Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch tỉnh Bình Định

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
LÊ THỊ TUYẾT NHUNG  
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CỤM NGÀNH  
DU LỊCH TỈNH BÌNH ĐỊNH  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016  
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
LÊ THỊ TUYẾT NHUNG  
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CỤM NGÀNH  
DU LỊCH TỈNH BÌNH ĐỊNH  
Chuyên ngành : Quản lý công  
Mã số  
: 60340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. NGUYỄN TRỌNG HOÀI  
TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi tên Lê Thị Tuyết Nhung, tác giả của luận văn tốt nghiệp cao học đề tài “  
Nâng cao năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch tỉnh Bình Định”, luận văn  
là do tác giả nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS.TS. Nguyễn Trọng  
Hoài. Các số liệu khao sat và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, do chính tác  
̉
́
giả thu thập, phân tích và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học  
nào khác.  
Tác giả xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.  
TP. Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016  
Học viên thực hiện  
Lê Thị Tuyết Nhung  
MỤC LỤC  
TRANG PHỤ BÌA  
LỜI CAM ĐOAN  
MỤC LỤC  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ  
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
PHỤ LỤC  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT  
BĐ  
CĐ  
Bình Định  
Cao đẳng  
CNCN  
DN  
Cụm ngành công nghiệp  
Doanh nghiệp  
LQ  
Thương số định vị khu vực  
(Location Quotient)  
Miền Trung-Tây Nguyên  
Năng lực cạnh tranh  
Trung cấp chuyên nghiệp  
Uỷ ban nhân dân  
MT-TN  
NLCT  
TCCN  
UBND  
VHTT&DL  
Văn hóa thể thao và du lịch  
TÓM TẮT  
̣
Mục tiêu nghiên cứu của luân văn này là xác định năng lực cạnh tranh của  
cụm ngành du lịch Bình Định. Vận dụng mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của  
Michael E. Porter để tim ra những điểm mạnh, điểm yếu về năng lực cạnh tranh của  
̀
cụm ngành du lịch Bình Định so với các địa phương lân cận (Đà Nẵng, Khánh Hòa,  
.v.v…) thuộc khu vực Duyên hải Nam trung bộ. Mẫu điều tra khảo sát 150 khách du  
lịch và phỏng vấn chuyên gia các đơn vị, sở ban cơ quan quản lý ngành và các  
doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực du lịch của tỉnh Bình Định, Đà Nẵng,  
Khánh Hòa. Dựa trên các cơ sở lý thuyết có sẵn, kết quả đã hình thành mô hình  
nghiên cứu năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch tỉnh Bình Định.  
Kết quả nghiên cứu chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu và phân tích được  
năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch tỉnh để từ đó đề ra những giải pháp  
giành cho Chính quyền và các cơ quan quản lý công của ngành du lịch và giải pháp  
cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực du lịch. Những giải pháp này không chỉ  
nâng cao năng lực cho một bộ phận/cơ quan nào trong lĩnh vực du lịch mà nâng cao  
năng lực tổng thể chung của cả cụm ngành du lịch tỉnh Bình Định.  
Tuy nhiên, đề tài cũng còn những hạn chế khách quan và chủ quan, và sẽ là  
cơ sở cho các nghiên cứu khác trong tương lai.  
 
1
CHƯƠNG 1  
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU  
1.1. Lý do chọn đề tài  
Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời  
sống văn hóa, xã hội ở các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Xét  
về mặt kinh tế, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế có nhiều lợi thế  
và khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao. Đối với một số quốc gia, du lịch là nguồn thu  
ngoại tệ quan trọng. Với một số quốc gia khác, du lịch là một trong những ngành  
kinh tế hàng đầu. Còn đối với Việt Nam thì xác định du lịch là một trong số các  
ngành kinh tế mũi nhọn cần tập trung phát triển. Đầu tư phát triển du lịch nhằm đáp  
ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của người dân trong nước cũng như  
khách du lịch nước ngoài là góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước.  
