Luận văn Nghiên cứu thành phần loài Thân mềm Chân bụng (Gastropoda) ở khu vực núi đá vôi huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI  
LUẬN VĂN THẠC SĨ  
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI THÂN MỀM CHÂN BỤNG  
(GASTROPODA) Ở KHU VỰC NÚI ĐÁ VÔI HUYỆN THANH LIÊM,  
TỈNH HÀ NAM  
VŨ NGÂN PHƯƠNG  
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG  
MÃ SỐ: 8440301  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
1. PGS.TS. ĐỖ VĂN NHƯỢNG  
2. PGS.TS. HOÀNG NGỌC KHẮC  
HÀ NỘI, NĂM 2018  
i
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI  
Cánbộ hướng dẫn chính: PGS. TS. Đỗ Văn Nhượng  
Cán bộ hướng dẫn phụ: PGS. TS. Hoàng Ngọc Khắc  
Cán bộ chấm phản biện 1: TS. Dương Tiến Đức  
Cán bộ chấm phản biện 2: PGS. TS. Đồng Thanh Hải  
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:  
HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI  
Ngày 29 tháng 09 năm 2018  
ii  
Tôi xin cam đoan  
Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung  
thực, của tôi, không vi phạm bất cứ điều gì trong luật sở hữu trí tuệ và pháp luật  
Việt Nam. Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật  
TÁC GIẢ LUẬN VĂN  
Vũ Ngân Phương  
iii  
LỜI CẢM ƠN  
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường cho đến khi hoàn  
thành luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của tập thể các thầy, cô giáo  
trong Khoa Môi trường thuộc Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội.  
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy, cô.  
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS. TS. Đỗ Văn Nhượng và  
PGS. TS. Hoàng Ngọc Khắcđã trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình giúp đỡ và  
định hướng giúp tôi hoàn thành luận văn của mình.  
Tôi xin cảm ơn người dân tại khu vực núi đá vôi huyện Thanh Liêm đã rất  
nhiệt tình giúp đỡ tôi ngoài thực địa, cung cấp những thông tin cần thiết cho tôi  
trong suốt quá trình nghiên cứu.  
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các đồng nghiệp, bạn bè, gia đình  
đã động viên, chia sẻ và tạo điều kiện tốt nhất giúp tôi hoàn thành luận văn  
của mình.  
Xin chân thành cảm ơn !  
Hà Nội, ngày 01 tháng 08 năm 2018  
Tác giả  
Vũ Ngân Phương  
 
iv  
MỤC LỤC  
v
vi  
THÔNG TIN LUẬN VĂN  
Họ và Tên:Vũ Ngân Phương  
Lớp: CH2B. MTKhóa: 2016-2018  
Cán bộ hướng dẫn:  
1. PGS. TS. Đỗ Văn Nhượng  
2. PGS. TS. Hoàng Ngọc Khắc  
Tên đề tài: Nghiên cứu thành phần loài Thân mềm Chân bụng (Gastropoda) ở khu  
vực núi đá vôi huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.  
Thông tin luận văn:  
Sau quá trình nghiên cứu thu lượm các loài Thân mềm Chân bụng ở nước và ở  
cạn thuộc vùng núi đá vôi huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam đã xác định được 66  
loài Thân mềm Chân bụng tại khu vực nghiên cứu thuộc 37 giống, 23 họ, 6 bộ, 2  
phân lớp. Mô tả đặc điểm hình thái của các loài Thân mềm Chân bụng ở cạn và ở  
nước tại khu vực nghiên cứu và đã đưa ra được sơ đồ cấu trúc thành phần loài.  
