Luận văn Các yếu tố tác động đến sự gắn kết với tổ chức của công chức cấp cơ sở tại thành phố Bến Tre

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
------------------  
VÕ THỊ NGỌC THANH  
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ GẮN KẾT VỚI TỔ CHỨC  
CỦA CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ BẾN TRE  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2017  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH  
------------------  
VÕ THỊ NGỌC THANH  
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ GẮN KẾT VỚI TỔ CHỨC  
CỦA CÔNG CHỨC CẤP CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ BẾN TRE  
Chuyên ngành: Quản lý công  
Mã số:  
60340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐINH CÔNG KHẢI  
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2017  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đề tài này là công trình nghiên cứu của bản thân tôi và chƣa  
đƣợc công bố trên bất kỳ phƣơng tiện thông tin nào. Mọi sự giúp đỡ để hoàn thành  
đề tài nghiên cứu này đã đƣợc cảm ơn đầy đủ, các thông tin trích dẫn trong đề tài  
nghiên cứu này đều đã đƣợc chỉ r  nguồn gốc.  
TP. Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2017  
Tác giả  
Võ Thị Ngọc Thanh  
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn TS. Đinh Công Khải  
đã tận tình hƣớng dẫn, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình làm đề tài;  
Ngoài ra, tôi xin chân thành cảm ơn Trƣờng Đại học Kinh tế TP.HCM, Viện  
đào tạo Sau đại học và toàn thể Quý Thầy cô của Khoa Quản lý Nhà nƣớc và Quý  
Thầy cô các khoa khác đã tham gia giảng dạy trong chƣơng trình Cao học Quản lý  
Công đã trang bị những kiến thức bổ ích cho tôi trong suốt 02 năm học tập tại UEH.  
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè lớp Cao học Quản lý Công –  
Khóa 1, cảm ơn tất cả các đồng nghiệp tại cơ quan cũng nhƣ trên địa bàn thành phố  
Bến Tre đã hỗ trợ tôi hoàn thành đề tài này.  
Và sau cùng, tôi xin chân thành cảm ơn Gia đình luôn là chỗ dựa động viên,  
giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.  
Trân trọng cảm ơn!  
Tác giả luận văn  
Võ Thị Ngọc Thanh  
iii  
MỤC LỤC  
TRANG PHỤ BÌA  
LỜI CAM ĐOAN  
MỤC LỤC  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
DANH MỤC HÌNH VẼ  
TÓM TẮT  
iv  
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................ 47  
PHỤ LỤC ....................................................................................................................... 53  
v
DANH MỤC CÁC BẢNG  
Bảng 2.1 Tổng hợp cơ sở lý thuyết mô hình đề xuất..............................................19  
Bảng 4.2 Kiểm tra độ tin cậy thang đo nhóm tính chất công việc .........................31  
Bảng 4.3 Kiểm tra độ tin cậy thang đo nhóm sự tự chủ ........................................31  
Bảng 4.4 Kiểm tra độ tin cậy thang đo nhóm môi trƣờng làm việc .......................31  
Bảng 4.5 Kiểm tra độ tin cậy thang đo nhóm thăng tiến, phát triển bản thân ........32  
Bảng 4.6 Kiểm tra độ tin cậy thang đo nhóm đánh giá kết quả .............................32  
Bảng 4.7 Kiểm tra độ tin cậy thang đo nhóm vai trò của ngƣời quản lý ...............32  
Bảng 4.8 Kiểm tra độ tin cậy thang đo nhóm động lực .........................................33  
Bảng 4.9 Kết quả xếp hạng 13 yếu tố có chỉ số RII thấp nhất ...............................33  
Bảng 4.10 Nhóm yếu liên quan đến đánh giá kết quả công việc có RII thấp ........35  
Bảng 4.11 Nhóm yếu liên quan đến cơ hội thăng tiến, phát triển nghề nghiệp có RII  
thấp .........................................................................................................................36  
Bảng 4.12 Nhóm yếu liên quan vai trò của ngƣời lãnh đạo, quản lý có RII thấp ..37  
Bảng 4.13 Kết quả tƣơng quan Pearson giữa các nhóm nhân tố liên quan đến động  
lực làm việc ............................................................................................................38  
Bảng 4.14 Kết quả chạy hồi quy đa biến các yếu tố tác động lên động lực làm việc  
.................................................................................................................................38  
