Luận văn Đánh giá sự hài lòng của học sinh trung học cơ sở huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đối với chất lượng dạy học theo mô hình trường học mới – VNEN

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
------------------  
NGUYỄN NGỌC TRUNG  
ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG  
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ  
HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU  
ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC  
THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI –VNEN  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018  
   
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
------------------  
NGUYỄN NGỌC TRUNG  
ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG  
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ  
HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU  
ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC  
THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI –VNEN  
Chuyên ngành:  
Quản lý công  
Mã số:  
60340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. NGUYỄN TRỌNG HOÀI  
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi và thực hiện dưới  
sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Nguyễn Trọng Hoài. Các số liệu khảo sát và kết quả  
nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ  
công trình nghiên cứu nào khác trước đây  
Tp.HCM, ngày 26 tháng 3 năm 2018  
Tác giả luận văn  
Nguyễn Ngọc Trung  
 
iii  
TÓM TẮT  
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này là Phân tích các nhân tố ảnh hưởng  
đến sự hài lòng của học sinh THCS đối với chương trình giảng dạy theo mô hình  
trường học mới VNEN từ đó những kiến nghị, giải pháp về việc áp dụng giảng dạy  
theo mô hình trường học mới VNEN ở huyện Châu Đức và ở tỉnh Bà Rịa-Vũng  
Tàu. Mẫu điều tra khảo sát của đề tài là 180 học sinh thuộc các khối lớp 8 và khối  
lớp 9 (có tối thiểu 2 năm tham gia học theo mô hình VNEN) hiện đang học tại các  
trường THCS có áp dụng mô hình giáo dục VNEN tại huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rĩa  
– Vũng Tàu.  
Kết quả nghiên cứu đã trình bày được mức độ hài lòng chung của học sinh  
đối với mô hình trường học VNEN và chỉ ra được những nguyên nhân dẫn đến mức  
độ hài lòng chưa cao từ đó đề xuất những giải pháp cụ thể đối với Chính quyền địa  
phương, đối với cơ quan quản lý giáo dục và các trường THCS có áp dụng mô hình  
VNEN tại đơn vị mình. Những giải pháp này giúp nâng cao chất lượng và mức độ  
hài lòng của học sinh và các đối tượng liên quan (giáo viên; phụ huynh) khi triển  
khai tiếp mô hình trường học VNEN này trong tương lai tại huyện Châu Đức, tỉnh  
Bà Rịa -Vũng Tàu.  
Tuy vậy, đề tài cũng tồn tại những hạn chế khách quan và chủ quan và sẽ là  
tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo.  
 
iv  
MỤC LỤC  
 
v
vii  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
Nội dung  
Stt Chữ viết tắt  
Tp  
Ý nghĩa  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Thành Phố  
Tp.HCM  
GS.TS  
Thành phố Hồ Chí Minh  
Giáo sư Tiến sĩ  
UB  
Uỷ Ban  
NQ/TW  
HĐND  
GDĐT  
EN  
Nghị quyết Trung Ương  
Hội đồng Nhân dân  
Giáo dục đào tạo  
Escuela Nueva  
Trường học kiểu mới  
VNEN  
Viet Nam Escuela Nueva  
Mô hình trường học mới  
General Agreement on Trade Hiệp định chung về  
10  
GATS  
in Services  
Thương mại Dịch vụ  
11  
12  
THCS  
Trung học cơ sở  
BR - VT  
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu  
Phần mềm xử lý dữ liệu  
thống kê  
13  
14  
15  
SPSS  
EFA  
Phương pháp phân tích  
nhân tố khám phá  
Tổ chức thương mại thế  
giới  
Exploratory Factor Analysis  
World Trade Organization  
WTO  
 