Xác định được đặc trưng phân bố về loài trong các sinh cảnh đều tuân theo quy  
luật chung: Môi trường tự nhiên đa dạng hơn so với môi trường chịu nhiều tác động  
của con người. Qua đó đề xuất các biện pháp bảo tồn, phát triển và khai thác sử  
dụng bền vững tài nguyên đa dạng sinh học loài Thân mềm Chân bụng ở khu vực  
nghiên cứu  
vii  
DANH MỤC VIẾT TẮT  
Viết tắt  
KVNC  
TMCB  
Rtn  
Nội dung diễn giải  
Khu vực nghiên cứu  
Thân mềm Chân bụng  
Rừng tự nhiên  
đtcnn &vn  
Đất trồng cây ngắn ngày và vườn nhà  
 
viii  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
 
1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Ngành thân mềm (Mollusca) là một trong những ngành lớn của giới Động vật  
(Animalia) chỉ xếp sau Chân Khớp (Arthropoda), có nhiều chủng loại rất đa dạng,  
phong phú (khoảng 130.000 loài). Khoảng 80% trong số các loài Thân mềm đã  
được biết đến là Chân bụng [1]. Đây là lớp duy nhất của ngành Thân mềm có cả đại  
diện sống ở dưới nước và trên cạn. Với sự đa dạng về số lượng loài, hình thái, phân  
bố nên Thân mềm Chân bụng có ý nghĩa quan trọng về tiến hóa – thích nghi (sống  
được cả ở trên cạn lẫn dưới nước), đa dạng sinh học, giá trị khảo cổ và thực tiễn.  
Thân mềm Chân bụng còn có thể sử dụng như một nhóm chỉ thị đa dạng sinh học  
động vật không xương sống [2].  
Thân mềm Chân bụng gắn bó mật thiết với đời sống con người, được cư dân  
nhiều nơi khai thác như một nguồn thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, được dùng làm  
thức ăn cho con người và trong chăn nuôi, nhiều loài trở thành thực phẩm đặc sản  
giàu chất dinh dưỡng như ốc núi ở Tây Ninh (Cyclophorus anamiticus, Cyclophorus  
martensianus) có hàm lượng protein lên tới 57,94% và 34,34% [3]. Trong y học cổ  
truyền từ xa xưa con người có thể sử dụng ốc sên chữa các bệnh như: hen suyễn,  
đau bụng kinh niên, thấp khớp,…Bệnh viện thần kinh Hà Nội từng dùng ốc sên chế  
thành siro, bột ốc sên, kẹo gôm sên, dùng làm thuốc bồi dưỡng cơ thể. Ngoài ra, vỏ  
nhiều loài có hình dạng, màu sắc, hoa văn và có lớp xà cừ nhẵn bong rất đẹp nên  
còn được dùng trong khảm trai, mĩ nghệ và trang sức. Bên cạnh những giá trị thực  
tiễn đem lại, Thân mềm Chân bụng còn có những loài gây hại phá hoạ cây trồng,  
mùa màng như: ốc sên (Achatina fulica), ốc bươu vàng (Pomacea canaliculata,  
Pomacea bridgesi); vật chủ trung gian truyền bệnh sán lá cho gia súc, gia cầm và cả  
con người:Lymnaea swinhoei, Lymnaea viridis, Gyranlus sinensis, Polypilis  
haemisphaerula; ốc mút (Melanoides tuberculatus) còn là vật chủ trung gian của  
sán lá phổi [4]  
   
2
Thân mềm Chân bụng được coi như là sinh vật chỉ thị cho tình trạng thay đổi  
của môi trường do có những đặc tính như ít di chuyển, số lượng cá thể của quần thể  
lớn, kích thước đa dạng, mẫn cảm với những thay đổi của môi trường. Một số loài  
hoàn toàn bị giới hạn trong khu vực đá vôi do chúng cần đá vôi để tạo vỏ, những  
loài khác có thể xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau nhưng số lượng không nhiều [2].  