Bảng 4.15 Kết quả tƣơng quan Peason giữa động lự làm việc và sự gắn kết với tổ  
chức ........................................................................................................................42  
vi  
DANH MỤC HÌNH VẼ  
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất ....................................................................17  
Hình 3.1 Sơ đồ các bƣớc triển khai nghiên cứu .....................................................20  
Hình 4.1 Số đối tƣợng tham gia trả lời phân theo vị trí công tác ...........................25  
Hình 4.2 Số đối tƣợng tham gia trả lời phân theo độ tuổi ......................................26  
Hình 4.3 Số đối tƣợng tham gia trả lời phân theo kinh nghiệp công tác ...............27  
Hình 4.4 Số đối tƣợng tham gia trả lời phân theo đơn vị công tác cũ ...................28  
Hình 4.5 Số đối tƣợng tham gia trả lời phân theo thu nhập/tháng......................... 30  
Hình 4.6 Kết quả khảo sát về nhu cầu thay đổi công việc trong tổ chức ...............40  
Hình 4.7 Kết quả khảo sát về đánh giá hệ thống ghi nhận của tổ chức .................40  
Hình 4.8 Kết quả khảo sát về vai trò của ổn định cuộc sống so với cống hiến .....41  
vii  
TÓM TẮT  
Đề tài nghiên cứu tác động của các yếu tố lên sự gắn kết với tổ chức của  
công chức chính quyền cấp cơ sở (cấp phƣờng, xã) tại thành phố Bến Tre áp dụng  
phƣơng pháp bảng hỏi khảo sát, kết hợp phỏng vấn sâu chuyên gia và đƣợc kiểm  
định bằng kết quả chạy tƣơng quan Pearson cũng nhƣ hồi quy đa biến để khẳng  
định mối quan hệ.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy 05 nhóm yếu tố tác động đến động lực làm việc  
của công chức chính quyền cấp cơ sở tại thành phố Bến Tre, qua đó tác động đến sự  
gắn kết với tổ chức bao gồm: tính chất công việc đƣợc phân công; sự tự chủ trong  
công việc; môi trƣờng hỗ trợ, chia sẽ, an toàn; cơ hội thăng tiến, phát triển nghề  
nghiệp; hệ thống đánh giá kết quả công việc và vài trò hỗ trợ, chia sẽ, truyền đạt của  
ngƣời lãnh đạo, quản lý.  
Kết quả phân tích chỉ số mức độ quan trọng cho thấy, yếu tố về hệ thống  
đánh giá, cơ hội thăng tiến và vai trò của ngƣời lãnh đạo, quản lý đóng vai trò quyết  
định đến động lực của ngƣời công chức. Tuy nhiên, kết quả hồi quy cho thấy với dữ  
liệu thu thập thì chỉ có 02 trong 06 yếu tố xem xét là tác động có ý nghĩa bao gồm  
tính chất công việc và vai trò của ngƣời quản lý.  
Giải pháp trong ngắn hạn để nâng cao động lực và sự gắn kết với tổ chức là  
tập trung nâng cao vài trò của ngƣời lãnh đạo, quản lý. Sắp xếp và cấu trúc lại bộ máy  
làm việc cấp cơ sở nhằm giảm thiểu tình trạng phân công nhiệm vụ trái chuyên môn  
và kiêm nhiệm quá nhiều công việc. Môi trƣờng làm việc và các trang thiết bị quan  
trọng cũng cần đƣợc quan tâm nhằm tăng cƣờng hiệu quả giải quyết công việc.  
1
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU  
1.1. Đặt vấn đề  
Chính quyền cấp cơ sở (gồm cấp Phƣờng, xã) là cấp chính quyền có số lƣợng  
đông và đa dạng nhất ở Việt Nam với tổng cộng 11.162 đơn vị. Trong đó, chính  
quyền cấp phƣờng, xã chiếm khoảng 80%. Đây là cầu nối giữa nhà nƣớc và các tổ  
chức, cá nhân trên địa bàn, đại diện cho nhà nƣớc trong việc thực hiện nhiệm vụ quản  
lý các vấn đề kinh tế, xã hội, là đơn vị trực tiếp triển khai các chủ trƣơng, chính sách  
đến ngƣời dân, và lắng nghe trực tiếp tiếng nói, phản ánh của các tổ chức, cá nhân  
trên địa bàn về tất cả các vấn đề kinh tế, xã hội,… Một chƣơng trình, chính sách đƣợc  
ban hành dù có tốt nhƣng nếu công tác triển khai đến ngƣời dân không đƣợc thực  
hiện tốt (triển khai không đúng, ngƣời dân không tiếp cận đƣợc chủ trƣơng, chính  
sách, nhũng nhiễu,…) thì kết quả và mục tiêu của chƣơng trình, chính sách cũng  
không đạt đƣợc. Hay ở chiều ngƣợc lại, tiếng nói và phản ảnh của các tổ chức, ngƣời  
dân trên địa bàn không đƣợc ghi nhận đầy đủ và chuyển tiếp đến các cấp chính quyền  
cao hơn thì các chƣơng trình, chính sách ban hành có thể không sát với nhu cầu và  
nguyện vọng của ngƣời dân. Điều đó cho thấy, hiệu quả hoạt động của chính quyền  
cấp cơ sở là rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nƣớc.  