Nằm trên dải đất ven biển miền Trung, Bình Định là một trong những địa  
phương có vị trí du lịch thuận lợi và tiềm năng du lịch tương đối toàn diện về tự  
nhiên và văn hóa. Là tỉnh nằm trong vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung Việt  
Nam, trên tuyến du lịch xuyên Việt, trong không gian du lịch “Hành lang Đông –  
Tây” và là cửa ngõ của đại ngàn Tây nguyên, các tỉnh Nam Lào và Đông Bắc  
Campuchia ra biển Đông. Vì vậy Bình Định có vị trí du lịch quan trọng và thuận lợi  
để liên kết vùng phát triển du lịch.  
Với diện tích vùng lãnh hải khoảng 36.000 km2, bờ biển dài và nhiều vũng  
vịnh, bãi tắm đẹp và danh lam thắng cảnh như Quy Nhơn, Phương Mai, Tam Quan,  
Quy Hòa, Tân Phụng,...Bình Định giàu tiềm năng du lịch biển đảo, cùng với đó là  
núi non hùng vĩ ghi dấu những chiến công dựng nước và giữ nước bao đời của dân  
tộc, để lại nhiều di tích lịch sử - văn hóa có giá trị cao góp phần vào tiềm năng du  
lịch địa phương.  
Bình Định, cái nôi của thượng võ dân tộc, kiên cường hòa quyện cùng những  
loại hình dân tộc nổi tiếng như: hát tuồng, dân ca bài chòi, lễ hội cầu ngư,... thành  
     
2
một bức tranh nghệ thuật phong phú, hấp dẫn trong mỗi tác phẩm văn hóa nghệ  
thuật luôn làm hài lòng du khách đến tham quan.  
Bình Định với địa hình đa dạng ẩn trong mình ăn hóa ẩm thực hết sức phong  
phú, trở thành nét văn hóa đặc sắc rất riêng với những món ăn có thương hiệu nổi  
tiếng như: bánh ít lá gai, nem chua Chợ Huyện, bún Song Thằng, rượu Bầu đá An  
Nhơn..... Tất cả các nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn phong phú đã tạo tiền  
đề cho Bình Định có thể phát triển du lịch hội tụ đầy đủ địa hình núi, sông, biển,  
đầm, hồ, hải đảo, đồng ruộng, làng quê và lễ hội mang bản sắc Việt Nam.  
Với lợi thế đã nêu, tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XIX, Nghị  
quyết của Đại hội nêu rõ nhiệm vụ nhiệm kỳ 2015 – 2020: “Phát triển du lịch trở  
thành kinh tế quan trọng của tỉnh. Đầu tư, khai thác hiệu quả, bền vững các di tích  
lịch sử, văn hóa, cách mạng và kháng chiến, danh lam thắng cảnh… Phát triển, đa  
dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch; đẩy mạnh xúc tiến, quảng  
bá, xây dựng thương hiệu du lịch Bình Định.…”. Theo thống kê năm 2015, ngành  
du lịch Bình Định đón hơn 2,3 triệu lượt khách, tăng 20% so với năm 2014. Trong  
đó, khách du lịch quốc tế đạt hơn 200 lượt, tăng 20% so với năm 2014; khách du  
lịch nội địa hơn 2 triệu lượt, tăng 25% so với năm 2014. Doanh thu thuần túy từ  
hoạt động du lịch đạt 895 tỷ đồng, tăng 38% so với năm 2014. Những kết quả đánh  
giá thông qua các chỉ tiêu lượt khách, doanh thu và việc làm đã khẳng định vai trò  
của ngành du lịch trong nền kinh tế của tỉnh. Ngành du lịch Bình Định đã có đóng  
góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, bảo vệ  
môi trường.  