Huyện Thanh Liêm là huyện phíaTây Nam của tỉnh Hà Nam, địa hình phần  
lớn là núi đá vôi thấp, có điều kiện sinh thái thuận lợi cho Thân mềm Chân bụng  
phát triển, nhất là những loài Thân mềm Chân bụng ở cạn. Tuy nhiên do việc khai  
thác khoáng sản của con người đã tác động tới môi trường, ảnh hưởng đến đa dạng  
của Thân mềm Chân bụng. Mặt khác, chưa códẫn liệu nào về Thân mềm Chân bụng  
tại khu vực này tính đến nay.Vì vậy để góp phần tìm hiểu về thành phần loài Thân  
mềm Chân bụng và đa dạng sinh học tại khu vực núi đá vôi huyện Thanh Liêm, tỉnh  
Hà Nam, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần loài Thân mềm  
Chân bụng (Gastropoda) ở khu vực núi đá vôi huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà  
Nam”.  
2.  
Mục tiêu nghiên cứu  
Xác định được thành phần loài, đặc điểm phân bố của Thân mềm Chân bụng tại  
khu vực núi đá vôi huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Đề xuất một số giải pháp bảo  
tồn, phát triển và khai thác bền vững tài nguyên đa dạng sinh học Thân mềm Chân  
bụng tại khu vực nghiên cứu.  
3.  
Nôi dung nghiên cứu  
Nội dung 1: Nghiên cứu thành phần loài, phân bố của Thân mềm Chân bụng ở  
khu vực nghiên cứu.  
Nội dung 2: Tóm tắt đặc điểm hình thái, kích thước, sinh thái của các loài Thân  
mềm Chân bụng ở khu vực nghiên cứu.  
Nội dung 3: Đề xuất một số biện pháp bảo tồn, phát triển và khai thác sử dụng  
bền vững tài nguyên đa dạng sinh học loài Thân mềm Chân bụng ở khu vực nghiên  
cứu.  
   
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
1.1 Tổng quan về Thân mềm Chân bụng (Gastropoda)  
Trong ngành Thân mềm, lớp Chân bụng (Gastropoda) là lớp phong phú nhất,  
chiếm khoảng 80% số loài Thân mềm hiện nay. Lớp này có 611 họ thuộc lớp chân  
bụng, trong đó có 202 họ đã tuyệt chủng, được tìm thấy trong các hóa thạch [5].  
a. Đặc điểm sinh học  
Thân mềm Chân bụng có vỏ cuộn xoắn nên mất đối xứng hai bên, đa số có vỏ  
cuộn xoắn để bảo vệ cơ thể, có một số nhóm mất vỏ (sên trần). Vỏ chứa toàn bộ nội  
quan theo vòng xoắn của vỏ có thể chia làm 4 phần: đầu, thân, chân và áo.  
Hình 1.1:Sơ đồ cấu tạo Thân mềm Chân bụng ở cạn  
(M. L. Coppolino, 2007)  
Đầu có miệng, bên trong có lưỡi bào, phía trên đầu có các giác quan râu và thị  
giác. Thân chứa nội quan: Tiêu hóa, tuần hoàn, sinh dục, bài tiết,…Khoang áo ở  
phía trước thân có nhiệm vụ tiết ra vỏ và giúp hô hấp (mang hay túi phổi). Chân là  
khối cơ khỏe dùng để di chuyển cơ thể.  
     
4
Phần lớn Thân mềm Chân bụng là đơn tính (tức giống đực, cái riêng rẽ) tuy  
nhiên có khá nhiều loài lưỡng tính (một cơ thể có cả cơ quan sinh dục đực và cái)  
như ở nhiều ốc cạn. Tuy lưỡng tính nhưng khi sinh sản chúng vẫn thường có giao  
phối giữa 2 cá thể, ít khi tự thụ tinh. Loài ở nước có thể đẻ trứng bám vào giá thể  
(ốc bươu vàng, ốc nhồi họ Ampullariidae) hoặc đẻ con (ốc vặn họ Viviparidae). Ốc  
ở cạn thường đẻ trứng trên mặt đất, sau đó nở ra con non.  