Thực tiễn cho thấy, mặc dù đóng vai trò quan trọng nhƣng kết quả hoạt động  
của cấp chính quyền cơ sở trong thời gian qua là không nhƣ kỳ vọng. Ví dụ nhƣ kết  
quả điều tra về xã hội học cho thấy tỷ lệ số chính quyền cơ sở đƣợc đánh giá là thực  
hiện tốt nhiệm vụ quản lý các vấn đề kinh tế xã hội trên địa bàn là rất thấp (dƣới  
50%), cụ thể: xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển trên địa bàn (48,6%); cung  
ứng các dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa (48,2%); tạo điều kiện cho ngƣời dân tham  
gia giải quyết các vấn đề xã hội (46,7%); xử lý kịp thời các vấn đề xã hội  
(44,8%).1Có nhiều nguyên nhân đƣợc đƣa ra để lý giải cho kết quả trên nhƣ: tổ chức  
1 Nguyễn Thị Phƣơng (2016), Vai trò của chính quyền xã đối với quản lý phát triển xã hội, Tạp chí tổ chức  
nhà nƣớc. Truy cập tại địa chỉ:  
   
2
bộ máy chính quyền cấp cơ sở chƣa phù hợp, tính liên kết giữa các cơ quan chƣa  
cao, phản ứng của chính quyền cấp cơ sở còn chậm trƣớc các vấn đề phát sinh,…  
Xét về yếu tố con ngƣời thì năng lực của đội ngũ công chức còn hạn chế, nhận thức  
về vai trò và trách nhiệm của công chức với cộng đồng chƣa cao dẫn đến thiếu tận  
tâm với công việc, chế độ đãi ngộ với công chức cấp cơ sở rất thấp (so với công  
chức cấp tỉnh hay cấp huyện, cũng nhƣ so với mặt bằng chung của xã hội) dẫn đến  
tình trạng công chức rời khỏi cơ quan nhà nƣớc sang khu vực tƣ nhân làm cho bộ  
máy chính quyền cấp cơ sở thƣờng bị xáo trộn.  
Thành phố Bến Tre là một đô thị loại 3 trực thuộc tỉnh  ến Tre, bao gồm 17  
đơn vị hành chính cấp cơ sở (bao gồm các phƣờng 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, Phú  
Khƣơng, Phú Tân và các xã Sơn  ông,  ình Phú, Phú Hƣng, Mỹ Thạnh An, Nhơn  
Thạnh, Phú Nhuận, Mỹ Thành). Thực tiễn hoạt động tại các phƣờng, xã của Thành  
phố Bến Tre cũng cho thấy tình trạng chung nhƣ của cả nƣớc đã nêu ở trên. Tuy  
nhiên, thực trạng trên không phải là tất cả, vẫn có những phƣờng hoạt động rất hiệu  
quả, ở đó ngƣời công chức có tinh thần và trách nhiệm rất cao, làm việc nhiệt tình  
và say mê với công việc đƣợc phân công. Vậy điều gì đã tạo nên sự khác biệt? Việc  
tổ chức bộ máy và chính sách đãi ngộ (giả định đƣợc cho là thấp) thì cũng giống  
nhau ở tất cả các phƣờng, xã. Điều đó cho thấy sự khác biệt đến từ yếu tố con ngƣời  
mà cụ thể là động lực làm việc, hay cao hơn là động lực phụng sự nhân dân của  
công chức. Vấn đề là làm thế nào để nuôi dƣỡng và thúc đẩy các động lực lực đó  
trong mỗi công chức và đâu là các yếu tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc cũng  
nhƣ sự gắn kết của công chức với chính quyền cấp cơ sở.  
Các nghiên cứu trong nƣớc về động lực làm việc cho đối tƣợng công chức  
cũng đã đƣợc thực hiện khá nhiều nhƣ Trƣơng Ngọc Hùng (2012), Hoàng Thị Hồng  
Lộc (2014), Đào Thu Hiền (2015), Nguyễn Ngọc Thắng (2016), Nguyễn Thị Bích  
Lan (2016),… Hay gần đây là các nghiên cứu về động lực phụng sự nhƣ Huỳnh  
Văn Khoa (2016), Nguyễn Thị  ích Phƣợng (2016), Nguyễn Minh Thẩm (2016),  
Trần Thị Thúy Anh (2016), Nguyễn Thị Uyên Tú (2016). Hầu hết các nghiên cứu  
trong nƣớc đều tập trung vào động lực và động lực phụng sự của công chức ở cấp  
3
trung ƣơng hoặc cấp tỉnh, thành phố, trong khi các nghiên cứu về động lực của công  
chức cấp cơ sở là rất hạn chế.  
Các nghiên cứu nƣớc ngoài về động lực làm việc và động lực phụng sự đã  
đƣợc thực hiện rất nhiều. Tiêu biểu là sự ra đời của một loạt các thuyết về tạo động  
lực nhƣ Thuyết nhu cầu của Maslow, Thuyết ERG của Alderfer, Thuyết hai nhân tố  
của Herzberg, Thuyết kỳ vọng của Vroom, Thuyết công bằng của Adams,… Và sau  
đó là rất nhiều các nghiên cứu về phát triển thang đo cho động lực làm việc nhƣ  
nghiên cứu của Clack (1960), Landy và Guion (1970), Kaufman và Fetters (1980),  
Kovach (1987). Đến khoảng những năm 90s của thế kỷ trƣớc thì các nghiên cứu về  
động lực phụng sự mới ra đời tiêu biểu nhƣ nghiên cứu của Perry và Wise (1990),  
Moon (2000), Moynihan (2007), Paarlberg và ctg (2008), Perry và ctg (2010), Kim  
và ctg (2013),… Nhìn chung các nghiên cứu nƣớc ngoài tập trung vào động lực làm  
việc ở khu vực tƣ nhân và sau này là động lực phụng sự ở các tổ chức công nhƣng  
chủ yếu là hoàn thiện thang đo.  