viii  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
   
1
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU  
1. 1 Đặt vấn đề  
Trong xã hội phong kiến, mặc dù không trực tiếp tham gia vào hoạt động sản  
xuất và tạo ra của cải nhưng Sĩ (ý nói những người trí thức) được xếp ở thứ hạng  
cao nhất trong nhóm tứ dân (Sĩ, Nông, Công, Thương) điều này cho thấy tư tưởng  
trọng Nho giáo của người Việt trong xã hội phong kiến ngày xưa, đồng thời cho  
thấy người Việt ta từ xưa đã có truyền thống coi trọng việc học hành, khoa cử.  
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm việc mở mang dân trí, chăm  
lo cho sự nghiệp giáo dục. Người đánh giá rất cao vai trò của giáo dục đối với sự  
hưng thịnh của đất nước, với nhiệm vụ cực kỳ trọng đại là nâng cao dân đức, mở  
mang dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, là động lực của sự phát triển,  
đưa nước nhà tiến tới giàu mạnh, dân chủ, văn minh, sánh vai với các cường quốc  
năm châu.  
Thông qua giáo dục, mỗi cá nhân được bồi tụ thêm các kiến thức, nhận biết và  
phát triển tiềm năng của mình từ đó góp phần mang đến nhiều lợi ích hơn cho cộng  
đồng, xã hội, chính vì thế, làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục luôn là mối  
quan tâm một cách đặc biệt không chỉ riêng ở Việt Nam. Ở một số quốc gia trên thế  
giới, giáo dục thậm chí còn được coi là một quyền cơ bản và tất yếu của người dân.  
Tại Việt Nam sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội đang bước vào giai đoạn mới đầy  
khởi sắc điều đó đòi hỏi giáo dục phải đổi mới để đáp ứng các yêu cầu, sự vận động  
và phát triển của xã hội. Do đó, có thể nhận thấy rằng, giáo dục Việt Nam đang có  
những bước chuyển mình từ hình thức hành chánh sự nghiệp sang các hình thái  
khác được gọi chung là mô hình “dịch vụ giáo dục”  
Trước bối cảnh trên, ngày 4 tháng 11 năm 2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú  
Trọng đã ký ban hành nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương  
khóa XI (nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào  
tạo trong đó nhấn mạnh các mục tiêu cụ thể là “Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo  
dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, trong đó chiến lược phát triển  
   