b. Sinh thái học  
Đặc điểm phân bố của Thân mềm Chân bụng phụ thuộc vào điều kiện sống  
như: nhiệt độ, độ ẩm, thức ăn, nguyên liệu tạo lớp vỏ,…đây là lớp duy nhất của  
ngành Thân mềm có đại diện sống ở môi trường cạn và hô hấp bằng túi phổi. Thân  
mềm Chân bụng phân bố rộng ở nhiều địa hình, môi trường khác nhau: ở biển, một  
số sống ở nước ngọt, trên cạn và một số kí sinh ngoài cơ thể động vật. Núi đá vôi có  
nhiều yếu tố thuận lợi cho Thân mềm Chân bụng ở cạn sinh sống nhất là nơi có tầng  
thảm mục dày, độ ẩm cao, có nhiều khe đá ẩm ướt. Ở môi trường nước, Thân mềm  
Chân bụng ăn thực vật, rêu, mùn bã hữu cơ. Vào mùa lạnh và khô, do môi trường  
sống không thuận lợi (nhiệt độ, độ ẩm, thức ăn,…) chúng có thời kỳ nghỉ hoạt động  
(gọi là ngủ đông), miệng vỏ được bịt kín bằng chất nhầy do chúng tiết ra [3].  
Những tác động của con người như làm nương rẫy, khu dân cư, phá rừng,  
trồng trọt, ao hồ, sông suối gần khu dân cư sinh sống,..tính đa dạng giảm rõ rệt do  
nhiều đặc tính của môi trường bị biến đổi. Chính vì vậy phân bố của Thân mềm  
Chân bụng giữa sinh cảnh tự nhiên và nhân tác có sự khác nhau rõ rệt.  
1.2 Giá trị thực tiễn của Thân mềm Chân bụng  
Giá trị thực phẩm  
Theo Lương y Vũ Quốc Trung, Hội Đông y Việt Nam, ốc đồng có chứa nhiều  
dinh dưỡng, đặc biệt là canxi. Cụ thể, trong 100g thịt ốc đồng chứa 10,7g protein;  
1,2g lipit; 3,8g cacbohydrat; 1.357mg canxi; 191mg photpho; 19,8mg sắt. Ngoài ra  
 
5
là các loại vitamin B1, B2, A…Nhiều loài trở thành thực phẩm đặc sản giàu chất  
dinh dưỡng như hai loài ốc núi ở Tây Ninh Cyclophorus anamiticus và Cyclophorus  
martensianus có hàm lượng protein lên tới 57,94% và 34,34%  
Nguyên liệu trong y học  
Trong y học cổ truyền từ xa xưa, con người có thể sử dụng ốc sên chữa các  
bệnh như: hen suyễn, đau bụng kinh niên, thấp khớp,… Dùng nhớt ốc sên để chữa  
vết cắn của côn trùng do chất này tính kiềm trung hòa acid của nọc rết làm dễ chịu,  
giảm đau nhức. Ngoài ra, nhớt ốc sên chưa những hợp chất như axit hyaluronic,  
glycoprotein, proteoglycans,.. là những thành phần dưỡng da giúp kích thích sự sản  
sinh collagen và elastin, giúp giữ ẩm và phục hồi các tế bào bị tổn thương. Dưỡng  
chất này cũng giúp bảo vệ da khỏi các nếp nhăn, mụn, mẩn đỏ, nám, bỏng, sẹo và  
mụn cóc. Vì vậy, đa phần nhớt ốc sên được sử dụng trong dòng mỹ phẩm cao cấp  
chống lão hóa.  
Nguyên liệu trong thủ công mỹ nghệ  
Vỏ nhiều loài còn có hình dạng, màu sắc, hoa văn và có lớp xà cừ nhẵn bong rất  
đẹp nên còn được dùng làm khảm trai trong mĩ nghệ và trang sức cũng như trang trí  
nội thất  
Đối với hệ sinh thái  
Ốc là nhóm ăn thực vật , chúng là thức ăn của một số loài động vật có xương  
sống, là một mắt xích của chuỗi thức ăn trên cạn. Nhóm sống ở lớp thảm mục trên  
mặt đất góp phần cải tạo đất, chất thải từ ốc góp phần tăng độ màu mỡ của đất, giúp  
quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong đất diễn ra nhanh hơn.  
