Luận án Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân thành phố Hà Nội hiện nay

1
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
1.1. Là một công cụ điều chỉnh hành vi con người trên cơ sở tự nguyện, tự giác,  
với nguyên tắc ưu tiên lợi ích xã hội, đạo đức xuất hiện, tồn tại trong tất cả các lĩnh vực  
hoạt động của con người, trong đó có lĩnh vực sản xuất kinh doanh (SXKD).  
Ở Việt Nam, đạo đức kinh doanh (ĐĐKD) được hình thành từ rất sớm, dẫu  
rằng ngành nghề kinh doanh trong xã hội Việt Nam thời xưa chưa được coi trọng.  
Có thể nhận thấy điều đó qua các câu châm ngôn, như làm ăn phải có chữ tín, một  
lần bất tín, vạn lần bất tin, trung thực... như là các quy tắc đạo đức mà mỗi người  
kinh doanh cần phải tuân thủ. Tuy nhiên, trong một xã hội chưa phát triển và ngành  
nghề kinh doanh chưa được coi trọng, đề cao thì vấn đề ĐĐKD chưa được các tầng  
lớp/ giai tầng chú ý.  
Ngày nay, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội  
chủ nghĩa (XHCN), ở Việt Nam vấn đề ĐĐKD đã được chú trọng nghiên cứu  
ngày càng nhiều hơn. Bởi điều đó không chỉ giúp các nhà kinh doanh tăng lợi  
nhuận, mà còn giúp Việt Nam giải quyết được một số vấn đề, như ô nhiễm môi  
trường, phát triển con người, chất lượng cuộc sống,v.v.... Việt Nam mới chập  
chững bước vào kinh tế thị trường và vẫn còn chưa dứt bỏ hoàn toàn tàn dư của  
thời kinh tế tập trung, bao cấp, đặc biệt là cơ chế xin - cho, quan hệ thân quen  
vẫn tiếp tục gây nhức nhối trong một số lĩnh vực. Điều đáng lo ngại nhất khi  
Việt Nam bước vào nền kinh tế này nằm ở những lỗ hổng lớn là pháp luật, đạo  
đức và văn hoá kinh doanh. Bên cạnh đó, việc kết hợp giữa lợi ích trước mắt và  
lợi ích lâu dài cũng có không ít vấn đề cần được tính toán cẩn thận. Mọi nền  
kinh tế chuyển đổi đều chứa đựng trong bản thân nó rất nhiều cơ hội cho sự  
phát triển của từng người cũng như của cả đất nước nhờ việc tạo ra các động  
lực. Song cũng chính trong nền kinh tế đó lại chứa đựng đầy rẫy những hiểm  
họa và cạm bẫy do đạo đức suy thoái, do lợi ích trước mắt, lợi ích cá nhân, lợi  
ích nhóm được đặt lên hàng đầu trong điều kiện pháp luật chưa thật định hình  
và chưa đủ mạnh.  
2
1.2. Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, kinh tế thị trường đang ngày càng phát  
triển mạnh mẽ đem lại những cơ hội to lớn, song cũng đặt ra không ít những khó  
khăn, thách thức cho mỗi quốc gia. Phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất  
là mục tiêu quan trọng của tất cả các nước. Quy luật khắc nghiệt của kinh tế thị  
trường được ví như cái mặt sàng mà qua sự sàng lọc của nó những ai không thích  
ứng sẽ bị đào thải. Thực tế qua 30 năm đổi mới, kinh tế - xã hội nước ta đã có  
những bước chuyển dịch to lớn, đạt được thành tựu trên nhiều mặt. Tuy nhiên, bên  
cạnh mặt tích cực, kinh tế thị trường cũng có những mặt tác động tiêu cực, đặc  
biệt là sự xuống cấp về đạo đức, lối sống của một bộ phận dân cư. Nổi bật trong  
lĩnh vực kinh tế là tình trạng vi phạm ĐĐKD. Lối sống thực dụng, cá nhân ích kỷ  
đã làm cho tình trạng tham nhũng, buôn lậu, lừa đảo… trong SXKD ngày càng có  
đà sinh sôi, nảy nở. Không ít những người kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, vụ  
lợi cá nhân đã sản xuất hàng hóa trái phép, thải chất độc ra môi trường, buôn lậu,  
trốn thuế, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, đe dọa sức khỏe, tính mạng  
người tiêu dùng. Điều đó đặt ra những vấn đề quan trọng trong việc giáo dục  
ĐĐKD và giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh (CMĐĐKD) XHCN cho  
những người tham gia vào quá trình sản xuất ở Việt Nam hiện nay.  
1.3. Giai cấp nông dân (ND) Việt Nam có vị trí, vai trò, có bề dầy truyền thống,  
có đóng góp xứng đáng trong lịch sử dựng nước, giữ nước, trong đấu tranh cách mạng  
giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cũng như trong công cuộc đổi mới, xây dựng  
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành  
Trung ương Đảng (khoá X) về "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn" khẳng định:  
“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp  
hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là lực lượng quan trọng  
để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ gìn ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc  
phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái của đất  
nước…” [16; tr156]. Nghị quyết cũng đã đặt ra nhiệm vụ: “Chăm lo xây dựng giai cấp  
nông dân Việt Nam, củng cố liên minh công nhân – nông dân - trí thức trong thời kỳ  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [16; tr178].  
3
Hà Nội là trung tâm chính trị - văn hóa - xã hội của cả nước, là thành phố  
hướng tới công nghiệp hiện đại. Trong giai đoạn hội nhập hiện nay cùng với giai  
cấp công nhân và trí thức, ND thành phố Hà Nội đã và đang là lực lượng xã hội  
quan trọng góp phần phát huy vị thế của thủ đô trên nhiều mặt, đặc biệt trong đó có  
lĩnh vực phát triển kinh tế. Họ cũng đã nhận thức được vai trò của mình trong công  
cuộc xây dựng CNXH hiện nay và không ngừng tham gia vào quá trình SXKD, đẩy  
mạnh quá trình tái cơ cấu ngành gắn với xây dựng nông thôn mới, làm thay đổi bộ  
mặt nông thôn trên địa bàn thành phố.  