Mặc dù định hướng sẽ trở thành ngành kinh tế quan trọng với những lợi thế,  
tiềm năng đã nêu, nhưng du lịch Bình Định với thực trạng hiện tại đang bị“bỏ ngõ”,  
phát triển tự nhiên nhiều hơn phát triển theo quy hoạch. Chưa hình thành hoàn  
chỉnh một chiến lược phát triển cho tương lai dài hạn và bền vững để có thể phát  
huy những lợi thế cạnh tranh vốn có của ngành du lịch Bình Định. Do vậy, ngành  
du lịch Bình Định chưa đạt được những kết quả khả quan. Cụ thể:  
3
Lượng khách du lịch đến Bình Định trong những năm từ 2010 – 2015 đã  
tăng đáng kể, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng không ổn định qua các năm, bình quân  
tăng 22% mỗi năm. Mức tăng này đạt vào loại cao so với các tỉnh Duyên hải Nam  
Trung bộ và cả nước (Theo thống kê du lịch cả nước, các tỉnh vùng Duyên hải Nam  
Trung bộ đạt mức trung bình 17%, cả nước đạt xấp xỉ 15%).  
Doanh thu từ dịch vụ du lịch khá cao nhưng chưa cân đối trong cơ cấu nhóm  
ngành dịch vụ du lịch và không ổn định qua các năm. Trong giai đoạn 2010-2015,  
doanh thu tăng cao nhất 38% vào năm 2015, trong khi năm 2013 doanh thu chỉ tăng  
19%. Mức chi tiêu bình quân của khách du lịch khi đến Bình Định chỉ đạt mức  
trung bình từ 60 – 80 USD/khách quốc tế; 500.000 – 600.000 đồng/khách nội địa .  
Về cơ cấu nguồn thu từ các dịch vụ của ngành (lưu trú, ẩm thực, mua sắm hàng hóa,  
giải trí) thì chỉ có dịch vụ lưu trú và ẩm thực đạt tương đối tốt (lưu trú chiếm 32%,  
ăn uống chiếm 41% tổng doanh thu dịch vụ du lịch), còn dịch vụ giải trí và mua  
sắm vẫn còn hạn chế (chỉ từ 11 – 16% tổng doanh thu từ dịch vụ du lịch).  
Thêm vào đó, thời gian lưu trú của khách du lịch không cải thiện nhiều từ  
năm 2010 – 2015 chỉ tăng từ 1,5 – 2 ngày. Điều này có nghĩa là khách chỉ dừng  
chân trong khoảng thời gian ngắn hoặc chỉ ghé qua chứ không thích lưu lại lâu. Có  
thể hiểu sức hút du lịch vẫn còn hạn chế và các dịch vụ đi kèm vẫn chưa đáp ứng  
thỏa mức kỳ vọng của khách du lịch, hay sự phát triển của các dịch vụ chưa tương  
xứng với tiềm năng của ngành.  
Như vậy, mục tiêu “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của  
Tỉnh” khó khả thi nếu ngành du lịch Bình Định không trả lời được câu hỏi: Tại sao  
du lịch Bình Định chưa phát triển tương xứng với tiềm năng? Giải pháp nào cho vấn  
đề đó/giải pháp nào để nâng cao năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch Bình  
Định? Do vậy để trả lời câu hỏi này, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài “ Nâng cao  
năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch tỉnh Bình Định” để từ đó có những  
giải pháp đề xuất ngành du lịch Bình Định nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.  
4
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
Mục tiêu tổng quát  
Đề tài tập trung xác định năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch Bình  
Định. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính trên cơ sở vận dụng mô hình đánh  
giá năng lực cạnh tranh của Michael E. Porter để xác định những thế mạnh, những  
bất cập trong sự phát triển, và đề xuất định hướng, chiến lược nhằm phát triển đồng  
bộ, nâng cao năng suất của cụm ngành du lịch tỉnh Bình Định.  
Mục tiêu cụ thể  
-
Phân tích, năng lực cạnh tranh thu hút du lịch của tỉnh Bình Định so với  
các địa phương lân cận theo cụm ngành.  