Cơ sở về chỉ thị môi trường  
Môi trường và sinh vật luôn có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau.  
Những sinh vật bị các chất gây ô nhiễm hoặc các chất tự nhiên có trong môi trường  
tác động và biểu hiện của chúng sẽ chỉ thị cho bản chất và mức độ ô nhiễm tại môi  
6
trường đó thông qua những thay đổi về: thành phần loài, nhóm ưu thế trong quần xã  
sinh vật, đa dạng loài trong quần xã, sinh lý và tập tính trong các cá thể, khiếm  
khuyết về hình thái và tế bào,...Qua đó là cơ sở đánh giá nguyên nhân, dự báo diễn  
thế sinh thái và đề xuất các biện pháp duy trì cân bằng sinh thái  
Chỉ thị sinh học là sử dụng các sinh vật để quan trắc chất lượng môi trường và  
hệ sinh thái. Chúng có thể là một loài hay nhóm loài mà các chỉ số về chức năng,  
mật độ và sự tồn tại của chúng được sử dụng để xác định tính nguyên vẹn của môi  
trường và hệ sinh thái [6].  
Một trong những bước đi quan trọng coi sinh thái học là một đối tượng giám  
sát chất lượng môi trường là sử dụng sinh vật chỉ thị. Khái niệm chung về sinh vật  
chỉ thị: Sinh vật chỉ thị là những sinh vật có yêu cầu nhất định về điều kiện sinh thái  
liên quan đến nhu cầu dinh dưỡng, hàm lượng oxy, cũng như khả năng chống chịu  
hàm lượng nhất định các yếu tố độc hại trong môi trường sống . Do đó, sự hiện diện  
của chúng biểu thị điều kiện sinh thái của môi trường sống nằm trong giới hạn nhu  
cầu và khả năng chống chịu của đối tượng sinh vật đó. Sinh vật chỉ thị có thể là các  
loài (loài chỉ thị) hoặc các tập hợp loài (nhóm loài chỉ thị) [6].  
Để chọn sinh vật chỉ thị cần xác định một số tiêu chuẩn cơ bản: đã được định  
loại rõ ràng, dễ nhận dạng; dễ thu mẫu ở ngoài tự nhiên, có số lượng nhiều, kích  
thước vừa phải; có phân bố rộng; có nhiều dẫn liệu về sinh thái cá thể của đối tượng  
qua thử nghiệm sinh học; có khả năng tích tụ các chất ô nhiễm; dễ nuôi trong phòng  
thí nghiệm; ít biến dị [6].  
Thân mềm Chân bụng có thể được sử dụng như nhóm chỉ thị đa dạng sinh học  
động vật không xương sống; thân mềm Chân bụng ở cạn giúp đánh giá hiện trạng  
môi trường tại khu vực núi đá vôi nơi chúng sinh sống, do chúng chịu ảnh hưởng rõ  
rệt của các yếu tố môi trường như lớp thảm thực vật, canxi, nhiệt độ, độ ẩm; thân  
mềm chân bụng dưới nước giúp đánh giá chất lượng và hiện trạng môi trường nước  
do chúng chịu ảnh hưởng bởi độ PH, độ mặn, hệ thủy sinh,…Ngoài ra, các hoạt  
động thường ngày của con người cũng tác động trực tiếp tới chúng. Các loài chỉ thị  
sinh học như ốc sên có thể được sử dụng để biểu thị điều kiện hoặc trạng thái của  
7
môi trường nơi chúng sinh sống. Ý tưởng sử dụng ốc sên để đánh giá môi trường  
không phải là mới, nhưng có rất ít nghiên cứu thành công trong vấn đề này.  
Dallinger và cộng sự, 2001 đã nghiên cứu sự chuyển hóa chất gây ô nhiễm hữu cơ  
(thuốc trừ sâu) ở ốc sên.  