Tuy nhiên, hoạt động SXKD của người ND Hà Nội còn nhiều bất cập. Nhìn  
chung ND thu nhập còn thấp, mức sống chưa cao; sản xuất nông nghiệp còn manh  
mún, sản xuất nhỏ vẫn là chủ yếu; môi trường nông thôn ngày càng bị ô nhiễm; tư  
duy kinh tế gắn sản xuất với thị trường của người dân còn sơ khai, chưa được hình  
thành rõ nét; động cơ sản xuất còn chạy theo lợi nhuận trước mắt, ít quan tâm đến  
thương hiệu hàng hoá nông sản thông qua sự đảm bảo về xuất xứ, vệ sinh an toàn  
thực phẩm, ổn định chất lượng và số lượng, chủng loại… Điều này đang tạo nên  
những lo lắng của người dân trong thời gian gần đây, đặc biệt là nỗi bất an trước tình  
hình chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Người dân hoài nghi và không còn đủ  
niềm tin với cái gọi là “thực phẩm sạch”, bởi nếu “bỏ phiếu” cho rau thì không ít loài  
rau đã nhiễm chì và “ngậm” hóa chất trầm trọng; “bỏ phiếu” cho quả thì khá nhiều  
loại quả đã “ngấm” hóa chất bảo quản độc hại để tươi ngon lạ lùng hàng tháng trời;  
“bỏ phiếu” cho thịt, cá thì dư lượng hóa chất gây ung thư vượt ngưỡng…. Trong môi  
trường thiếu an toàn đó, đã đến lúc phải gióng lên hồi chuông cấp thiết về ĐĐKD.  
Do đó để nâng cao đạo đức trong kinh doanh cho người ND, giúp họ hình thành  
những chuẩn mực cơ bản của ĐĐKD thì việc giáo dục CMĐĐKD cho ND là một vấn  
đề quan trọng. Đó là một cơ sở quan trọng để xây dựng nền ĐĐKD XHCN ở nước ta  
giai đoạn hiện nay.  
Từ những lý do trên tác giả lựa chọn vấn đề “Giáo dục chuẩn mực đạo đức  
kinh doanh cho nông dân thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ  
chuyên ngành công tác tư tưởng.  
4
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
2.1. Mục đích  
Mục đích của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của giáo dục  
CMĐĐKD cho ND Việt Nam, từ đó đề xuất quan điểm, giải pháp cơ bản nhằm tăng  
cường giáo dục CMĐĐKD cho ND Hà Nội hiện nay.  
2.2. Nhiệm vụ  
- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án.  
- Nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận của việc giáo dục CMĐĐKD cho ND thành  
phố Hà Nội .  
- Phân tích, đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra trong giáo dục CMĐĐKD  
cho ND ở thành phố Hà nội hiện nay, thông qua việc khảo sát các hộ ND và hợp tác xã  
ngoại thành Hà Nội.  
- Qua việc phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra, luận án đề xuất và luận  
giải cơ sở khoa học của những quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường giáo dục  
CMĐĐKD cho ND ở Hà Nội hiện nay.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
4.1. Đối tượng nghiên cứu  
Giáo dục CMĐĐKD cho ND ở thành phố Hà Nội hiện nay.  
4.2. Phạm vi nghiên cứu  
- Thực trạng giáo dục CMĐĐKD cho ND được nghiên cứu từ năm 2008- là  
năm hợp nhất tỉnh Hà Tây và TP Hà Nội. Những quan điểm, giải pháp được đề xuất  
có ý nghĩa đến năm 2025.  
- Địa bàn khảo sát: Luận án chọn 6 huyện, trong đó 3 huyện thuộc địa bàn Hà  
Nội cũ, 3 huyện thuộc địa bàn tỉnh Hà Tây cũ, đặc trưng cho vùng nông thôn ngoại  
thành Hà Nội, gồm: Đông Anh, Thanh Trì, Sóc Sơn, Phú Xuyên, Quốc Oai, Ba Vì.  
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp luận nghiên cứu đề tài  
5.1. Cơ sở lý luận: Dựa trên cơ sở những nguyên lý lý luận chủ nghĩa Mác –  
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về đạo đức và giáo dục đạo đức  
trong SXKD; về vị trí, vai trò của giai cấp ND trong công cuộc xây dựng CNXH.  
5
5.2. Cơ sở thực tiễn: Tình hình đạo đức nói chung, ĐĐKD của ND và thực  
trạng giáo dục CMĐĐKD cho ND TP Hà Nội hiện nay.  
5.3. Phương pháp nghiên cứu:  
Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học, trong đó  
tập trung vào một số phương pháp cơ bản sau đây:  
- Trên cơ sở khoa học của phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử  
Đây là phương pháp cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin. Phương pháp này đòi  
hỏi: khi xem xét các hiện tượng và quá trình giáo dục phải đặt trong mối liên hệ tác  
động qua lại lẫn nhau, thường xuyên vận động, phát triển không ngừng, chứ không  
phải là bất biến. Quá trình phát triển là quá trình tích lũy những biến đổi về lượng  
dẫn đến những biến đổi về chất. Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy  
vật lịch sử trong nghiên cứu giáo dục CMĐĐKD cho ND thành phố Hà Nội để xem  
xét quá trình giáo dục gắn với những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể, cũng  
như đặc điểm riêng của người ND.  
