra được phương pháp tốt nhất cho việc phân loại âm  
thanh ho. Nhờ đó, chúng ta có thể phát triển các ứng dụng dựa trên các thiết bị IoT  
để ai cũng có thể nhận biết được dạng ho của bản thân, cùng với các triệu chứng đi  
kèm có thể tư đưa ra sơ bộ về tình hình cá nhân để can thiệp kịp thời với tình trạng  
của mình cũng như sẽ không gây ra sự lây lan, nguy hiểm đến những người xum  
quanh.  
1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN LOẠI HO  
1.1 Bài toán phát hiện và phân loại ho  
Như chúng ta đã, biết đối với hiện trạng như hiện nay trên thế giới tình trạng  
đại dịch COVID-19 truyền nhiễm theo cấp số nhân vô cùng nghiêm trọng tăng tới  
hàng trăm nghìn ca nhiễm và hàng nghìn ca tử vong mỗi này. Dựa vào biểu đồ tại  
hình 1.1, ta cũng có thể thấy được dịch bệnh này chưa hề có dấu hiệu dừng lại. Theo  
dữ liệu thống kê hiện tại:  
Hình 1.1: Biểu đồ dịch bệnh Covid – 19 năm 2020 (nguồn: google)  
Và đó chỉ là một trong những bệnh dịch gần đây nhất đang hoành hành trên  
thế giới tại thời điểm hiện tại. Trong suốt cả quá trình phát triển của loài người đã có  
những dịch bệnh kinh hoàng hơn như vậy. Bệnh dịch hạch được biết tới từ những  
năm 541 sau công nguyên từng khiến cho các đế chế Hy Lạp chao đảo, cũng căn bệnh  
này đã khiến cho cả Châu Âu chao đảo từ 1347 đến 1351 số người chết lên tới 25  
triệu người. Bệnh đậu mùa khi thực dân châu Âu xâm chiếm châu Mỹ vào thế kỷ 17  
và mang theo cả bệnh đậu mùa (do virus variola gây ra) tới lục địa này. Bệnh đậu  
mùa đã cướp đi sinh mạng của khoảng 20 triệu người, gần 90% dân số ở châu Mỹ khi  
đó. Hay đại dịch tả đầu tiên bắt đầu ở Jessore, Ấn Độ (1817-1823) và giết chết hàng  
triệu người dân Ấn Độ khi ấy. Sau đó, dịch tả bùng phát thêm nhiều đợt mới lan  
nhanh khắp các châu lục trong thời gian ngắn. Trong số đó, không thể không nhắc tới  
các đại dịch cúm đã liên tục hoành hành trong loài người như dịch cúm Tây Ban Nha  
(1918), dịch cúm Châu Á (1957),… Các dịch cúm liên tục thay đổi và thích nghi sau  
     
2
mỗi lần loại người có thể phòng chống và chữa trị được, như đại dịch COVID-19  
cũng là một bản sao sự biển đổi từ chủng của đại dịch SARS năm 2003. Tuy nhiên,  
mỗi dịch bệnh xảy ra đều có các triệu chứng liên quan để chúng ta có thể dễ dàng  
phòng ngừa được, tuy nhiên do sự chủ quan và thiếu hiểu biết đã khiến cho loài người  
rơi vào tình cảnh khó khăn.  
Phần lớn các căn bệnh liên quan tới được hô hấp hay dịch cúm đếu có các triệu  
chứng ho, chẳng hạn như đối với dịch bệnh COVID-19, ngoài các triệu chứng cụ thể  
ra kèm với đó còn có dạng ho riêng. Tùy theo cơ địa mỗi người mà các triệu chứng  
dạng ho có thể là rõ hoặc không rõ nhưng vẫn có cùng dạng ho. Mỗi dạng ho, khi đi  
kèm với những triệu chứng khác nhau có thể là những căn bệnh khác nhau, đôi khi  
để cá nhân người bệnh có thể tự nhận biết hay phân loại được dạng ho của mình để  
có thể phòng ngừa cũng là một điều khó khăn khi không có các lời khuyên từ các bác  
sĩ chuyên ngành. Vì vậy, ứng dụng các kỹ thuật công nghệ để có thể phát hiện và  
phòng ngừa là một điều cấp thiết.  