Ở Việt Nam, việc nhìn nhận môi trường dưới góc độ sinh thái học, sinh học mới  
được quan tâm và đề cập gần đây, nhưng chưa được thực hiện đồng bộ và chỉ ở  
mức định tính. Vì vậy cho tới nay, chưa có được các chỉ số sinh học riêng, phù hợp  
với đặc điểm tự nhiên của mình để đánh giá, giám sát môi trường và từ đó dự báo  
diễn thế môi trường sinh thái dưới tác động của tự nhiên và nhân tạo, đặc biệt trong  
quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng như hiện nay.  
1.3 Tình hình nghiên cứu Thân mềm Chân bụng ở Việt Nam  
Nghiên cứu về Thân mềm Chân bụng ở cạn  
Thân mềm Chân bụng ở Việt Nam được nghiên cứu có hệ thống từ đầu thế kỷ  
XIX, các dẫn liệu công bố chủ yếu do các tác giả nước ngoài đến Việt Nam hoặc do  
các sỹ quan quân đội Pháp đồn trú ở các vùng thu lượm. Dẫn liệu đầu tiên về  
TMCB tại Việt Nam là công trình về trai ốc ở Đông Dương của Souleyet trong thời  
gian từ năm 1841 -1842, trong đó đã ghi nhận một số loài ốc cạn ở miền Trung Việt  
Nam, như Streptaxis aberratus, Streptaxis deflexus… [7]. Các nghiên cứu ở Nam  
Bộ được tiến hành sau đó do Crosse và Fischer (1863, 1864), Mabille và Mesle  
(1866),… [8], [9], [10]. Các nghiên cứu ở Bắc Bộ chỉ xuất hiện nhiều trong nửa sau  
thế kỷ XIX tiêu biểu như nghiên cứu của là Dautzenberg and Hamouville (1887),  
Bavay và Dautzenberg (1899-1903),…Tổng hợp các kết quả nghiên cứu từ giữa thế  
kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX ở Việt Nam, đã phát hiện 579 loài ốc cạn, trong đó có  
118 loài Mang trước và 461 loài Có phổi.  
Có thể thấy rằng giai đoạn này rất quan trọng đã mở đầu cho nghiên cứu Thân  
mềm Chân bụng ở Việt Nam. Đặc biệt đối với Thân mềm Chân bụng trên cạn, hàng  
loạt các loài mô tả mới được công bố trên các tạp chí ở Châu Âu, định hướng cho  
 
8
các nghiên cứu sau này. Đồng thời, cũng chứng minh cho đa dạng các đơn vị phân  
loại ở các khu vực tự nhiên của Việt Nam.  
Trong thời gian từ nửa đầu thế kỉ XX đến năm 1975, do ảnh hưởng của chiến  
tranh, việc nghiên cứu ốc cạn cũng như các nhóm ốc khác ở Việt Nam và vùng  
Đông Dương hầu như ngưng lại, chỉ có một số ít khảo sát kết hợp với địa chất ở các  
đảo: Hoàng Sa, Bạch long Vĩ, và một số điểm khác ở Bắc Bộ. Cho mãi đến đầu thế  
kỷ XXI, các công trình mới được tiếp tục, tiêu biểu là công trình của Vermeulen và  
Maasen (2003) đã ghi nhận 310 loài và phân loài thuộc 77 giống, 23 họ; trong đó có  
142 loài (chiếm 46%) chưa xác định được vị trí phân loại [2].  
Đặng Ngọc Thanh (2008) tập hợp các dẫn liệu từ giữa thế kỷ XIX đến trước  
cách mạng Tháng 8 – 1945 công bố xác định được 776 loài được phát hiện trên toàn  
bộ lãnh thổ Việt Nam (bao gồm cả đất liền và cả đảo), đây là công trình đầy đủ nhất  
thành phần loài trong 2 giai đoạn trước năm 1945 và sau năm 1975 [11].  