- Phương pháp phân tích và tổng hợp  
Với phương pháp này, tác giả luận án đi từ cái chung, đó là khái niệm, phạm  
trù cũng như những vấn đề lý luận cơ bản, cần thiết về giáo dục CMĐĐKD, để từ  
đó đi đến cái chi tiết của vấn đề mà luận án nghiên cứu- đó là giáo dục CMĐĐKD  
cho ND thành phố Hà Nội. Sau đó, tác giả lại đi từ cái riêng, cái cụ thể- đó là giáo  
dục CMĐĐKD cho ND ở một số huyện ngoại thành Hà Nội để khái quát thành  
những nội dung, phương thức giáo dục CMĐĐKD cho ND thành phố Hà Nội và ở  
các địa phương khác có đặc điểm tương đồng về kinh tế - xã hội. Trên cơ sở đó, liên  
kết từng mặt nghiên cứu đã được phân tích tạo ra hệ thống lý thuyết mới về  
CMĐĐKD và giáo dục CMĐĐKD cho ND.  
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học  
Luận án sử dụng phương pháp này để tạm thời gạt bỏ khỏi đối tượng nghiên cứu  
những biểu hiện ngẫu nhiên, cá biệt để đi sâu luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn  
đề cơ bản thuộc đối tượng nghiên cứu. Cụ thể là luận án tập trung nghiên cứu vấn đề  
giáo dục CMĐĐKD cho ND nói chung ở thành phố Hà Nội, mà không đi vào nghiên  
cứu từng người ND cụ thể hoặc từng thành phần trong cơ cấu giai cấp ND ở Hà Nội.  
6
- Phương pháp nguyên tắc kết hợp giữa lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu  
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu khoa học nói  
chung. Luận án sử dụng phương pháp này để nghiên cứu quan điểm, tư tưởng của  
các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin có liên quan; cập nhật quan điểm,  
đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển nền kinh tế  
thị trường định hướng XHCN; những trào lưu và xu hướng phát triển của thời đại,  
cũng như hệ thống tri thức của nhân loại về kinh tế và giáo dục chính trị - tư tưởng  
trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Mặt khác, đây là đề tài mang ý  
nghĩa lý luận và thực tiễn cho nên luận án đặc biệt quan tâm đến vấn đề tổng kết  
thực tiễn về giáo dục CMĐĐKD cho ND TP Hà Nội, thông qua khảo sát thực tiễn,  
thu thập số liệu, điều tra xã hội học các đối tượng cần khảo sát.  
- Phương pháp điều tra xã hội học  
Thông qua việc thiết kế và thực hiện các bảng hỏi, quan sát, phỏng vấn sâu,  
thảo luận nhóm và lấy ý kiến chuyên gia, phương pháp này đã thu được phản hồi từ  
phía người ND, cán bộ quản lý các cấp ở địa phương và chuyên gia. Đây là cơ sở để  
tác giả thuyết minh các luận cứ đã được trình bày trong luận án. Cụ thể là tác giả đã  
tiến hành chọn mẫu gồm 199 phiếu điều tra bằng bảng hỏi đối với ND ở các huyện:  
Đông Anh, Thanh Trì, Phú Xuyên, Quốc Oai, Ba Vì, Sóc Sơn; 100 phiếu để điều tra  
cán bộ quản lý cấp xã, huyện của các địa phương nêu trên, cán bộ tuyên giáo, cán  
bộ Hội ND, cán bộ ngành nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. Việc chọn  
mẫu và sử dụng phương pháp điều tra xã hội học đảm bảo yêu cầu khách quan, diện  
rộng để thu được kết quả chính xác và sát thực với thực trạng giáo dục CMĐĐKD  
cho ND ở các địa phương nêu trên và trên địa bàn TP Hà Nội nói chung.  
Ngoài ra, luận án còn sử dụng các phương pháp logic, so sánh, thống kê số  
liệu, phân tích tài liệu trong nghiên cứu đề tài.  
6. Đóng góp mới và ý nghĩa của luận án  
Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề giáo dục CMĐĐKD  
XHCN cho ND. Những vấn đề lý luận về ĐĐKD, CMĐĐKD, các yếu tố cấu thành  
và sự cần thiết của giáo dục CMĐĐKD cho ND được luận bàn một cách tường  
7
minh và được phân tích thấu đáo. Đặc biệt luận án đã nhìn nhận, tiếp cận ĐĐKD  
như là yếu tố nội sinh của sự phát triển kinh tế; là điều kiện để nền kinh tế thị  
trường nước ta phát triển theo đúng định hướng XHCN và là một nội dung của quá  
trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Bằng những nghiên cứu  
thực tiễn, luận án đã phân tích thành tựu và hạn chế của giáo dục CMĐĐKD cho  
ND TP Hà Nội trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN  
và hội nhập, qua đó phát hiện và khái quát, phân tích các mâu thuẫn của quá trình  
giáo dục CMĐĐKD cho ND; phân tích những luận cứ khoa học của các quan điểm,  
giải pháp tăng cường giáo dục CMĐĐKD cho ND Hà Nội hiện nay.  
Với những kết quả nghiên cứu, luận án góp phần giúp các cơ quan, tổ chức  
chính quyền, các cấp ủy Đảng của TP Hà Nội quan tâm, chăm lo hơn nữa tới công tác  
giáo dục CMĐĐKD cho ND. Thông qua một số giải pháp được đề xuất luận án góp  
phần định hướng những giá trị, chuẩn mực đạo đức trong SXKD đối với ND Hà Nội  
nói riêng và ND Việt Nam nói chung. Luận án còn có thể làm tài liệu nghiên cứu  
giảng dạy đạo đức học, đạo đức kinh doanh, khoa học công tác tư tưởng…  
7. Kết cấu của luận án  
Ngoài phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu, kết luận, phụ lục, danh  
mục tài liệu tham khảo luận án gồm 3 chương, 8 tiết.  