Với sự phát triển của ngành Công nghệ thông tin, chúng ta đã ứng dụng được  
vào các ngành nghề khác để có thể hoạt động dễ dàng hơn. Ngoài những ngành nghề  
khác, việc áp dụng công nghệ thông tin vào ngành y học là vô cùng cần thiết. Ngoài  
những công việc áp dụng công nghệ thông tin cơ bản, chúng ta cũng đã có nhiều thuật  
toán học sâu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ con người trong ngành y học, dễ  
dàng hơn trong việc chuẩn đoán tình trạng của bệnh nhân và kịp thời phòng ngừa.  
Giả sử như bằng các thuật toán trí tuệ nhân tạo để kiểm tra và phân loại nhịp tim thai  
nhi [16], sử dụng để dự đoán ngừng tim đột ngột dựa trên các thông tin thay đổi của  
nhịp tim [17] hay các thuật toán học máy để kiểm tra tâm lý con người như kiểm tra  
các khái niệm về tự tử và cảm xúc của thanh thiếu niên để ngăn chặn việc tự tử [18],...  
Nhận thấy được khả năng khi áp dụng máy học cho các vấn đề về y học cùng với thực  
trạng hiện nay đối với các dịch bệnh cúm mùa đặc biệt là đại dịch COVID-19, tôi  
muốn áp dụng các thuật toán học máy để có thể thực hiện bài toán phát hiện và phân  
loại các dạng ho trên các thiết bị IoT, vậy tại sao là các thiết bị IoT? Đối với các thiết  
bị IoT thì gần như mọi người đều đang sử dụng chúng chẳng hạn như điện thoại thông  
3
minh Smartphone, thiết bị đeo tay điện tử… Để tiếp cận hệ thống này cho những  
người sử dụng phổ thông là vô cùng đơn giản, không cần phải có các thiết bị điện tử  
quá đắt tiền cũng như gây khó chịu cho người sử dụng, không những thế người sử  
dụng có thể tiếp cận mọi lúc mọi nơi. Việc thực hiện bài toán này chính là tiền đề để  
tạo ra hệ thống tối ưu nhất và có thể góp phần giúp người sử dụng nhanh chóng biết  
được tình trạng của bản thân và mau chóng chữa trị, phòng ngừa tránh lây lan ra cộng  
đồng người xum quanh mình. Xác suất nào đó có thể giảm thiểu số người nhiễm bệnh  
và người tử vong nếu như có những đại dịch cúm trong tương lai.  
1.2 Một số nghiên cứu liên quan  
Phát hiện, phân loại ho và đánh giá mức độ nghiêm trọng của triệu chứng tự  
động đã thu hút các nhà nghiên cứu, chuyên gia y tế và bác sỹ trong nhiều năm. Phần  
lớn người đến chưa trị, hay cần lời khuyên từ bác sỹ đều có chung triệu chứng là ho  
[3]. Người ta có thể phát hiện âm thanh ho dựa trên việc lắp đặt hàng loạt các cảm  
biến âm thanh [4], đối với [6], [7], [8], thì họ chỉ cần sử dụng duy nhất một micro gắn  
lên người có triệu chứng nhiễm bệnh [2] hoặc sử dụng hệ thống mic thu âm của thiết  
bị di động [1], [11]. Trước đây, các hệ thống cảm biến được lắp đặt theo thứ tự cụ thể  
trong một môi trường đa chiều để có thể cảm nhận được biến động từ môi trường  
xum quanh và cảnh báo nguy hiểm [8], trong khi đó các thiết bị cảm biến được đeo  
trên người thường có tác dụng để có thể nhận biết hành vi của người đeo, cảm biến  
các tác động, báo hiệu khi người sử dụng bị ngã [9] hoặc là các hệ thống cảm biến  
này có thể nhận diện được các dấu hiệu sự sống của còn người chẳng hạn như nhịp  
tim, hơi thở, huyết áp, nồng độ Oxi trong máu để báo hiệu cho người sử dụng khi tới  
ngưỡng nguy hiểm liên quan tới tính mạng. Tất nhiên, với việc sử dụng nhiều các  
cảm biến được cài đặt trong môi trường có thể mất khá nhiều kinh phí cũng như khả  
năng kết nối bởi sự hạn chế của phạm vi cảm biến chỉ có 1 khoảng nhất định (ví dụ  
như tầm tín hiệu của cảm biến chỉ ở trong phòng hoặc trong nhà). Đối với các thiết  
bị điện thoại di động hay là các thiết bị IoT có tích hợp cảm biến thì có thể cho phép  
người dùng phát hiện, phân loại ho và mức độ nghiêm trọng của triệu chứng mọi nơi,  
mọi lúc.  