2
kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 của Việt Nam đã xác định: Tập trung đổi mới  
căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân  
lực với phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ”.  
Việc đổi mới công tác quản lý giáo dục, đổi mới phương pháp giảng dạy ở  
các bậc học trên nền tảng tiếp thu, vận dụng các mô hình giáo dục tiên tiến đã và  
đang được các địa phương trên toàn quốc nói chung và huyện Châu Đức - tỉnh Bà  
Rịa áp dụng theo Mô Hình Trường Học Mới – VNEN (sau đây gọi tắt là VNEN).  
Mô hình VNEN được xây dựng trên nền tảng của mô hình trường học mới EN  
(Escuela Nueva) do bà Vicky Colbert sáng lập năm 2000 và đã được áp dụng thành  
công tại Colombia trong quá trình nâng cao chất lượng giáo dục tại đất nước này.  
Mô hình VNEN chính thức được triển khai từ tháng 1 năm 2013 được tổ  
chức hợp tác giáo dục toàn cầu tài trợ, ủy thác qua Ngân hàng Thế giới phối hợp với  
Bộ giáo dục đào tạo triển khai thí điểm cho 1.447 trường tiểu học của 63 tỉnh, thành  
phố. Sau ba năm triển khai mô hình trường học mới ở bậc Tiểu học đã mang lại một  
số điểm tích cực như: Tạo được môi trường giáo dục thân thiện, tạo điều kiện phát  
huy dân chủ trong học tập; Học sinh bước đầu có ý thức tự quản, tự giác trong học  
tập; hình thành thói quen làm việc theo nhóm, mạnh dạng trong giao tiếp và phản  
biện; tăng cường mối liên hệ giữa nhà trường với gia đình và xã hội; Việc tổ chức  
dạy học theo mô hình trường học mới đã mang lại không khí vui tươi, phấn khởi  
cho học sinh; Các em tiếp thu bài mới một cách chủ động, khả năng trao đổi, tranh  
luận, phản biện dần được hình thành, tăng cường mối liên hệ giữa học sinh với học  
sinh, học sinh với giáo viên, nhà trường với phụ huynh học sinh và cộng đồng.  
Tuy nhiên, khi Bộ Giáo dục nhân rộng mô hình trường học mới VNEN lên  
bậc học Trung học cơ sở (THCS), ngay lập tức gặp phải những trở ngại ngay chính  
các địa phương trước đó đã thực hiện thí điểm ở bậc Tiểu học. Nhiều phụ huynh  
bày tỏ sự chống đối do lo ngại con mình không hiểu bài, không nắm được kiến thức  
cần thiết để vượt qua các kỳ thi; Nhiều giáo viên THCS vì nhiều lý do cũng bày tỏ  
quan điểm không ủng hộ việc áp dụng mô hình VNEN. Ở một số nơi, đã có ý kiến  
phản đối và đề nghị dừng thực hiện VNEN như ở Hà tỉnh, Hà Giang, Đăk-Lăk, Hà  
3
Giang, Hòa Bình, Khánh Hòa…; Tại thành phố Vũng Tàu, Ban chấp hành Đảng bộ  
đã thống nhất Quyết nghị chưa triển khai thực hiện mở rộng mô hình VNEN trên  
địa bàn thành phố và kiến nghị Hội đồng nhân dân tỉnh tạm dừng triển khai để đánh  
giá lại kết quả thực hiện do còn nhiều phụ huynh không an tâm và phản đối. Tình  
hình phản đối cũng diễn ra tại các địa phương khác trong tỉnh như TP Bà Rịa, huyện  
Đất Đỏ, huyên Tân Thành, Xuyên Mộc… Trong tỉnh có ở huyện Châu Đức ít gặp  
trở ngại nhất và là địa phương duy nhất vẫn tiếp tục triển khai mô hình trường học  
mới VNEN cho 100% trường THCS trên toàn huyện.  
Trước tình hình đó, HĐND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã chất vấn Sở Giáo dục về  
việc “Có nên tiếp tục áp dụng mô hình này tại địa phương không?” song câu trả lời  
là chưa cụ thể vì từ khi triển khai đến nay Sở Giáo dục tỉnh chưa có bất cứ một công  
trình nghiên cứu khoa học nào để đánh giá việc áp dụng mô hình trên cũng như làm  
cơ sở cho các quyết định phù hợp theo yêu cầu của HĐND tỉnh.  
Từ những lí do thực tiễn trên, tác giả quyết định tiến hành thực hiện đề tài “Đánh  
giá sự hài lòng của học sinh THCS ở huyện Châu Đức tỉnh Bà Ria-Vũng Tàu cho  
việc dạy học theo mô hình VNEN" với mong muốn góp phần giúp sở Giáo dục đào  
tạo (GDĐT) có căn cứ khoa học tin cậy để tham mưu cho lãnh đạo UBND tỉnh trả  
lời trước HĐND tỉnh về việc triển khai hay không triển khai mô hình trường học  
mới ở các địa phương trong tỉnh trong những năm học tới, đồng thời giúp các bên  
liên quan có cái nhìn toàn diện về vấn đề này để đưa ra những giải pháp nhằm nâng  
cao sự hài lòng của người dân đối với vấn đề nêu.  
1. 2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu  
Đề tài nghiên cứu nhằm thực hiện các mục tiêu sau:  
1. Đánh giá mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của  
học sinh THCS đối với chương trình giảng dạy theo mô hình trường học mới  
VNEN ở huyện Châu Đức.  
2. Đề xuất những kiến nghị, giải pháp về việc áp dụng giảng dạy theo mô hình  
trường học mới VNEN ở huyện Châu Đức và ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.  
 