8
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU  
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN  
1. Những nghiên cứu về đạo đức kinh doanh và giáo dục đạo đức  
kinh doanh  
1.1. Về đạo đức kinh doanh  
ĐĐKD không phải là một vấn đề mới xuất hiện trong thế giới đương  
đại, mà những tư tưởng của nó đã có từ rất lâu trong lịch sử phát triển của xã  
hội loài người. Khi lực lượng sản xuất chưa phát triển, phân công lao động  
còn ở dạng sơ khai, trao đổi sản phẩm mới chỉ là bột phát do nhu cầu sinh tồn  
của các thành viên trong thị tộc, bộ lạc và nguyên tắc cùng làm cùng hưởng  
vẫn được con người thực hiện một cách tự nhiên thì ĐĐKD chưa xuất hiện.  
Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn tới phân công lao động đã tạo  
ra bốn nghề trong xã hội gồm: chăn nuôi, trồng trọt, thủ công, buôn bán. Sản  
phẩm trở thành tất yếu, sản phẩm do lao động làm ra trở thành hàng hóa, trao  
đổi sản phẩm là một tất yếu khách quan, lúc đó khái niệm kinh doanh xuất  
hiện và phạm trù ĐĐKD cũng ra đời. Đây cũng là thời kỳ mới của nhân loại,  
có mâu thuẫn đối kháng giai cấp, có bộ máy nhà nước, con người không sống  
“ngây thơ thuần phác” , quan hệ giữa con người với con người tất yếu dẫn tới  
yêu cầu đạo đức: không được trộm cắp, phải sòng phẳng trong giao thiệp, phải  
có chữ tín, biết tôn trọng các cam kết, thỏa thuận…  
Như vậy, ĐĐKD không phải xuất phát từ sự “tiên nghiệm” , hay “chân lý tuyệt  
đối” vĩnh cửu. ĐĐKD ra đời cùng hoạt động kinh doanh, phát triển theo từng hình thái  
kinh tế - xã hội, thay đổi theo từng vùng dân cư, lãnh thổ, nhất là theo đặc điểm phương  
Tây và phương Đông.  
Với tư cách là ngành khoa học, ĐĐKD mới chỉ xuất hiện từ nửa đầu  
những năm 70 của thế kỷ trước. Người đầu tiên đưa ra khái niệm này là nhà  
nghiên cứu ĐĐKD nổi tiếng Norman Bowie. Ông định “ngày sinh” của ngành  
ĐĐKD học vào tháng 11 năm 1974, qua hội nghị đầu tiên về chủ đề ĐĐKD  
được tổ chức ở trường Đại học Kansas- Mỹ. Kết quả đạt được là một tuyển tập  
luận đề đầu tiên đã được dùng trong những khóa học mới về ngành này liên tục  
được mở ra. Năm 1979, ba tuyển tập trong ngành đã xuất hiện: Lý thuyết Đạo đức  
9
và Kinh doanh của Tom Beauchamp và Norman Bowie, Các Vấn đề Đạo đức trong  
Kinh doanh: Qua Lăng kính Triết học của Thomas Donaldson và Patricia Werhane,  
và Các Vấn đề Đạo đức trong Doanh nghiệp của Vincent Barry. Năm 1982, những  
quyển sách đầu tiên trong ngành học này được giới thiệu, đó là Đạo đức Kinh  
doanh của Richard De George và Đạo đức Kinh doanh: Khái niệm và Các Trường  
hợp Khảo sát của Manuel G. Velasquez.  
Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ĐĐKD, trong đó  
bao hàm các quan niệm về ĐĐKD khác nhau. Phillip V. Lewis, Đại học  
Abilene Christian, Hoa Kỳ đã tiến hành nghiên cứu và thu thập 185 định nghĩa được  
tìm thấy trong các sách giáo khoa và các bài nghiên cứu từ năm 1961 đến 1981. Qua  
các công trình đó có thể hiểu ĐĐKD là gì, được định nghĩa ra sao. Sau khi tìm ra  
những điểm chung của các khái niệm trên, tác giả tổng hợp lại và đưa ra khái niệm  
về ĐĐKD như sau:  
“Đạo đức kinh doanh là tất cả những quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức  
hoặc luật lệ để cung cấp chỉ dẫn về những hành vi ứng xử chuẩn mực và sự trung  
thực (của một tổ chức) trong những trường hợp nhất định” [77; tr54]. Vấn đề  
ĐĐKD đã được quan tâm nghiên cứu một cách bài bản từ những năm 1970 ở các  
nước Tây Âu và Mỹ. Những năm 1980, ở Mỹ, môn học ĐĐKD đã được đưa vào  
giảng dạy ở nhiều trường đại học. Từ đầu thế kỷ XXI cho đến nay, những vấn đề  
đạo đức trong kinh doanh được nghiên cứu ngày càng nhiều ở các góc độ khác nhau  
để giải quyết những vấn đề thiết thực trong thực tiễn của các doanh nghiệp và xã  
hội. Đa số các sách viết về ĐĐKD là công trình nghiên cứu của các giáo sư từ các  
trường đại học của Mỹ. Ví dụ cuốn “Business Ethics, Ethical Decision Making and  
Case” của ba tác giả O.C. Ferrell, John Fraedrich, Linda Ferrell, do Houghton  
Miflin Company xuất bản năm 2002 có thể coi là một cuốn giáo trình khá hấp dẫn  
về ĐĐKD. Cuốn sách chia làm 2 phần: phần 1 gồm 10 chương lý giải vấn đề ra  
quyết định đạo đức trong kinh doanh, trong đó, các tác giả đề cập đến các vấn đề  
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, vấn đề văn hóa doanh nghiệp với các quyết  
định đạo đức, vấn đề ĐĐKD trong nền kinh tế toàn cầu…Trong phần 2 của cuốn  
sách, các tác giả đi vào phân tích 15 tình huống cụ thể của ĐĐKD giúp cho người  
đọc hiểu về ĐĐKD một cách bài bản và thực tế.  