 
4
Các cảm biến hệ thống âm thanh được sử dụng để tạo ra các máy phát hiện ho  
là tương đối phổ biến, tính tới thời điểm hiện tạo các thiết bị đó có thể nhận dạng  
được âm thanh ho chuẩn tới 95%. Một số nhà khoa học đã áp dụng phương pháp phát  
hiện âm thanh ho dựa trên mạng nơ-ron nhân tạo, được tạo ra bởi các vec tơ từ 222  
đặc trưng [6], trong khi đó [4] bằng cách đặt các cảm biến ho tại các vị trí trên cơ thể  
người, so sánh các kết quả và đưa ra kết luận chính việc thay đổi các vị trí đặt máy  
cũng có thể liên quan tới sự chính xác của máy phát hiện ho, Vizel E. et al. Còn [5]  
thì đưa ra thông tin về âm thanh ho bằng cách phân tích tổng hợp hai luồng đó là âm  
thanh được thu từ một chiếc micro được đặt trên ngực và âm thanh được thu từ các  
cảm biến được cài đặt trong môi trường xum quanh người đeo micro. Tương tự,  
Zheng, S., et al. [7] CoughLoc phân tích âm thanh ho dựa từ dữ liệu thu được tại  
mạng cảm biến không dây không xâm nhập, bên cạnh đó CoughLoc cũng phân tích  
xem tại vị trí thu được các âm thanh ho để tăng độ nhận diện âm thanh chính xác nhất.  
[6] nhận dạng âm thanh ho bằng cách sử dụng các cảm biến khác nhau bao gồm cả  
gia tốc kế EMT 25 C (Siemens); Gia tốc kế PPG 201 (PPG); Micro Sony ECM-T150  
kết nối với bộ đầu nối nén khí và so sánh chất lượng chuyển đổi và nhận dạng với các  
thiết bị thu âm thanh của phổi. Bên cạnh đó, chúng ta còn có cách thu âm thanh ho  
chỉ bằng chiếc micro đeo trên ngực của người bệnh và phân tích dựa trên chính dữ  
liệu mà chiếc micro đó thu được. Chẳng hạn, [2] Leicester Cough Monitor đề xuất sử  
dụng máy ghi âm trên ngực bệnh nhân, kế quả LCM đã được đánh giá nghiêm ngặt,  
đạt được độ nhạy và độ đặc hiệu tỉ lệ cao 91% trên bộ dự liệu ngoại tuyến của 15  
bệnh nhân ho mãn tính và 8 người khỏe mạnh. Một nghiên cứu khác, [8] đã sử dụng  
phương pháp học sâu áp dụng mô hình Markov ẩn với hơn 800 phút ghi âm và đã  
phát hiện ra các hiện tượng ho chính xác tới 82% cùng với tỉ lệ lỗi thấp khoảng 7 lần  
mỗi giờ.  