4
Để đạt được các mục tiêu đã nêu trên, đề tài cần trả lời được các câu hỏi nghiên cứu  
cụ thể gồm:  
1. Thực trạng sự hài lòng của học sinh THCS đối với chương trình giảng dạy  
theo mô hình trường học mới VNEN ở huyện Châu Đức là như thế nào?  
Mức độ hài lòng của học sinh đối với chương trình giảng dạy theo mô hình  
trường học mới hiện nay ra sao?  
2. Mô hình trường học mới VNEN có mang lại hiệu quả như kỳ vọng của các  
nhà quản lý giáo dục không? Những kiến nghị, giải pháp của tác giả để việc  
áp dụng giảng dạy theo mô hình trường học mới VNEN ở huyện Châu Đức  
và ở tỉnh Bà Ria-Vũng Tàu đạt hiệu quả cao nhất?  
1. 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
▪ Đối tượng nghiên cứu: Sự hài lòng của học sinh đối với chương trình  
giảng dạy theo mô hình trường học mới VNEN ở huyện Châu Đức, tỉnh  
Bà Rịa – Vũng Tàu.  
▪ Phạm vi nghiên cứu: lựa chọn thực hiện nghiên cứu ở 18 trường THCS  
công lập với hơn 10.000 học sinh tại Châu Đức.  
▪ Đối tượng điều tra: học sinh đang theo học mô hình trường học mới  
VNEN ở 18 trường THCS công lập nêu trên.  
▪ Nội dung đề tài: Tập trung nghiên cứu sự hài lòng đối với chương trình  
giáo dục theo mô hình trường học mới VNEN nhìn từ góc độ của học  
sinh.  
▪ Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 07 năm 2017 đến tháng 11 năm 2017.  
1. 4 Phương pháp nghiên cứu  
Để trả lời được những câu hỏi nghiên cứu, đề tài được thực hiện qua hai giai  
đoạn nghiên cứu cụ thể như sau:  
Giai đoạn nghiên cứu khám phá: Kỹ thuật thảo luận nhóm được sử dụng trong  
nghiên cứu này đối với nhóm đối tượng khảo sát là học sinh các trường THCS, thầy  
cô quản lý và các giáo viên có kinh nghiệm thực tế đã triển khai, giảng dạy theo mô  
   
5
hình trường học mới để hoàn thiện bảng câu hỏi khảo sát. Bảng câu hỏi khảo sát  
được hình thành theo cách: Bảng câu hỏi nguyên gốc -> Thảo luận nhóm (chuyên  
gia và hoc sinh) -> Điều chỉnh -> Bảng câu hỏi khảo sát.  
Nghiên cứu chính thức: thực hiện thông qua phương pháp nghiên cứu định  
lượng với kỹ thuật thu thập dữ liệu bằng phỏng vấn trực tiếp với bảng câu hỏi khảo  
sát cho các học sinh đã học theo mô hình trường học mới từ hai năm trở lên tại các  
trường THCS tại huyện Châu Đức tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (18 trường). Mẫu được  
chọn theo phương pháp ngẫu nhiên với kích thước mẫu là 180 học sinh.  
Phương pháp xử lý dữ liệu: dữ liệu thu thập về sẽ được xử lý trên phần mềm  
SPSS. Sử dụng phương pháp phân tích độ tin cậy (Cronbach’s Alpha) và phân tích  
nhân tố EFA để kiểm định mức độ tin cậy của thang đo và sự hội tụ của các biến.  
Ngoài ra, sử dụng các thống kê mô tả để đo lường các thành phần thang đo, các  
thông tin như: độ tuổi, giới tính, lớp học của đối tượng khảo sát.  
Phương pháp thu thập dữ liệu: thông tin thứ cấp: thu thập thông tin qua báo cáo  
ngành giáo dục đào tạo tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và huyện Châu Đức: Thông tin sơ  
cấp: phỏng vấn trực tiếp học sinh đã tham gia chương VNEN từ hai năm trở lên.  
1. 5 Bố cục luận văn  
Luận văn được trình bày gồm năm chương, ở Chương Một tác giả giới thiệu đề  
tài nghiên cứu, bối cảnh và nhu cầu cấp thiết từ đó quyết định chọn đề tài này cũng  
như xác đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu.  
Trong chương Hai, tác giả hệ thống hoá những nội dung để người xem hiểu  
được khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu mà tác giả nghiên cứu và đề xuất áp  
dụng. Trong chương này, tác giả cũng đề cập đến các nghiên cứu trước đây và phân  
tích những điểm mạnh, hạn chế để từ đó kế thừa và phát huy điểm mạnh cũng như  
giảm thiểu các hạn chế của mô hình nghiên cứu khi ứng dụng vào đề tài của mình.  
Trong chương Ba, tác giả trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu và xây  
dựng quy trình nghiên cứu được áp dụng trong đề tài để người xem hình dung được  
quá trình thực hiện nghiên cứu sẽ như thế nào và các bước tiến hành ra sao.  
 