-
Phân tích năng lực cạnh tranh thu hút du lịch của tỉnh Bình Định theo  
quan điểm khách du lịch và các đối tượng liên quan.  
-
Khuyến nghị một số giải pháp chính sách cho chính quyền địa phương  
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành du lịch tỉnh Bình Định.  
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu:  
Đề tài nghiên cứu các tác nhân tham gia trong cụm ngành du lịch Bình Định  
theo mô hình lý thuyết về NLCT của Michael E. Porter được chỉnh sửa bởi TS. Vũ  
Thành Tự Anh.  
Phạm vi nghiên cứu:  
Về nội dung: Phân tích năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch Bình  
Định theo mô hình của M.Porter và so sánh năng lực cạnh tranh của tỉnh với các địa  
phương lân cận.  
Về không gian: Phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn ở Bình Định và các tỉnh lân  
cận thuộc khu vực Duyên hải Nam Trung bộ (Khánh Hòa, Đà Nẵng…v.v…).  
Về thời gian: Phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung chủ yếu giai đoạn 2011-2015  
thông qua phân tích số liệu, báo cáo cho thời kỳ này.  
   
5
1.4. Phương pháp nghiên cứu  
1.4.1. Tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan  
Trong nước:  
Vào năm 2014, tác giả Võ Thị Thảo Nguyên đã thực hiện một nghiên cứu về  
nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành du lịch tỉnh Đăk Lăk. Từ việc sử dụng mô  
hình kim cương của Michale Porter, tác giả đã đánh giá được năng lực cạnh tranh  
cụm ngành du lịch của tỉnh. Cụ thể: Cụm ngành du lịch Đăk Lăk có nhiều điều kiện  
thuận lợi để tạo nên những sản phẩm đặc trưng, riêng biệt hấp dẫn du khách và nhận  
được sự đầu tư của các cấp để phát triển ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi  
nhọn của địa phương. Bên cạnh đó thông qua mô hình tác giả cũng xác định được  
những bất cập trong sự phát triển, cạnh tranh của cụm ngành du lịch tỉnh Đăk Lăk:  
(i) hoạt động kém chuyên nghiệp của thể chế, tổ chức và con người khiến cho liên  
kết thể chế hỗ trợ du lịch kém hiệu quả; (ii) yếu kém trong chất lượng nguồn nhân  
lực du lịch; (iii) khả năng thu hút dự án du lịch yếu khiến cho nguồn đầu tư vào du  
lịch hạn chế; (iv) tài nguyên văn hóa đang bị mai một nghiêm trọng. Dựa trên  
những phân tích đánh giá đó, tác giả khuyến nghị các chính sách, các định hướng  
chiến lược nhằm phát triển đồng bộ, nâng cao năng suất của cụm ngành du lịch tỉnh  
ĐăkLăk.  
Nhóm tác giả Nguyễn Thanh Liêm và Nguyễn Văn Long (2010) đã tiến hành  
nghiên cứu về phát triển cụm ngành du lịch Huế - Đà Nẵng – Quảng Nam. Nhóm  
tác giả dựa trên nghiên cứu thực chứng về cụm ngành của Porter (1990) để nghiên  
cứu. Thông qua việc phân tích định lượng xác định cụm ngành du lịch Huế - Đà  
nẵng – Quảng Nam tác giả thu được kết quả: Ba lĩnh vực kinh doanh chính trong  
ngành du lịch của vùng đang xét đều có LQ (Thương số định vị khu vực) rất cao  
điều này chỉ ra rằng cả ba lĩnh vực này có tốc độ tăng trưởng đáng kể và lớn hơn rất  
nhiều so với cùng lĩnh vực của quốc gia. Trong đó, ngành kinh doanh lữ hành có tốc  
độ phát triển cao nhất (LQ = 2,39) nhưng nói chung đây là vùng mà cần được chú ý  
vì nó sẽ mang lại những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế vùng nói riêng và  
   
6
toàn quốc nói chung. Trên cơ sở phân tích đó, tác giả tiến hành đề xuất kiến nghị  
chính sách định hướng phát triển liên kết, hợp tác cụm ngành du lịch Huế - Đà  
Nẵng – Quảng Nam để tạo ra những sản phẩm, du lịch liên hoàn, chất lượng hơn  
nhằm nâng cao sự thỏa mãn của khách hàng. Kết quả của việc liên kết cụm ngành  
không chỉ thu hút khách hàng mà còn quảng bá đất nước và con người Việt Nam  
đến với thế giới.  