Từ những bối cảnh về thực tiễn hoạt động của các tổ chức chính quyền cấp  
cơ sở và thực trạng các nghiên cứu về động lực làm việc hay động lực phụng sự cả  
trong và ngoài nƣớc, việc cần thiết có một nghiên cứu về động lực của công chức  
liên quan đến sự gắn kết của công chức với chính quyền cấp cơ sở là cần thiết, đặc  
biệt là tìm hiểu bản chất của các yếu tố tác động đến động lực gắn kết của công  
chức với tổ chức chính quyền cấp cơ sở. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để đề xuất các  
chính sách liên quan nhằm thúc đẩy và nuôi dƣỡng động lực làm việc cũng nhƣ tính  
gắn kết của ngƣời công chức, sâu hơn là tính gắn kết với các giá trị cộng đồng mà  
chính quyền cấp cơ sở tạo ra. Chính vì lý do đó, tôi quyết định thực hiện đề tài:  
“Các yếu tố tác động đến sự gắn kết với tổ chức của công chức cấp cơ sở tại thành  
phố Bến Tre” làm luận văn tốt nghiệp chƣơng trình cao học Quản lý Công.  
1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu  
Mục tiêu sau cùng của nghiên cứu là hƣớng đến các giải pháp, chính sách  
giúp nuôi dƣỡng và tăng động lực gắn kết ngƣời công chức với tổ chức chính quyền  
 
4
cấp cơ sở tại Bến Tre nói riêng và bài học cho cả nƣớc nói chung. Sau đây là một số  
mục tiêu cụ thể cần đạt đƣợc:  
Xác định các yếu tố tác động đến động lực làm việc của công chức nói chung  
và các yếu tố tác động đến sự gắn kết của công chức chính quyền cấp cơ sở  
đối với các giá trị mà tổ chức công mang lại cho cộng đồng, xã hội.  
Xác định các nguyên nhân quan trọng làm giảm sự gắn kết của công chức  
cấp cơ sở vớ tổ chức.  
Đề xuất các chính sách phù hợp giúp gia tăng động lực và sự gắn kết của  
công chức với tổ chức chính quyền cấp cơ sở.  
Và để đạt đƣợc các mục tiêu nêu trên, đề tài tiến hành trả lời 03 câu hỏi  
nghiên cứu sau đây:  
Thứ nhất, đâu là các yếu tố tác động đến động lực làm việc, mà đặc biệt là  
sự gắn kết của công chức với tổ chức chính quyền cấp cơ sở tại thành phố Bến tre?  
Thứ hai, đâu là các nguyên nhân chính làm giảm sự gắn kết với tổ chức của  
công chức cấp cơ sở tại thành phố Bến Tre?  
Thứ ba, những giải pháp và chính sách nào là cần thiết giúp tăng cường  
động lực làm việc và sự gắn kết của công chức với tổ chức chính quyền cấp cơ sở  
tại thành phố Bến Tre?  
1.3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu  
Chủ thể nghiên cứu: động lực làm việc và các yếu tố tác động đến động lực  
làm việc, đặc biệt tác động đến sự gắn kết của công chức với tổ chức chính quyền  
cấp cơ sở.  
Khách thể nghiên cứu: cán bộ đang làm việc hoặc nghỉ việc tại các cơ quan  
cấp phƣờng, xã tại thành phố Bến Tre.  
Phạm vi nghiên cứu  
Phạm vi không gian: các phƣờng, xã tại thành phố Bến Tre.  
Phạm vi thời gian: đề tài nghiên cứu dựa vào dữ liệu điều tra, dữ liệu sơ cấp  
đƣợc khảo sát kết hợp phỏng vấn sâu.  
 
5
1.4. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Mục tiêu của đề tài không phải là tìm kiếm và khám phá thêm các nhân tố mới  
ảnh hƣởng động lực làm việc và sự gắn bó của công chức mà chủ yếu là tìm hiểu  
bản chất của các yếu tố tác động đến động lực của công chức chính quyền cấp cơ  
sở. Do vậy, tác giả sử dụng phƣơng pháp khảo sát kết hợp phỏng vấn, trao đổi sâu  
với các chuyên gia, đối tƣợng liên quan để làm rõ vấn đề nghiên cứu. Bảng hỏi  
đƣợc thiết kế trên cơ sở các yếu tố tác động đến động lực của công chức đƣợc tổng  
hợp từ các nghiên cứu trƣớc, có điều chỉnh thông qua trao đổi với giảng viên,  
chuyên gia liên quan.  