Bên cạnh đó cũng đã có nhiều phương pháp áp dụng học sâu (Deep Learning  
Machine) vào việc phát hiện và phân loại các dạng ho. [14] đã phát hiện ho bằng cách  
sử dụng nhận dạng hình ảnh, dữ liệu âm thanh ho dưới dạng âm thanh sẽ được chuyển  
đổi thành 1 hình ảnh quang phổ từ máy tính, VD: Sử dụng phép biến đổi Fourier thời  
5
gian ngắn (STFT). Sau đó sử dụng mạng học sâu để phân tích dựa trên hình ảnh quang  
phổ được chuyển đổi từ âm thanh ho và các âm thanh thông thường. Ưu điểm của  
việc này là sử dụng Mạng học sâu tích chập (CNN) để áp dụng vào việc nghiên cứu  
và phát hiện các dạng ho qua hình ảnh, CNN rất dễ huấn luyện và có sẵn rất nhiều  
phần cứng tài nguyên để hỗ trợ cho việc này. Cùng với đó, áp dụng đồng thời Mạng  
học sâu hồi quy (RNN) với các nơ-ron chuyên biệt có thể nắm bắt và mô hình hóa  
các liên kết dài hạn theo trình tự. Bên cạnh đó, RNN cũng khó bị ảnh hưởng bởi hiện  
tượng nhiễu trong dữ liệu tuần tự. Tuy nhiên, CNN có một nhược điểm lớn đó là yêu  
cầu dữ liệu đầu vào phải được cố định và rõ ràng, cùng với đó việc học dựa trên RNN  
là quá trình huấn luyện máy học vô cùng khó khan và lượng mẫu dữ liệu đầu vào là  
không hề nhỏ. Song song với đó, cũng đó có một số phương án khác như [15] cũng  
đã sử dụng mạng học sâu để nhận dạng loại ho của bệnh nhân, họ đã chứng minh rằng  
phân loại ho dựa trên sự kết hợp của mô hình hỗn hợp Gaussian kết hợp với Markov  
ẩn (GMM – DNN) không thể hoạt động tốt bằng hệ thống sử dụng mạng học sâu  
cùng mô hình Markov ẩn (HMM – DNN). Ta có thể thấy được bằng cách sử dụng  
phương pháp học sâu, ta có thể xây dựng được một hệ thống nhanh nhạy và chuẩn  
xác theo thời gian thực, tuy nhiên để đạt được hệ thống như vậy chúng ta cần một  
lượng vô cùng lớn các dữ liệu đầu vào để hệ thống máy học có thể sử dụng để tăng  
khả năng chuẩn đoán. Bênh cạnh đó, toàn bộ các dữ liệu này cần được ghị, thu thập  
liên tục và không được ngắt quãng.  
Con người đã rất thành công khi sử dụng thành thạo và kết hợp các thiết bị  
như các bộ xử lý, bộ nhớ đệm và nhiều loại cảm biến như gia tốc kế, GPS, con quay  
hồi chuyển, máy ảnh kỹ thuật số, micro,… để áp dụng vào việc phát hiện, chữa trị  
các căn bệnh trong những khoảng thời gian không có sự giám sát của bác sĩ, y tá hay  
các chuyên gia y tế. Bên cạnh đó, hiện nay các thiết bị di động cũng là một trong các  
thiết bị được nhiều nhà phát triển, khoa học quan tâm tới khi xây dựng các hệ thông  
phần mềm, ứng dụng phục vụ cho việc phát triển y học và hỗ trợ bệnh nhân. Bằng  
cách sử dụng thiết bị di động hay các thiết bị IoT, người sử dụng có thể nắm rõ các  
thông tin tình trạng cá nhân nhanh chóng và đưa ra các quyết định kịp thời. Hiện nay  
6
cũng đã có một số các hệ thống ứng dụng đã có thể phát hiện và phân loại ho bằng  
các phân tích các dữ liệu âm thanh được thu vào từ các thiết bị di động. Ví dụ: [1] đã  
đề xuất một phương án phát hiện âm thanh ho dựa trên việc phân tích cường độ âm  
thanh trung bình, các tính chất thành phần của âm thanh ho đã được trích xuất từ các  
hệ số biến đổi Fast Fourier của dữ liệu thô thu từ thiết bị di động được đặt trong tay  
túi áo của người sử dụng hay từ thiết bị đeo cổ tích hợp míc như các thiết bị tai nghe  
không dây (phần micro hướng về phía miệng của người sử dụng). Kết quả chỉ ra rằng  