10  
Một đặc điểm khá phổ biến của các cuốn sách nghiên cứu về ĐĐKD của các  
tác giả nước ngoài đó là luôn gắn vấn đề lý luận ĐĐKD với những tình huống (case)  
kinh doanh cụ thể. Ví dụ: Cuốn “Ethics and Conduct of Business” của tác giả John R.  
Boatright ở đại học Loyola, Chicago, được xuất bản bởi Prentice Hall, năm 2000; Cuốn  
“Business Ethics- Australian Problem and cases” do Oxford University Press ấn hành  
năm 1998; Cuốn “Ethical Issues in Business- A Philosophical Approach” của ba giáo  
sư đại học Mỹ: Thomas Donaldson, Patricia H. Werhane và Margaret Cording, do  
Prentice Hall xuất bản lần thứ 7, năm 2002. Đây là cuốn sách tập hợp một số bài viết lý  
giải nhiều vấn đề liên quan đến ĐĐKD như vấn đề trung thực trong kinh doanh; vấn  
đề sở hữu, lợi nhuận và sự công bằng; vấn đề doanh nghiệp, con người và đạo đức….  
Các nhà nghiên cứu như Ferrels và John Fraedrich lại chú ý đến phương  
diện điều chỉnh hành vi ĐĐKD đối với hành vi của chủ thế kinh doanh. Các ông  
cho rằng: “Đạo đức kinh doanh bao gồm những nguyên tắc cơ bản và tiêu chuẩn  
điều chỉnh hành vi trong thế giới kinh doanh. Tuy nhiên, việc đánh giá một hành vi  
cụ thể là đúng hay sai, phù hợp với đạo đức hay không sẽ được quyết định bởi nhà  
đầu tư, nhân viên, khách hàng, các nhóm có quyền lợi liên quan, hệ thống pháp lý  
cũng như cộng đồng”. [42; tr108]  
Laura P.Hartman và Joe Desjardins trong cuốn “Business ethics” lại trình  
bày rất cụ thể tầm quan trọng của đạo đức trong môi trường kinh doanh. Đồng thời  
các ông cũng đã phân biệt giữa đạo đức cá nhân với đạo đức xã hội; giữa trách  
nhiệm xã hội và trách nhiệm đạo đức; những điểm khác biệt giữa các quy chuẩn và  
các giá trị đạo đức với các quy chuẩn và giá trị kinh doanh khác...  
Công trình “Taking sides: Clashing views on controversial issues in  
business ethics and society” của tác giả L.H.Newton, M.M. Ford lại nghiên cứu về  
mối quan hệ giữa giới chủ và lao động làm thuê; sự dao động của sản xuất do thị  
trường và người tiêu dùng. Hai lĩnh vực các ông đề cập tới trong xây dựng ĐĐKD  
là tài chính và ngân hàng, qua đó khái quát những quan điểm về ĐĐKD ở một số  
ngành và khu vực.  
Bàn về vai trò của ĐĐKD, tác giả R. Edward Freeman trong cuốn “Business  
ethics: The State of the art” đã khẳng định ĐĐKD được xem là một ngành, một vấn  
đề được giảng dạy trong trường kinh doanh. Ông đã nghiên cứu ĐĐKD với vấn đề  
11  
quản lí kinh doanh, kinh doanh toàn cầu (đa quốc gia, đa văn hoá), đời sống tinh thần  
của người hoạt động trong ngành kinh doanh. Những nghiên cứu của tác giả đã nhấn  
mạnh rõ vai trò cũng như tầm quan trọng của ĐĐKD trong nền kinh tế.  
Đối với Việt Nam, từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, vấn đề ĐĐKD  
được quan tâm chú ý nhiều hơn. Từ đó tới nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu  
về ĐĐKD được thực hiện, một số giáo trình ĐĐKD được xuất bản và đưa vào  
giảng dạy ở một số trường kinh tế. Những công trình này đã đề cập và giải quyết  
nhiều khía cạnh của ĐĐKD.  
Như trình bày ở trên, ĐĐKD với tính chất là môn khoa học đang còn mới  
mẻ đối với loài người. Điều này lại càng đúng với Việt Nam. Vì vậy, khi bàn về  
khái niệm ĐĐKD, những phẩm chất, chuẩn mực của nó hoặc sự cần thiết của  
ĐĐKD trong điều kiện kinh tế thị trường…các nhà nghiên cứu ở nước ta đưa ra khá  
nhiều quan điểm khác nhau.  
PGS,TS Nguyễn Mạnh Quân đã định nghĩa trong giáo trình “Đạo đức kinh  
doanh và văn hóa công ty”: “Đạo đức kinh doanh gồm những nguyên tắc và chuẩn  
mực có tác dụng hướng dẫn hành vi trong mối quan hệ kinh doanh; chúng được  
những người hữu quan (như người đầu tư, khách hàng, người quản lý, người lao  
động, đại diện cơ quan pháp lý, cộng đồng dân cư, đối tác, đối thủ…) sử dụng để  
phán xét một hành động cụ thể là đúng hay sai, hợp đạo đức hay phi đạo đức”. [57;  
tr18]. Như vậy, ở định nghĩa này, ĐĐKD được hiểu: là những quy tắc, nguyên tắc  
hoặc các chuẩn mực được đưa ra nhằm ngăn chặn các hành vi sai nguyên tắc đạo  
đức trong quá trình kinh doanh. Ngoài việc làm rõ các khái niệm về ĐĐKD, tác giả  
còn giới thiệu cách tiếp cận với quá trình ra quyết định về hành vi đạo đức và các  
công cụ phân tích hành vi ĐĐKD. Mục đích là nhằm cung cấp phương pháp và  
công cụ phân tích hành vi đạo đức trong kinh doanh.  