Tác giả Trương Thị Ngọc Thuyên (2010) đã thu thập ý kiến của du khách  
quốc tế cho một loạt các tiêu chí, qua đó đánh giá lợi thế của du lịch Đà Lạt. Tác giả  
nhờ thế đã có một phát hiện rất chi tiết về cơ cấu, đặc điểm nguồn khách quốc tế, sở  
thích cá nhân, nhận định của họ về du lịch Đà Lạt cũng như ý kiến để Đà Lạt có thể  
phát triển tốt hơn.  
Tác giả Nguyễn Thị Thu Vân (2012) đã sử dụng mô hình của Dwyer và Kim  
(2003) nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh về du lịch của Đà Nẵng so với các thành  
phố lớn của Việt Nam. Tác giả đã rút gọn mô hình gốc và chỉ đưa vào phân tích 84  
chỉ số. Nghiên cứu đã đưa ra kết luận mặc dù Đà Nẵng có phần lớn các yếu tố đạt  
trên mức trung bình nhưng không thực sự xuất sắc. Để thực sự cạnh tranh hơn nữa,  
Đà Nẵng nên tập trung khai thác 7 yếu tố chính liên quan đến nguồn lực du lịch,  
quản lý và điều kiện về cầu.  
Ngoài nước:  
Cracolici và Nijkamp (2008) đã tập trung vào độ hài lòng của du khách, tức  
phía cầu nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh của các vùng du lịch phía Nam Italia.  
Các địa phương Nam Italia nằm trọn vẹn trong Địa Trung Hải, cũng dựa vào tài  
nguyên du lịch biển để phát triển du lịch. Cụ thể các tác giả đã điều tra du khách  
bằng bảng hỏi. Sáu yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh được khảo sát là : Tài  
nguyên tự nhiên và văn hóa, lưu trú/ăn uống, giao thông, sản phẩm du lịch, độ an  
toàn và cư dân địa phương.  
Gomezelj và Mihalic (2008) đã áp dụng mô hình của Ritchie và Crouch  
(2000) để xác định năng lực cạnh tranh của du lịch Slovenia. Các tác giả cho rằng  
Slovenia không có lợi thế cạnh tranh so với các nước láng giềng về mặt nguồn lực  
7
tự nhiên. Chính vì vậy, để cạnh tranh, Slovenia nên ưu tiên cải thiện trình độ, năng  
lực quản trị du lịch.  
Những nội dung và phương pháp trong các nghiên cứu trên rất bổ ích giúp  
tác giả có thể học hỏi, kế thừa và vận dụng những nội dung thích hợp vào nghiên  
cứu cạnh tranh cụm ngành du lịch tỉnh Bình Định. Tuy nhiên, các giải pháp, các  
chính sách đề xuất trong các nghiên cứu trên chưa thật sự khả thi, các chính sách  
này được kiến nghị mang tính khái quát, chung chung không chỉ ra được đâu là giải  
pháp đột phá cũng như nên ưu tiên thực hiện giải pháp, chính sách nào trước.  
1.4.2. Mô hình nghiên cứu (Mô hình kim cương Porter)  
Theo Porter (2008), chất lượng của môi trường kinh doanh thường được  
đánh giá qua bốn đặc tính tổng quát, bao gồm:  
i) Các điều kiện nhân tố sản xuất (đầu vào);  
ii) Các điều kiện nhu cầu;  
iii) Các ngành công nghiệp phụ trợ và có liên quan;  
iv) Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp.  