Kết quả xử lý thống kê mô tả và xác định các yếu tố quan trọng tác động đến  
động lực của công chức sau khảo sát là cơ sở để tác giả tiến hành phỏng vấn, trao  
đổi sâu với các chuyên gia và đối tƣợng liên quan. Các khuyến nghị và chính sách  
đƣợc đề xuất là dựa trên kết quả phân tích tổng hợp của đề tài, góp ý của chuyên gia  
và đƣợc xem xét tính khả thi khi áp dụng thực tiễn tại chính quyền cấp cơ sở của  
thành phố Bến Tre đặt trong khuôn khổ chung của pháp luật Việt Nam.  
1.5. Bố cục luận văn  
Luận văn có bố cục gồm 05 chƣơng. Chƣơng 1 trình bày lý do hình thành đề  
tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Chƣơng 2 trình bày các khái niệm liên quan  
đến chủ đề nghiên cứu, lƣợc khảo các tài liệu trong và ngoài nƣớc liên quan, từ đó  
đề xuất mô hình nghiên cứu cho trƣờng hợp cụ thể của luận văn. Chƣơng 3 trình  
bày cụ thể các bƣớc triển khai nghiên cứu, phân tích và đánh giá thông tin thu thập.  
Các kết quả cụ thể của luận văn đƣợc trình bày trong Chƣơng 5. Và sau cùng là một  
số kết luận, khuyến nghị đƣợc đƣa ra.  
   
6
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU  
2.1.Các khái niệm liên quan  
2.1.1. Chính quyền cấp cơ sở  
Tại Việt Nam, luật tổ chức chính quyền địa phƣơng năm 2015 quy định hệ  
thống cấp quản lý hành chính bao gồm 04 cấp chính đƣợc tổ chức theo ngạch dọc  
bao gồm Trung ƣơng, tỉnh - thành phố, quận - huyện và xã. Trong đó chính quyền  
cấp cơ sở là một cách gọi khác của chính quyền cấp xã.2  
Nếu xét theo quan hệ quyền lực thì chính quyền cấp xã bao gồm xã, phƣờng  
và thị trấn (sau đây đƣợc gọi chung là chính quyền cấp cơ sở) có quyền lực thấp  
nhất nhƣng lại đóng vai trò quan trọng. Sự quan trọng là bởi đây là cấp chính quyền  
đóng vai trò thực thi hầu hết các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và nhà nƣớc, là  
cấp chính quyền cầu nối giữa Nhà nƣớc và nhân dân, là cấp chính quyền gần dân  
nhất với lực lƣợng đông đảo nhất với tổng cộng hơn 11.000 đơn vị các loại, trong  
đó có khoảng 9.000 đơn vị là chính quyền xã.  
Với vai trò quan trọng nhƣ vậy, thì đây chính là phạm vi nghiên cứu của đề  
tài này. Tại bến Tre, đơn vị chính quyền cấp cơ sở bao gồm tổng cộng 17 đơn vị  
trong đó có 10 đơn vị phƣờng (bao gồm các phƣờng 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, Phú  
Khƣơng, Phú Tân) và 07 đơn vị xã (bao gồm Sơn  ông,  ình Phú, Phú Hƣng, Mỹ  
Thạnh An, Nhơn Thạnh, Phú Nhuận, Mỹ Thành).  
2.1.2. Động lực làm việc  
Ðộng lực là một trong những chủ đề nghiên cứu thƣờng xuyên nhất trong  
nghiên cứu hành vi tổ chức và do vậy có rất nhiều khái niệm khác nhau về động lực  
làm việc. McShane và Glinow (2005) phát biểu, động lực làm việc đề cập đến các  
lực bên trong của một cá nhân mà qua đó tác động đến định hƣớng, cƣờng độ và  
mức độ kiên trì của hành vi tự nguyện. Theo Pinder (2008), động lực là quá trình để  
hiểu đƣợc cƣờng độ, định hƣớng và sự kiên trì của một cá nhân trong nỗ lực hƣớng  
đến mục tiêu”. Singh (2012) cho rằng, một ngƣờii lao động có động lực làm việc sẽ  
2Quốc hội khóa 13, (2015), Luật tổ chức chính quyền địa phƣơng, số 77/2015/QH13 ban hành ngày 19 tháng  
06 năm 2015.  
       
7
sẵn sàng bỏ ra một phần nỗ lực trong một khoảng thời gian để hƣớng đến một mục  
tiêu. Hay theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hƣơng (2012) thì động lực là những  
nhân tố bên trong kích thích con ngƣời nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo  
ra năng suất, hiệu quả, biểu hiện của ngƣời có động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say  
mê làm việc nhằm đạt mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ của bản thân ngƣời lao ðộng.  