Trên cơ sở nguồn mẫu vật được thu từ Việt Nam và kết quả các công trình  
nghiên cứu gần đây, Schileyko (2011) đã tu chỉnh và công bố danh mục gồm 477  
loài và phân loài, thuộc 96 giống, 20 họ trong phân lớp Có phổi (Pulmonata) [12].  
Đây là công trình có giá trị tổng kết đầy đủ nhất thành phần loài ốc cạn Có phổi,  
bước đầu có thể sử dụng tài liệu này cho danh lục các loài ốc Có phổi ở Việt Nam.  
Giai đoạn này, Đỗ Văn Nhượng và nhóm nghiên cứu thuộc Trung tâm nghiên  
cứu Động vật đất, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã có hàng loạt công bố phát  
hiện về thành phần loài tại một số khu vực ở Việt Nam như :  
+ Phía Bắc:36 loài ở núi Voi, An Lão (Hải Phòng) thuộc 28 giống, 14 họ  
và 4 bộ (2011) [13]; 48 loài thuộc 26 giống, 15 họ, 3 bộ ở thôn Rẫy, xã Quyết  
Thắng, Hữu Lũng (Lạng Sơn) (2011) [14]; 73 loài thu thập ở thành phố Sơn La  
thuộc 49 giống, 19 họ (2012) [15]; 54 loài và phân loài ở khu vực Tây Trang (Điện  
Biên) thuộc 35 giống, 15 họ, 3 bộ (2012) [16];62 loài ốc cạn ở khu Bảo tồn thiên  
nhiên Copia, tỉnh Sơn La thuộc 41 giống, 16 họ, 3 bộ (2013) [17]; 90 loài, thuộc 51  
giống, 20 họ ở dọc sống Đà đoạn qua Sơn La và Hòa Bình, lần đầu tiên phát hiện  
phân bố của loài Gudeodiscus multispira cho khu hệ ốc cạn Việt Nam (2014) [18]  
9
+ Miền Nam: 25 loài và phân loài ốc cạn ở các đảo huyện Kiên Hải, tỉnh  
Kiên Giang thuộc 20 giống, 12 họ, 3 bộ; bổ sung 2 loài mới gặp ở Việt Nam  
(Quirosella knudseni, Pleurodiscus balmei) [19]. Riêng ở khu vực Đông Nam Bộ,  
Đỗ Văn Nhượng và cộng sự (2012), đã tiến hành nghiên cứu và xác định được 55  
loài trong đó có 12 loài thu ở Tây Ninh [20]  
+ Một số vườn quốc gia: 44 loài và phân loài thuộc 27 giống, 14 họ, 2  
phân lớp ở xóm Dù vườn quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ [21];52 loài và phân loài  
thuộc 31 giống, 13 họ tại vườn quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc [22];49 loài và phân  
loài thuộc 34 giống, sắp xếp trong 16 họ ở khu phục hồi sinh thái phía Đông tại  
vườn quốc gia Cúc Phương [23]  
Năm 2016, luận án tiến sĩ đầu tiên ở Việt Nam về đề tài khu hệ Thân mềm  
Chân bụng ở cạn tỉnh Sơn La của Đỗ Đức Sáng đã bảo vệ thành công [24].  
Như vậy, những nghiên cứu về ốc cạn ở Việt Nam được thực hiện ở khá nhiều  
nơi: một số vùng núi phía Bắc, một phần vùng núi phía Nam và tại một số đảo.Tuy  
nhiên, cho tới nay mới chỉ có nghiên cứu của Vermeulen (2003) đề cập đến thành  
phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam nhưng chưa rõ địa điểm chính xác, đã phát hiện được 24  
loài trong đó có 2 loài chưa tìm thấy ở nơi khác [2]. Chưa có tài liệu nào nghiên cứu  
về ốc cạn ở khu vực núi đá vôi huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.  