6
Chương Bốn, tác giả trình bày và phân tích các kết quả nghiên cứu thực tiễn  
theo các mục tiêu và phương pháp nghiên cứu đã được trình bày trong chương Ba.  
Ở Chương Năm, tác giả trình bày những nhận định của mình từ kết quả nghiên  
cứu đồng thời đề xuất những khuyến nghị cụ thể cho từng vấn đề cần cải tiến để  
nâng cao mức độ hài lòng của học sinh đối với mô hình VNEN. Đồng thời tác giả  
cũng có những khuyến nghị các giải pháp để mô hình VNEN được triển khai thành  
công hơn trong tương lai và mở ra các hướng nghiên cứu tiếp theo.  
7
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU  
Trong chương này, tác giả trình bày những nội dung lý thuyết được áp dụng  
trong luận văn gồm: Những khái niệm về hoạt động giảng dạy, trong đó nêu rõ các  
quan niệm về dạy và học, các nguyên tắc của hoạt động giảng dạy, hình thức dịch  
vụ phục vụ quá trình giáo dục đào tạo, các đặc điểm của giáo dục Trung học cơ sở.  
Vì đối tượng nghiên cứu là mô hình giáo dục VNEN tại các trường THCS ở huyện  
Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên tác giả trình bày các đặc điểm của các  
trường THCS tại huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Các đặc điểm mô hình  
giáo dục VNEN; Khái niệm về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng. Bên cạnh đó, tác  
giả cũng sẽ trình bày các mô hình nghiên cứu, thang đo chất lượng dịch vụ theo các  
quan điểm của Parasuraman, SERVPERF, HEdPERF. Các nghiên cứu trước về sự  
hài lòng trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo làm nền tảng cho việc đề xuất khung  
nghiên cứu phù hợp với đề tài mà tác giả chọn thực hiện luận văn.  
2. 1 Các khái niệm  
2.1.1 Hoạt động giảng dạy  
2.1.1.1 Các quan niệm về dạy học  
Theo Giáo sư Vũ Văn Tảo và cộng sự (2000), có ba cách tiếp cận cơ bản của khái  
niệm học mà không bó hẹp ở trường, lớp:  
1. Coi học là quá trình làm biến đổi hành vi từ kinh nghiệm hay từ sự tiếp xúc  
với môi trường sống (không chỉ môi trường nhà trường) của chủ thể.  
2. Coi học là quá trình tích hợp, đồng hóa, điều ứng, nhập nội những dữ liệu  
mới làm biến đổi nhận thức nội tại hiện có của chủ thể.  
3. Coi học là tự tạo khả năng xác định vấn đề cần giải quyết, thu nhận, xử lý  
thông tin và ứng dụng chúng.  
4. Tương ứng có hai cách tiếp cận của việc dạy:  
     