Theo Robbins and Judge (2013), có nhiều khái niệm nhƣng nhìn chung động  
lực làm việc xoay quanh 03 yếu tố chính là cƣờng độ (intensity), định hƣớng  
(direction) và sự kiên trì (persistance). Cƣờng độ là chỉ mức độ nỗ lực làm việc chăm  
chỉ của một cá nhân. Tuy nhiên, sự nỗ lực cao có thể sẽ không dẫn đến hiệu quả công  
việc tƣơng ứng nếu những nỗ lực đó không đƣợc dẫn dắt bởi định hƣớng đúng. Cuối  
cùng, động lực là có xu hƣớng kiên trì, tức cá nhân có động lực sẽ gắn bó với nhiệm  
vụ, tổ chức một thời gian đủ dài để đạt đƣợc mục tiêu. Nhƣ vậy, tăng cƣờng sự gắn  
kết của ngƣời lao động đối với tổ chức là tăng cƣờng động lực làm việc, trong đó tập  
trung vào 02 yếu tố quan trọng là sự định hƣớng (vai trò của ngƣời lãnh đạo, quản lý)  
và sự kiên trì (vai trò của việc nuôi dƣỡng động lực và các yếu tố tác động khác (môi  
trƣờng làm việc, quan hệ đồng nghiệp, tính chất công việc,…)  
Sjoberg và Lind (1994, trích trong Bjorklund, 2011) đã định nghĩa động lực  
làm việc là sự sẵn lòng làm việc (willingness to work), và đƣợc đo lƣờng bởi 12  
thang đo.  
Một tổ chức không thể đạt đƣợc hiệu quả và phát triển nếu không duy trì và  
tạo đƣợc động lực cho mỗi ngƣời lao động. Với vai trò to lớn nhƣ vậy, việc xem xét  
các yếu tố tác động đến động lực làm việc đã đƣợc tập trung rất sớm từ Thế kỷ  
trƣớc. Tiêu biểu là sự ra đời của hàng loạt các thuyết về tạo động lực làm viêc, cụ  
thể bao gồm:  
Đầu tiên là thuyết nhu cầu của Maslow vào năm 1943 (Maslow‟s Hierarchy  
of Needs Theory) với giả định mỗi con ngƣời đều tồn tại trong mình một hệ thống  
gồm 05 cấp bậc nhu cầu: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu  
đƣợc tôn trọng, nhu cầu đƣợc thể hiện. Theo Maslow, con ngƣời luôn có khuynh  
hƣớng đƣợc thỏa mãn ở nhu cầu cấp cao hơn. Do vậy, nếu muốn động viên một ai  
8
đó, cần phải hiểu cấp độ nhu cầu hiện nay của họ để tập trung cung cấp các nhu cầu  
ở mức đó hoặc mức cao hơn.  
Thuyết hai yếu tố đã đƣợc Herzberg (1959) cho rằng, mối quan hệ giữa  
ngƣời lao động và công việc là yếu tố cơ bản, thái độ với công việc mới là yếu tố  
quyết định thành bại. Herzberg đã làm một cuộc khảo sát về các yếu tố tác động đến  
ngƣời lao động trong lĩnh vực công nghiệp. Kết quả cho thấy có 02 nhóm yếu tố  
hình thành. Nhóm thứ nhất là các nhân tố động viên (có liên quan đến tính chất  
công việc) bao gồm các yếu tố nội tại của cá nhân, thƣờng đƣợc đề cập khi ngƣời  
lao động cảm thấy thỏa mãn nhƣ: sự phát triển, trách nhiệm, công việc hứng thú, sự  
công nhận và thăng tiến. Nếu muốn động viên nhân viên trong công việc, nhà quản  
trị nên nhấn mạnh đến những nhân tố liên quan đến công việc hay đến kết quả của  
công việc. Nhóm thứ hai bao gồm các nhân tố duy trì (có liên quan đến môi trƣờng  
công việc) bao gồm các yếu tố ngoại tại, ngƣời lao động thƣờng liệt kê khi cảm thấy  
bất mãn nhƣ: quan hệ với đồng nghiệp, lƣơng, điều kiện làm việc, quan hệ với  
ngƣời giám sát, chính sách quản trị. Nhà quản trị tìm cách loại bỏ những nhân tố  
gây nên sự bất mãn chỉ có thể mang lại cho nhân viên sự an tâm, chứ không có  
nghĩa là đã tạo nên sự thỏa mãn để có động lực làm việc.  
Thuyết X và Thuyết Y của McGregor (1960) đƣợc đƣa ra dựa trên 2 giả định  
gồm: (i) Ngƣời lao động vốn dĩ không thích làm việc, có khuynh hƣớng lẫn tránh.  
Do vậy, phải sử dụng hình phạt ðể để đạt đến mục tiêu (Thuyết X); (ii) Ngƣời lao  
động xem công việc là điều tự nhiên phải làm, vì thế sẽ cố gắng kiểm soát hành vi  
của mình để đạt đến mục tiêu (Thuyết Y). Theo đó, McGregor tin rằng các giả định  
của Thuyết Y hợp lý hơn các giả thuyết của Thuyết X. Vì vậy, ông đƣa ra các đề  
xuất nhƣ phải cho ngƣời lao động tham gia vào việc ra quyết định, giao cho họ công  
việc đòi hỏi trách nhiệm và thách thức, tạo mối quan hệ tốt giữa các thành viên  
trong nhóm nếu muốn tối đa hóa động lực trong công việc của ngƣời lao ðộng.  