[1] đã đạt tỉ lệ chính xác tới 92%, trong khi đó cách làm này có thể giữ được quyên  
riêng tư của người sử dụng, nhưng việc sử dụng thiết bị đeo cổ cũng gây ra sự bất  
tiện cho người sử dụng. Chúng ta có thể thấy được việc sử dụng các cảm biến âm  
thanh chất lượng cao có thể giúp chúng ta tăng độ chính xác khi nhận dạng âm thanh  
ho thu được, tuy nhiên có một sự thật là để có thể sử dụng được nhiều cảm biến như  
vậy ta sẽ mất rất nhiều chi phí, tài nguyên sử dụng, không những vậy các thiết bị này  
cũng có phạm vi tín hiệu nhất định đôi khi sẽ gây sự khó chịu cho người sử dụng. Đối  
với thời đại công nghệ 4.0 cùng với tình trạng giãn cách xã hội như hiện nay, việc sử  
dụng các thiết bị IoT như di động là một phương án tiện nghi và tương đối hữu hiệu  
đối với những người đã có biểu hiện nghi nhiễm hay những người cần có sự giám sát  
y tế. Phương pháp đề xuất của tôi cũng được xây dựng dựa trên một thực trạng không  
thể phủ nhận sự nguy hiểm của dịch bệnh không chỉ tại Việt Nam mà trên cả trên toàn  
thế giới. Bằng cách sử dụng phương pháp này, ta không chỉ phát hiện âm thanh ho  
mà còn phận biệt, đánh giá các dạng ho thông qua dữ liệu được thu từ các thiết bị IoT  
của người sử dụng trên các nền tảng hiện hành đang được phát triển.  
Phát hiện ho dựa trên các cảm biến đã được nghiên cứu qua hàng chục năm  
nay để có thể đưa ra các kết quả chính xác. Tuy vậy, chỉ phát hiện cho là chưa đủ cho  
cho nhu cầu sử dụng như hiện tại, chúng ta có thể nhận dạng được các dạng ho phổ  
biến gôm 5 dạng ho xuất hiện trên người [12]. Với mỗi dạng ho, nhưng với các triệu  
chứng khác nhau lại có thể đưa ra một kết quả lâm sàng khác về bệnh của người đang  
mắc phải triệu chứng này. Vậy nên, việc có thể phân loại ho là bước đầu tiên để có  
thể phát hiện kịp thời đến các bệnh liên quan tới đường hô hấp. Để có thể xác nhận  
7
được kiểu dạng ho hay chủng loại ho thì đòi hỏi người mắc triệu chứng trên cần phải  
có sự phối hợp với bác sỹ chuyên ngành. Đối với thực trạng như hiện nay đôi khi sẽ  
có nhiều bệnh nhân khi mắc các triệu chứng về ho cũng sẽ chưa vội liên hệ với bệnh  
viện, tự đánh giá triệu chứng của bản thân và đưa ra quyết định. Đôi khi với chính  
những suy nghĩ này đã góp phần tăng thêm số lượng người nhiễm phải dịch bệnh này  
tăng cao. Hay người bệnh nhân khi đến các bệnh viện chuyên ngành lo ngại cũng có  
thể nhiễm phải dịch bệnh này kể cả không tiếp xúc trực tiếp, vậy nên xây dựng một  
hệ thống phát hiện và phân loại các dạng ho ngay trên chính các thiết bị di động là  
một việc vô cùng quan trọng và cần thiết. Chúng ta đã biết rằng nếu sử dụng các thiết  
cảm biến và biểu đồ ho theo thời gian thực của người bệnh, ta sẽ nhận biết được và  
phân loại các dạng ho này. Nhưng song song với việc này, chúng ta sẽ phải tốn nhiều  
kinh phí hơn để sử dụng các thiết bị cảm biến với số lượng lớn với lượng người nhiễm  
bệnh là quá nhiều, không những vậy các thiết bị này cũng khiến chúng ta mất nhiều  
thời gian hơn để chuẩn đoán mà còn gây ra sự khó chịu đối với các bệnh nhân (có thể  
có những người không muốn sử dụng các thiết bị này). Ngược lại đối với các thiết bị  
IoT, hay các thiết bị di động thì giờ đây là một phần gần như không thể thiếu được  