8
Coi dạy là quá trình truyền đạt nội dung dạy học một chiều từ thầy  
đến trò và có thể coi đây là cách tiếp cận truyền thống  
Coi dạy là sự hợp tác hai chiều, trong đó dạy là quá trình hỗ trợ việc  
học, tạo điều kiện cho người học chủ động tìm kiếm và xử lý thông  
tin, người dạy đóng vai trò cố vấn.1  
Trên cơ sở các quan niệm đó có thể rút ra kết luận: học có hai chức năng kép là  
thu nhận thông tin và tự điều khiển quá trình nhận thức của người học, còn dạy  
cũng có hai chức năng kép đó là truyền đạt thông tin và điều khiển quá trình nhận  
thức của người học.  
Sự tương tác của các chức năng này sẽ làm xuất hiện khái niệm dạy học: “Dạy  
học là hai mặt của một quá trình luôn tác động qua lại, bổ sung cho nhau, quy định  
lẫn nhau, thâm nhập vào nhau thông qua hoạt động cộng tác nhằm tạo cho người  
học khả năng phát triên trí tuệ, góp phần hoàn thiện nhân cách. Sự thống nhất giữa  
dạy và học là quy luật của quá trình dạy học”.  
2.1.1.2 Nguyên tắc của hoạt động giảng dạy  
Nguyên tắc bảo đảm sự thống nhất giữa tính khoa học, tính giáo dục và tính  
hướng nghiệp trong quá trình dạy học  
Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn,  
giữa cụ thể và trừu tượng, giữa cá nhân và tập thể, học đi đôi với hành.  
Nguyên tắc đảm bảo tính sư phạm, sự thống nhất giữa dạy và học, tính tích  
cực, tự giác của người học và tính phát triển.  
1
Vũ Văn Tảo & cộng sự (2000), Giáo dục hướng vào thế kỉ 21, NXB Đà Nẵng  
9
2.1.1.3 Hoạt động giảng dạy - Hình thức dịch vụ phục vụ quá trình giáo dục đào  
tạo  
Theo từ điển tiếng Việt, dịch vụ có nghĩa là các công việc phục vụ trực tiếp  
cho những nhu cầu nhất định của một cá nhân hoặc số đông những người có nhu  
cầu, và được trả công.  
Theo Zeithaml& Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách  
thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm  
thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.2  
Theo Kotler& Amstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà  
doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng  
những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng.3  
Tóm lại, có nhiều khái niệm khác nhau nhưng nhìn chung có thể thấy rằng,  
dịch vụ là những hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của cá nhân  
hoặc nhóm người và dịch vụ không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể nào giống như  
hàng hóa nhưng nó lại phục vụ trực tiếp cho các nhu cầu của xã hội.  
Theo WTO, giáo dục được xem là một trong 12 ngành dịch vụ thương mại  
với các cam kết về GATS (hiệp định chung về thương mại dịch vụ: General  
Agreement on Trade in Services, là một Hiệp định thuộc hệ thống WTO, ra đời năm  
1995, quy định các nguyên tắc về thương mại dịch vụ áp dụng bắt buộc đối với tất  
cả các nước Thành viên WTO) trong lĩnh vực giáo dục đại học. Dịch vụ giáo dục  
được cung ứng cho khách hàng là sinh viên thông qua hoạt động giảng dạy nhằm  
đáp ứng nhu cầu về tri thức, kĩ năng và thái độ. Trong đó, giảng dạy bao giờ cũng là  
một hệ thống toàn vẹn. Tính toàn vẹn của quá trình giảng dạy biểu hiện ở sự thống  
nhất hai mặt của các chức năng của hoạt động dạy và của hoạt động học. Hiệu quả  
của quá trình giảng dạy phụ thuộc vào các yếu tố và sự tương tác tương hỗ giữa  
2Zeithaml, V. A. & M. J Britner (2000), Services marketing: Intergrating Customer Focus Across the Firm,  
Irwin McGraw- Hill  
3Kotler, P & Amstrong. G (2004), Những nguyên lý tiếp thị tập 2, NXB  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 105 trang yennguyen 16541 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Đánh giá sự hài lòng của học sinh trung học cơ sở huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đối với chất lượng dạy học theo mô hình trường học mới – VNEN", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_danh_gia_su_hai_long_cua_hoc_sinh_trung_hoc_co_so_h.pdf