Trong hội thảo “Đạo đức trong kinh doanh” do Viện Kinh tế đối ngoại- Bộ  
Thương mại (nay là Bộ Công thương) phối hợp với The ST James Ethies Centre-  
Australia tổ chức năm 1995, phần nhiều các bài tham luận đều bàn về sự tác động  
của kinh tế thị trường tới đạo đức và vai trò của đạo đức trong kinh doanh hay sự  
cần thiết của việc kinh doanh có đạo đức. Tham luận “Một số ý kiến về giáo dục  
trong kinh doanh tại Việt Nam”, PGS,TS, Tô Xuân Dân, giảng viên Đại học Kinh tế  
12  
quốc dân Hà Nội khẳng định: “Đạo đức kinh doanh hiểu một cách đơn giản, là  
những quy tắc đạo đức được vận dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh, là  
những chuẩn mực chi phối hành vi của các doanh nghiệp, là những giá trị mà người  
kinh doanh thừa nhận và noi theo” [40; tr28] và “Mục đích của nhà kinh doanh  
nhằm đem lại hạnh phúc cho con người, không phải chỉ cho từng cá nhân mà cho cả  
xã hội. Mà hạnh phúc ở đây chính là bao gồm những giá trị đạo đức, những giá trị  
văn hóa của xã hội được thừa nhận và được tôn trọng” [40; tr29].  
Bàn về triết lý kinh doanh, tiêu biểu là cuốn “Triết lý kinh doanh và quản lý  
doanh nghiệp” của GS,TS. Nguyễn Thị Doan và TS. Đỗ Minh Cương, Nxb Chính  
trị quốc gia, năm 1999. Trong cuốn sách này, các tác giả đã tập trung phân tích và  
nhấn mạnh vai trò không thể thiếu của triết lý kinh doanh trong hoạt động của các  
doanh nghiệp. Theo các tác giả, dựa trên những triết lý kinh doanh cụ thể, các chủ  
thể kinh doanh sẽ lựa chọn những cách thức kinh doanh phù hợp. Triết lý kinh  
doanh không tách rời ĐĐKD mà trái lại nó bao hàm, gắn bó chặt chẽ với ĐĐKD.  
Vì thế, kinh doanh có đạo đức như là một bí quyết để nhà kinh doanh có thể tồn tại  
và doanh nghiệp của họ phát triển một cách bền vững.  
Nhiều tác giả đề cập tới ĐĐKD qua phương diện văn hóa kinh doanh. Có thể  
kể tới cuốn “Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh” của TS. Đỗ Minh Cương  
do Nxb Chính trị quốc gia ấn hành năm 2001; “Tinh thần doanh nghiệp- giá trị định  
hướng của văn hóa kinh doanh Việt Nam”, tác giả Trần Quốc Dân, Nxb Chính trị  
quốc gia, năm 2003; Luận án tiến sỹ kinh tế (năm 2004) “Vai trò của văn hóa kinh  
doanh quốc tế và vấn đề được xây dựng văn hóa kinh doanh ở Việt Nam” của  
Nguyễn Hoàng Ánh; “Văn hóa kinh doanh trong các doanh nghiệp ở Hà Nội” - đề  
tài nghiên cứu khoa học - Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm 2004, do PGS,TS. Dương  
Thị Liễu làm chủ biên…Những công trình này cho thấy, ĐĐKD là một trong những  
yếu tố cấu thành của văn hóa kinh doanh. Các tác giả đã góp phần làm rõ những  
kiến thức chung về ĐĐKD, mối quan hệ của ĐĐKD với kinh tế thị trường; vai trò  
của ĐĐKD trong sự phát triển của hoạt động kinh doanh và sự phát triển xã hội.  
Qua việc phân tích, các tác giả đã góp phần làm rõ từng bước những vấn đề lý luận  
về văn hóa kinh doanh.  
13  
Giáo trình “Đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp” của GS,TS. Bùi  
Xuân Phong, Nxb Văn hóa thông tin, năm 2009, lại đưa ra định nghĩa: “Đạo đức kinh  
doanh là một tập hợp các nguyên tắc,chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá,  
hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh. Đạo đức kinh doanh chính  
là đạo đức được vận dụng vào trong các hoạt động kinh doanh” [55; tr40]  
Trong giáo trình “Văn hóa kinh doanh” của tác giả Dương Thị Liễu (chủ  
biên), Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2009, khái niệm ĐĐKD được định nghĩa  
: “…là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá,  
hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh” [47; tr25]  
Tháng 12 năm 2012, Viện Triết học, Viện KHXH Việt Nam (nay là Viện Hàn  
lâm KHXH Việt Nam) phối hợp với Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc  
đã tổ chức hội thảo “Đạo đức trong kinh doanh” có sự tham gia của các nhà nghiên  
cứu đầu ngành của Trung Quốc và Việt Nam. Trong hội thảo, nhiều bài tham luận bàn  
về sự tác động của kinh tế thị trường tới đạo đức, vai trò của đạo đức trong kinh doanh  
và sự cần thiết của việc kinh doanh có đạo đức, đồng thời chỉ rõ thực trạng ĐĐKD ở  
Việt Nam và Trung Quốc, qua đó đưa ra những giải pháp mang tính trao đổi kinh  
nghiệm giữa hai nước. Với tham luận “Bàn về mối quan hệ giữa luân lý đạo đức với  
kinh tế thị trường”, GS,TS Cam Thiệu Bình- Phòng nghiên cứu Luân lý học, Viện Triết  
học, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc nhấn mạnh đến trách nhiệm, nghĩa vụ của  
doanh nghiệp: “Nghĩa vụ đạo đức của mỗi một chủ thể kinh tế chính là ở chỗ tích cực  
tham gia vào việc cải cách các quy tắc và chế độ kinh tế. Trong hoạt động kinh tế, đạo  