Thuyết kỳ vọng (Expectancy Theory) đƣợc nêu ra vào năm 1964 bởi V. H.  
Room với ngụ ý rằng động lực để ngƣời lao động đạt đến mục tiêu xuất phát từ kỳ  
9
vọng vào việc sẽ đạt đƣợc kết quả nhất định và tính hấp dẫn của kết quả đó với cá  
nhân ngƣời lao động.  
Adams nêu ra thuyết công bằng vào năm 1965, với thông điệp rằng mỗi  
ngƣời lao động sẽ xem xét những gì họ nhận đƣợc từ tổ chức (mức lƣơng, tăng  
lƣơng, sự khen thƣởng) ứng với những gì họ bỏ ra (nỗ lực, kinh nghiệm, trình độ  
học vấn) so với tỷ lệ tƣơng ứng của một ngƣời khác (đồng nghiệp trong hoặc ngoài  
tổ chức, bạn bè). Nếu tỷ lệ của họ cao hơn, họ sẽ cảm thấy hổ thẹn và ngƣợc lại họ  
sẽ thấy bất công. Hệ quả tất yếu là sẽ tạo động lực để thay đổi và các phản ứng có  
thể xảy ra một khi ngƣời lao động cảm thấy có sự không công bằng nhƣ thay đổi  
các nỗ lực của bản thân, thay đổi nhận thức của bản thân,…Mô hình công bằng mà  
Adams đƣa ra bao gồm 03 thành tố là công bằng phân phối (cảm nhận về kết quả  
nhận đƣợc), công bằng quy trình (cảm nhận về sự đánh giá kết quả) và công bằng  
tƣơng tác (cảm nhận về sự ghi nhận của tổ chức).  
Thuyết ERG đƣợc Alderfer (1969) đƣợc xây dựng trên cơ sở sắp xếp lại các  
cấp nhu cầu của Maslow nhƣng với quan điểm khác. Ông cho rằng con ngƣời cùng  
một lúc theo đuổi việc thỏa mãn ba nhu cầu cơ bản: nhu cầu tồn tại, nhu cầu quan  
hệ giao tiếp và nhu cầu phát triển chứ không phải chỉ theo đuổi từng nhu cầu ở từng  
thời điểm nhƣ của Maslow. Điều này cho thấy, trong bất kỳ thời điểm nào, để động  
viên ngƣời lao động thì ít ra là phải đảm bảo các nhu cầu tối thiểu ở các mức thấp  
(nhu cầu để tồn tại) và đồng thời tạo điều kiện để thỏa mãn nhu cầu xã hội (quan hệ  
với đồng nghiệp và các đối tác) và sau đó là nhu cầu phát triển (sự thăng tiến, cơ hội  
đào tạo)  
Thuyết lập mục tiêu (Goal-Setting Theory) của Locke và Latham (1994) đã  
đƣa ra quan điểm cho rằng làm việc theo một mục tiêu đã đặt ra sẽ giúp động viên  
ngƣời lao động trong công việc. Muốn áp dụng mô hình này thành công cần chú ý  
các đặc tính sau của nhân viên: Mục tiêu dễ chấp nhận (mục tiêu phù hợp với  
chuyên môn hoặc cho ngƣời lao động tham gia vào quá trình xác định mục tiêu);  
Mục tiêu có tính thách thức để kích thích nhu cầu thành tích hay nhu cầu phát triển  
của nhân viên (song mục tiêu đó phải có khả năng đạt đƣợc); và một số điểm lƣu ý  
10  
khác: tính cụ thể, có thể đo lƣờng đƣợc, có thể đạt đƣợc, hƣớng đến kết quả và có  
thời gian cụ thể để hoàn thành.  
Nếu nhƣ thuyết lập mục tiêu ngụ ý rằng mục tiêu hay mục đích của cá nhân sẽ  
định hƣớng hành vi của ngƣời lao động thì thuyết củng cố (Reinforcement theory  
motivation) đƣợc Komaki và cộng sự (1996) nêu ra lại có quan điểm ngƣợc lại. Theo  
đó, hành vi là do môi trƣờng gây ra và chịu sự điều khiển bởi các tác nhân củng cố  
chứ không phụ thuộc vào trạng thái bên trong nhƣ cảm xúc, thái độ, mục tiêu.  