Nghiên cứu về Thân mềm Chân bụng dưới nước  
Nghiên cứu về ốc nước ngọt của Việt Nam được tiến hành từ thế kỷ XIX, mở  
đầu là công trình của Crosse và Fisher (1863) công bố 45 loài Thân mềm nước ngọt  
Nam Việt Nam. Sau đó là các nghiên cứu của các tác giả người nước ngoài khác  
như: Morlet (1875, 1887, 1893), Brot (1887), Dautzenberg và Fischer (1905, 1906,  
1908),…Năm 1891, Fischer đã tiến hành tổng hợp lại tất cả những dẫn liệu về trai  
ốc nước ngọt, nước mặn và trên cạn trong nghiên cứu khu hệ Thân mềm vùng Đông  
Dương. Nghiên cứu đã tổng hợp được 1.129 loài thuộc 203 giống đã tìm thấy, có  
127 loài ở Việt Nam [25].  
10  
Các kết quả nghiên cứu về ốc nước ngọt ở Việt Nam từ trước 1970 đã được  
Đặng Ngọc Thanh và cộng sự tổng hợp tu chỉnh vào năm 1980 về phân loại học và  
công bố trong công trình “Định loại động vật không xương sống nước ngọt Bắc Việt  
Nam”, đã xác định 47 loài ốc nước ngọt được ghi nhận ở miền Bắc Việt Nam[26].  
Theo nhận định của Đặng Ngọc Thanh, ở thời kỳ này các nghiên cứu thống kê khá  
đầy đủ về thành phần loài trai ốc ngước ngọt ở vùng Đông Dương nói chung và  
Việt Nam nói riêng.  
Các dẫn liệu về ốc nước ngọt ở Việt Nam được tiếp tục nghiên cứu nhất là  
trong thời kỳ sau 1954 được đẩy mạnh có thể kể đến nghiên cứu của Đặng Ngọc  
Thanh và cộng sự (2004) phân tích các mẫu vặt của họ Ốc vặn thu được từ trước và  
bổ sung từ năm 1975 (chủ yếu ở phía Nam), tác giả nhận định thành phần loài của  
họ ốc này ở Việt Nam có 9 loài, thuộc 5 giống [27].  
Năm 2010-2011, Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải đã phát hiện thêm 3 loài  
ốc mới thuộc 1 giống duy nhất Stenothyra trong họ Stenothyridae và 2 loài mới  
thuộc giống Vitetricula trong họ Pomatiopsidae. Các phát hiện này đã bổ sung thêm  
thành phần loài của ốc nước ngọt Việt Nam [28], [29].  
Đỗ Văn Nhượng và cộng sự (2014), tiến hành nghiên cứu về Thân mềm Chân  
bụng ở huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội đã phát hiện được 20 loài thuộc 14 giống,  
8 họ, 2 phân lớp ốc Mang trước và ốc Có phổi, trong đó có 3 loài thuộc Danh lục đỏ  
Việt Nam và IUCN (Antimelania swinhoei, Gyraulus convexiusculus và Stenothyra  
messageri), 1 loài (Stenomelania dautzenbergiana) lần đầu phát hiện ở miền Bắc  
Việt Nam [30].  
Như vậy cho đến nay chủ yếu mới chỉ có các dẫn liệu nghiên cứu về ốc nước ngọt  
ở miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, chưa có tài liệu nghiên cứu nào về ốc nước ngọt tại  
huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Với sự tiếp cận các công cụ hiện đại như giải phẫu  
học và sinh học phân tử kết hợp với so sánh hình thái trong phân loại trai ốc thì trong  
tương lai và những kết quả nghiên cứu mới có thể làm rõ thêm nhiều vấn đề phân loại  
học, hệ thống học và nguồn gốc chủng loại của ốc nước ngọt Việt Nam.  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 134 trang yennguyen 16560 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nghiên cứu thành phần loài Thân mềm Chân bụng (Gastropoda) ở khu vực núi đá vôi huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nghien_cuu_thanh_phan_loai_than_mem_chan_bung_gastr.pdf