đức không nên là tiêu chuẩn dùng để phê phán hành vi của cá nhân, mà cần phải được  
xem là yếu tố quan trọng có tác dụng ràng buộc tất cả các thành phần tham gia vào thị  
trường.” [42; tr15]  
Tham luận “Đạo đức kinh doanh ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực  
tiễn”, PGS,TS Nguyễn Hữu Đễ- Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam  
quan niệm rằng: “Nói tới đạo đức kinh doanh là nói về mối quan hệ giữa doanh  
nghiệp với cộng đồng xã hội…Đạo đức kinh doanh giữ vai trò điều chỉnh hành vi  
kinh doanh của doanh nghiệp như là phương thức bổ sung cho việc thực thi luật  
pháp cho doanh nghiệp khi hoạt động kinh doanh”.[42; tr56]  
14  
Trong tham luận : “Đạo đức kinh doanh: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn  
của Việt Nam”, PGS,TS Phạm Văn Đức- Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt  
Nam quan niệm: “đạo đức kinh doanh có nội hàm là những quy định, quy tắc và các  
tiêu chuẩn chỉ đạo hành vi của chủ thể trong hoạt động kinh doanh. Đạo đức kinh  
doanh không chỉ bao gồm việc tuân thủ luật pháp, mà cao hơn nữa còn là việc thực  
hiện trách nhiệm mang tính đạo đức của doanh nghiệp, là việc bảo vệ quyền lợi cho  
những người có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp và quyền lợi của cộng  
đồng”.[42; tr67]  
Thực tế chỉ ra rằng, nhận thức về ĐĐKD ở Việt Nam hiện nay chưa có sự  
thống nhất và đầy đủ. Chính điều đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc  
vi phạm CMĐĐKD ở những mức độ khác nhau trong thực tiễn SXKD. Và theo ông  
có ba nguyên nhân chính dẫn đến sự yếu kém trong ĐĐKD và trách nhiệm của  
doanh nghiệp, đó là nguyên nhân về nhận thức, nguyên nhân kinh tế và nguyên  
nhân pháp lý.  
Hiện nay, bằng công cụ tìm kiếm trên mạng internet, có thể dễ dàng tìm đọc  
các tài liệu đề cập đến ĐĐKD với nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau. Có ý kiến cho  
rằng, ĐĐKD bao gồm những quy định và các tiêu chuẩn chỉ đạo hành vi trong thế  
hành vi đầu tư vào tương lai. Khi doanh nghiệp tạo tiếng tốt sẽ lôi kéo khách hàng.  
Và đạo đức xây dựng trên cơ sở khơi dậy nét đẹp tiềm ẩn trong mỗi con người luôn  
giả (1995) lại đưa ra định nghĩa: “Đạo đức kinh doanh là quan tâm tới kết quả ảnh  
hưởng mà mỗi quyết định điều hành - quản trị tác động lên người khác, cả bên trong  
và bên ngoài doanh nghiệp. Đó cũng là việc xem xét quyền và nghĩa vụ của mỗi cá  
nhân, các nguyên tắc nhân văn cần tuân thủ trong quá trình ra quyết định và bản chất  
các mối quan hệ giữa con người với con người”. Còn mạng kinh doanh trực tuyến  
bnet.com thì định nghĩa: “Đạo đức kinh doanh là hệ thống các nguyên tắc luân lý  
được áp dụng trong thế giới thương mại, chỉ dẫn các hành vi được chấp nhận trong cả  
chiến lược và vận hành hàng ngày của tổ chức. Phương thức hoạt động có đạo đức  
ngày càng trở nên cần thiết trong tìm kiếm thành công và xây dựng hình ảnh tích cực  
của doanh nghiệp”. (xem:Website:www.vietfin.net/business).  
15  
Những công trình kể trên, với cách tiếp cận và giải quyết những khía cạnh  
khác nhau của ĐĐKD, nhưng tất cả đều đi đến khẳng định tính tất yếu của sự tồn tại  
ĐĐKD ở nước ta hiện nay trên cơ sở làm rõ vai trò của nó đối với hoạt động SXKD  
và đối với sự phát triển kinh tế đất nước.  
Rõ ràng, những nghiên cứu về mặt lý luận ĐĐKD là một vấn đề cấp thiết,  
cần tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.  
1.2. Về giáo dục đạo đức kinh doanh  
Những nghiên cứu về ĐĐKD và tư tưởng về giáo dục ĐĐKD đã xuất hiện từ  
rất lâu trong lịch sử phát triển của xã hội loài người cả ở phương Đông lẫn phương  
Tây. Tuy nhiên, nó chỉ bắt đầu được nghiên cứu nghiêm túc và trở thành một môn  
khoa học kể từ nửa sau thế kỷ XX ở các nước công nghiệp phát triển phương Tây.  
Đối với Việt Nam, vấn đề ĐĐKD và giáo dục ĐĐKD chỉ thực sự được quan  
tâm chú ý khi chúng ta tiến hành cải cách kinh tế, thực hiện kinh tế thị trường định  
hướng XHCN từ năm 1986. Phải thấy rằng, kinh tế thị trường, nơi quan hệ kinh tế  
luôn hướng tới mục tiêu lợi nhuận, vì thế dễ làm biến đổi quan hệ người với người-  
mối quan hệ vốn dĩ rất được nâng niu, trân trọng. Nhiều người kinh doanh, với sức  
hút của đồng tiền đã không giữ được mình, đánh rơi chữ “tín”, “phụ bạc” người tiêu  
dùng- người mà lẽ ra phải rất được tôn trọng vì họ chính là “ân nhân”- bằng mọi thủ  
đoạn lừa lọc; đối với Nhà nước, họ tìm cách lẩn tránh nghĩa vụ; đối với cộng đồng, họ  
luôn xem nhẹ trách nhiệm xã hội…  
Để góp phần ngăn chặn những tiêu cực đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu  
đề cập tới khía cạnh giáo dục ĐĐKD trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay.  