Porter (2008) mô tả bốn đặc tính này thông qua bốn góc của một hình thoi và  
được gọi là mô hình Kim cương Porter. Ngoài ra cần phải nhấn mạnh đến vai trò  
của chính quyền địa phương trong việc hoạch định và thực thi các chính sách kinh  
tế, trong việc định nhu cầu và thiết lập các tiêu chuẩn cho cạnh tranh nhằm hướng  
đến việc cải thiện năng suất. ( Hình 1.1)  
Trong bốn góc của mô hình Kim cương, nhân tố ngành công nghiệp phụ trợ  
và liên quan hay còn gọi là cụm ngành là nhân tố quan trọng trong việc quyết định  
chất lượng môi trường kinh doanh, và là tác nhân kích thích mạnh mẽ cho việc tạo  
ra và duy trì lợi thế cạnh tranh. Việc nhìn một nhóm các công ty và tổ chức như một  
cụm ngành sẽ tạo ra một diễn đàn mang tính xây dựng và hiệu quả để các công ty  
liên quan, các nhà cung ứng, chính phủ và những tổ chức quan trọng khác đối thoại  
với nhau. Cụm ngành tạo thành một mặt của hình thoi lợi thế cạnh tranh, nhưng  
 
8
đúng nhất chúng phải được xem như thể hiện các mối tương tác giữa bốn mặt với  
nhau (Porter, 2008). Cụm ngành tác động lên cạnh tranh theo ba cách khái quát:  
- Tăng năng suất của các doanh nghiệp hay ngành trong đó;  
- Tăng năng lực đổi mới của các doanh nghiệp và qua đó làm tăng năng suất;  
- Thúc đẩy việc hình thành các doanh nghiệp mới nhằm hỗ trợ sự đổi mới và  
mở rộng cụm ngành (Porter, 2008).  
Vì đề tài nghiên cứu về cụm ngành du lịch nên cơ sở lý thuyết sử dụng chủ  
yếu là mô hình kim cương. Bốn nhân tố của mô hình kim cương được tóm tắt trong  
hình sau:  
9
Chính sách và chiến lược  
phát triển du lịch tỉnh Bình  
Định  
+ Tổng quan PCI  
+ Thực trạng cạnh tranh của  
ngành du lịch tỉnh Bình Định  
Bối cảnh  
cho chiến  
lược và  
Vai trò của  
chính quyền  
địa phương  
cạnh tranh  
- Môi trường nội địa  
khuyến khích các dạng  
đầu tư và nâng cấp bền  
vững.  
Những điều  
kiện nhu  
cầu  
Những điều  
kiện nhân tố  
sản xuất (đầu  
vào)  
- Cạnh tranh quyết liệt  
giữa các công ty du  
lịch tỉnh Bình Định  
+ Số lượng khách  
trong và ngoài  
nước  
+ Các kênh tiếp  
cận thông tin du  
lịch của khách  
+ Các điểm đến  
của khách du lịch  
tại tỉnh Bình  
Định  
+ Nguồn tài nguyên  
du lịch  
+ Nguồn vốn  
Những ngành công  
nghệ phụ trợ và có  
liên quan  
+ Nguồn nhân lực  
+ Cơ sở hạ tầng  
+ Nguồn kiến thức  
+ Các thể chế hỗ trợ: cơ quan quản lý nhà  
nước, hệ thống giáo dục đào tạo, các tổ  
chức tài trợ quốc tế.  
+ Các ngành dịch vụ hỗ trợ và liên quan:  
DV lữ hành, DV ăn uống, dv lưu trú, cơ sở  
hạ tầng,…  
Hình 1.1. Mô hình năng lực cạnh tranh đề xuất phân tích cụm ngành du lịch tỉnh  
Bình Định mô phỏng theo Porter (2008)  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 96 trang yennguyen 20920 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nâng cao năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch tỉnh Bình Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nang_cao_nang_luc_canh_tranh_cua_cum_nganh_du_lich.pdf