Nhìn chung, mỗi thuyết đều đƣa ra những luận cứ khác nhau. Tuy vậy, nhìn  
chung các thuyết đều cho thấy có những đặc điểm chung nhất có thể tạo động lực  
làm việc cho ngýời lao động nhƣ: nhu cầu của cá nhân (có thể là nhu cầu vật chất  
hoặc nhu cầu về mặt tinh thần), mục tiêu cá nhân, sự phân công công việc, đánh giá  
kết quả công việc, phần thƣởng khuyến khích hay hình phạt tƣơng ứng với kết quả  
và hiệu quả trong công việc, môi trƣờng làm việc (quan hệ tƣơng tác với đồng  
nghiệp, lãnh ðạo), cơ hội thăng tiến. Một cách trực quan có thể phân chia các yếu tố  
tạo động lực thành hai nhóm cơ bản là nhóm liên quan đến các yếu tố vật chất  
(lƣơng, thƣởng, trợ cấp, giải thƣởng cho thành tích xuất sắc) và nhóm liên quan đến  
các yếu tố phi vật chất (tình trạng công việc, sự ghi nhận và đánh giá của tổ chức,  
điều kiện làm việc, sự an toàn trong công việc, đƣợc ủy quyền của tổ chức, trách  
nhiệm với công việc, cảm nhận mình là một thành phần của tổ chức, quan hệ trong  
công việc) (Anyim và ctg, 2012).  
Kết luận rút ra từ việc xem xét các thuyết nhu cầu trên cho thấy, động lực  
làm việc với mỗi cá nhân là khác nhau cho các đối tƣợng khác nhau, trong mỗi thời  
điểm khác nhau và trong các môi trƣờng khác nhau.  
Nghiên cứu của Mann (2006) cho thấy, nhân viên trong khu vực công muốn  
đạt đến các kết quả khác biệt và có tầm ảnh hƣởng nhất định đến công chúng, hay  
nói cách khác họ muốn đạt đƣợc các giá trị cho xã hội hơn là các khuyến khích vật  
chất. Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, động lực đối với nhân viên trong tổ  
chức công là các khuyến khích bên trong hơn là khuyến khích bên ngoài nhƣ lƣơng  
và các khoản phụ cấp (Wright, 2007). Nghiên cứu của Buelens và Broeck (2007) đã  
11  
chỉ ra rằng nhân viên trong khu vực tƣ muốn làm việc trong một môi trƣờng có tính  
hỗ trợ hơn và thích cuộc sống công bằng hơn.  
2.1.3. Động lực phụng sự công  
Động lực phụng sự công (Public Service Motivation – gọi tắt là PSM) đƣợc  
nêu lên đầu tiên vào năm 1982 bởi Rainey. Tuy nhiên, khái niệm về PSM sau này  
gắn liền với tên tuổi của Perry và Wise (1990) trong bài viết “The Motivational  
Base of Public Service – tạm dịch là Nền tảng động lực trong khu vực công”. Theo  
đó, động lực phụng sự công là khuynh hƣớng một cá nhân phản ứng lại các động cơ  
bắt nguồn chủ yếu hoặc duy nhất từ các đối tƣợng phục vụ và tổ chức công. Ba  
nhóm động cơ phổ biến của ngƣời lao động trong khu vực công bao gồm: (i) Động  
cơ duy lý (rational), tức ngƣời lao động khi tham gia vào tổ chức công vì muốn  
tham gia vào các quy trình hình thành chính sách, chƣơng trình có liên quan đến cá  
nhân của họ hay vì ủng hộ cho một nhóm lợi ích nào đó; (ii) Động cơ chuẩn tắc  
(norm-based) , tức ngƣời lao động khao khát đƣợc phục vụ các lợi ích cộng đồng,  
tinh thần trách nhiệm và lòng trung thành với đất nƣớc, thích sự bình đẳng trong xã  
hội; và (iii) Động cơ duy cảm (affective), khi ngƣời lao động cho rằng, các công  
việc họ làm đóng vai trò quan trọng đối với toàn xã hội hay động cơ xuất phát từ  
tấm lòng nhân từ, bác ái.  
Các nghiên cứu về PSM sau đó ngày càng phát triển nhanh chóng, tiêu biểu  
là nghiên cứu của Perry (1996) đo lƣờng sự hiện diện của PSM với 40 thang đo  
khác nhau và đƣợc ứng dụng trong công tác quản lý các tổ chức công.  
Tuy vậy, nghiên cứu về đo lƣờng PSM của Perry (1996) sau này đã bị phê  
phán mạnh mẽ về các mục hỏi bởi đặc điểm hóa khác nhau giữa các nƣớc, mà đặc  
biệt là sự khác biệt đến từ nền văn hóa Hoa Kỳ (nơi đƣợc chọn làm mẫu cho các  
nghiên cứu về PSM đầu tiên bởi Perry). Tiêu biểu là nghiên cứu của SangMoo Kim  
và Vandenabeele (2010). Sau này, chính SangMook Kim và cộng sự (2012) đã rút  
gọn còn 33 câu hỏi với 6 nhóm yếu tố tƣơng tự nhƣ Perry (1996) và đã đƣợc tiến  
hành đo lƣờng PSM tại 12 quốc gia khác nhau. Kết quả cho thấy chỉ có 4 nhóm yếu  
tố có ý nghĩa bao gồm: (i) mong muốn tham gia vào các dịch vụ công; (ii) sự gắn  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 74 trang yennguyen 16881 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Các yếu tố tác động đến sự gắn kết với tổ chức của công chức cấp cơ sở tại thành phố Bến Tre", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_cac_yeu_to_tac_dong_den_su_gan_ket_voi_to_chuc_cua.pdf