với con người hiện đại. Hiện nay, theo như một nghiên cứu đã đưa ra rằng người Việt  
Nam bỏ ra trung bình 4 tiếng mỗi ngày để sử dụng các thiết bị di động và số người  
này còn tăng lên khi thống kê với các nước đang phát triển. Chính nhờ sự thông dụng  
của các thiết bị IoT ngày càng được phát triển và nâng cấp như điện thoại thông minh,  
thiết bị đeo tay thông minh,… thì việc phát triển hệ thống hỗ trợ người mắc bệnh trên  
các thiết bị này là vô cùng tiềm năng, có khả năng sẽ đạt được hiệu suất cao với nhiệm  
vụ được đề ra ban đâu. Bằng các thiết vị IoT, chúng ta có thể thu được các dữ liệu  
thông tin về âm thanh ho, âm lượng, tần suất triệu chứng của bệnh nhân một cách thụ  
động và đưa ra được biểu đồ về dạng ho của người mắc triệu chứng này. Các nhà phát  
triển đã hướng tới việc xậy dựng các thiết bị IoT thành một hệ sinh thái chung, dễ  
dàng chia sẻ các thông tin nhận được giưa chúng qua nền tảng bảo mật cụ thể. Trung  
nghiên cứu [13] đã đề cập đến việc sử dụng thiết bị đeo tay, và điện thoại di động  
chia sẻ thông tin cho nhau có thể nhận ra những tác động của cơn ho đến với cơ thể  
8
người trong thời gian thực. Như vậy, ta có thể thấy được sự quan trọng của các thiết  
bị IoT và bằng cách sử dụng chúng ta có thể giúp nhiều người có thể phát hiện và  
phân loại ho không chỉ ở người già, trẻ em mà những người khỏe mạng cũng có thể  
nắm được tình trạng cơ thể mình và mau chóng có biện pháp phòng chống, phòng  
ngừa hiệu quả, tránh được sự lây lan đáng sợ của các dại dịch nguy hiểm liên quan  
tới được hô hấp như đại dịch COVID-19 hiện nay.  
1.3 Các dạng ho dựa trên bệnh lý con người  
Ho là một phát thở ra mạnh và đột ngột. Đó là cơ chế tự vệ sinh lý để đưa các  
dị vật được phát hiện ở phần trên của đường hô hấp có thể gây tắc thở ra phía bên  
ngoài. Ho cũng là một trong những triệu chứng của việc rối lại hệ thống tuần hoàn  
trong cơ thể.  
Người ta có thể chủ động ho, nhưng trong số đa trường hợp, ho xảy ra ngoài ý  
muốn và động tác này có tính phản xạ. Tuy nhiên, nhiều virus và vi khuẩn có thể  
truyền nhiễm từ người này sang người khác thông qua ho.Tại nghiên cứu [19], các  
nhà chuyên môn đã đưa ra được nghiên cứu cụ thể về triệu chứng này và đưa ra các  
dạng của triệu chứng ho bên cạnh đó là nguyên nhân lây nhiễm từ ho (Bảng 1.1) và  
không lây nhiễm từ ho (Bảng 1.2):  
- Ho cấp: Là tình trạng ho xảy ra đột ngột, thông thường nhất là do hít phải bụi  
hoặc chất kích thích. Ho cấp cũng có thể là do các nguyên nhân: Do nhiễm khuẩn,  
viêm họng, viêm thanh quản, viêm tai, viêm xoan, viêm phế quản, viêm phổi, tràn  
dịch màng phổi. Cũng có khi các triệu chứng ho xuất hiện trong các bệnh dị ứng tai  
mũi họng và hen. Triệu chứng ho cấp cũng có thể là do bênh gây ứ máu ở phổi như:  
Bệnh phù phổi, tim và thường gặp ở người có tiều sử mắc các bệnh tim mạch, tăng  
huyệt áp,…  
- Ho thành cơn: Ho nhiều lần liên tiếp nhau trong một thời gian ngắn, điển  
hình như là cơn ho gà; người bệnh ho liền một cơn, sau đó hít một hơi dài và tiếp tục  
ho nữa. Cơ ho kéo dài thường gây gia tăng áp lực trong lồng ngực, gây ứ huyết tĩnh  
mạch chủ trên làm cho người bệnh đỏ mặt, tĩnh mạch cổ phồng, cơn ho có thể làm  
 
9
chảy nước mắt, đôi khi còn gây ra phản xạ nôn nữa. Người bệnh có thể đau ê ẩm  
ngực, lưng và bụng do các cơ hô hấp co bóp quá mức.  
- Ho khan kéo dài: là tình trạng ho không khạc ra đờm mặc dù người bệnh có  
thể ho nhiều. Tuy nhiên, có người nuốt đờm hoặc vì không muốn khạc hay vì không  
biết khạc đờm. Ho khan kéo dài cần chú ý đến: Bệnh của thanh quản, viêm tai, viêm  
xương chũm mạn tính; Do ung thư phế quản: xảy ra ở người có thâm niên hút thuốc  
lá, thuốc lào lâu năm (trên 10 năm).  
Ho khan kéo dài còn do các bệnh tổ chức kẽ của phổi như xơ phổi, phù phổi  
bán cấp, ung thư phổi hoặc lao kê hoặc do tràn dịch mạn tính màng phổi. Ho kéo dài  
cũng có thể do một số chất độc gây kích thích trực tiếp do cơ chế miễn dịch dị ứng  
(hen). Một số trường hợp rối loạn tinh thần có biểu hiện ho nhiều, không có tổn  
thương trên đường hô hấp. Nhưng đó là những trường hợp hiếm gặp. Ho khan kéo  
dài còn do tác dụng phụ của một số thuốc, nhất là thuốc điều trị bệnh tăng huyết áp  
(coversyl).  
- Ho có đờm: Là tình trạng người bệnh bị ho và cảm thấy nặng ngực, ho thường  
khạc ra chất nhầy và đờm. Bệnh nhân có cảm giác nghẹt thở và khó thở, mệt lả. Các  
triệu chứng thường tăng lên khi đi bộ và nói chuyện. Ho có đờm đa số nguyên nhân  
là do viêm phế quản mạn tính, cũng có khi là triệu chứng ho sau khi viêm họng, viêm  
mũi và viêm xoang...  
Ở một người nghiện thuốc lào, thuốc lá lâu năm bị ho có đờm kéo dài, đồng  
thời tính chất của ho thay đổi hoặc ho ông ổng là dấu hiệu của báo động ung thư phế  
quản. Ho khạc đờm nhiều kèm theo bội nhiễm luôn phải chú ý đến ung thư họng -  
thanh quản, thực quản, khí quản...  
- Ho ra máu: Là tình trạng ho khạc thấy máu xuất hiện kèm theo. Nó có nhiều  
mức độ từ nhẹ đến nặng. Đó có thể là một dấu hiệu của các bệnh viêm phổi cấp và  
mạn tính, ung thư phổi... Ho ra máu có thể xảy ra đột ngột trong lúc người bệnh cảm  
thấy khỏe mạnh hoặc sau khi hoạt động mạnh... Thông thường, 90% trường hợp ho  
ra máu là do bệnh lao đang tiến triển (nếu kèm ho kéo dài, sốt nhẹ, sút cân thì càng  
10  
chắc chắn). Nếu ho ra máu chút ít lẫn trong đờm, tái phát một vài lần mà không có  
sốt hoặc sút cân cũng nên nghĩ đến bệnh lao.  
Inhibitors of the converting enzyme of the  
angiotensin  
Beta blockers  
Các loại thuốc  
Interferon peguilado (bronchial mod)  
Methotrexate (pneumonitis)  
Pulmonary Edema  
Bệnh tim mạch  
Pulmonary Embolism  
Dạ dày trào ngược  
Tắc, nghẹt thở do ngoại vật  
tác động  
Các loại u khối  
Hen suyễn  
Variant of the asthma with cough(a)  
Bệnh phổi tác nghẽn thâm  
niên  
Hít phải khí độc  
Dị ứng  
Gas mustard, formaldehyde  
Silicosis  
After-infectious coughAtopic  
Cough (b)Psychogenic Cough  
Hiệu ứng ho  
Bảng 1.1: Các nguyên nhân hình thành ho không do lây nhiễm  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 74 trang yennguyen 21700 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Phát hiện và phân loại âm thanh ho trên các thiết bị IoT", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_phat_hien_va_phan_loai_am_thanh_ho_tren_cac_thiet_b.pdf