Trong những công trình đó, định nghĩa kinh doanh được đưa ra nghiêm túc; những  
CMĐĐKD được đề xuất; những nội dung giáo dục được bắt đầu đề cập; những giải  
pháp cấp bách được kiến nghị…Đặc biệt, những công trình đó đều nhấn mạnh sự cần  
thiết phải giáo dục ĐĐKD cho mọi chủ thể kinh tế khi tham gia thị trường.  
Công trình “Phát huy những nhân tố truyền thống của dân tộc trong kinh doanh  
dịch vụ ở nước ta hiện nay”, Nguyễn Thị Xuân Thảo, Nguyễn Văn Tuyền, Nxb Chính  
trị quốc gia, năm 1999. Công trình nghiên cứu những giá trị và vai trò của nhân tố  
truyền thống dân tộc trong kinh doanh dịch vụ; qua đó đặt ra yêu cầu các chủ thể kinh  
doanh phải được giáo dục để nâng cao hiểu biết về bản sắc văn hóa, truyền thống của  
dân tộc; ý thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong hoạt động SXKD.  
16  
Tác giả Nguyễn Thị Lan lại xem xét vấn đề dưới góc độ “Nhìn nhận của  
người dân về đạo đức kinh doanh của các chủ doanh nghiệp tư nhân”, Tạp chí Tâm  
lý học, số 5 (2006). Tác giả đã xây dựng thang đo giá trị của người dân Hà Nội về  
ĐĐKD của các chủ doanh nghiệp tư nhân trong giai đoạn phát triển kinh tế thị  
trường ở nước ta hiện nay. Theo tác giả, các chủ doanh nghiệp tư nhân, tuy có nhiều  
đóng góp trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, nhưng không vì thế  
mà người dân xóa nhòa, san bằng tất cả cái tốt và cái xấu trong hoạt động kinh  
doanh của các chủ doanh nghiệp tư nhân. Trái lại, càng kỳ vọng bao nhiêu ở sự  
đóng góp của các chủ thể doanh nghiệp tư nhân đối với cộng đồng, với xã hội người  
dân càng có xu hướng nhìn nhận khắt khe hơn, yêu cầu cao hơn đối với họ. Vì vậy,  
việc tìm kiếm những giải pháp giáo dục và xây dựng chế tài nhằm nâng cao ĐĐKD  
trong giai đoạn hiện nay cần phải chú ý đến điều này.  
Giáo trình “Đạo đức và giáo dục đạo đức”, Hà Nhật Thăng (chủ biên), Đại học  
Sư phạm Hà Nội, năm 2007. Tác giả nghiên cứu bản chất và chuẩn mực đạo đức xã  
hội; nghiên cứu những nội dung giáo dục đạo đức ở một số đối tượng cụ thể. Tác giả  
đặc biệt nhấn mạnh tới đội ngũ các nhà doanh nghiệp và xem công tác giáo dục ĐĐKD  
là việc làm cấp bách, đặc biệt trong tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế.  
Những công trình trên đều nhấn mạnh sự cần thiết phải giáo dục ĐĐKD.  
Nhưng do những mục đích cụ thể và trong những khuôn khổ cụ thể, các công trình  
nghiên cứu được tiến hành thời gian qua thực sự chưa bao quát hết được những nội  
dung, những vấn đề ĐĐKD, đặc biệt là giáo dục ĐĐKD ở nước ta.  
2. Những nghiên cứu về chuẩn mực đạo đức kinh doanh và giáo dục  
chuẩn mực đạo đức kinh doanh  
2.1. Về chuẩn mực đạo đức kinh doanh  
Ở Việt Nam, thời gian qua, có tương đối nhiều công trình nghiên cứu sự biến  
đổi của thang giá trị đạo đức trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định  
hướng XHCN theo những cách tiếp cận khác nhau. Nhìn ở góc độ đạo đức nói  
chung, các công trình này đề cập tới nhiều vấn đề, như sự tác động của nền kinh tế  
thị trường với đạo đức, mối quan hệ giữa đạo đức với kinh tế trong điều kiện kinh tế  
thị trường, vấn đề xây dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường…Tuy nhiên,  
ĐĐKD theo quan niệm phổ biến hiện nay là đạo đức nói chung được vận dụng vào  
17  
quá trình SXKD, bởi vậy những vấn đề vừa nêu dưới đây cũng là vấn đề gắn liền  
hoặc ít nhiều liên quan tới ĐĐKD.  
Trong các công trình đó, các tác giả thực sự lo lắng cho sự “xuống cấp” của  
đạo đức trong nền kinh tế thị trường. Có thể thấy điều này qua các bài: “Cơ chế thị  
trường và những điều cần báo động”, Tạp chí Cộng sản số 10-1990 của tác giả Vũ  
Hiền; “Đôi điều suy nghĩ về giá trị và sự biến đổi của các giá trị khi nước ta chuyển  
sang nền kinh tế thị trường”, Tạp chí Triết học số 1- 1995 của tác giả Nguyễn Trọng  
Chuẩn; “Một số chuẩn mực giá trị ưu trội khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị  
trường”, Tạp chí Triết học số 1- 1995 của tác giả Nguyễn Văn Huyên; “Bàn về sự  
định hướng giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường”. Tạp chí Triết  
học số 1-1995 của Lê Đức Phúc…Ở những bài viết này, các tác giả đã chỉ ra sự  
biến động phức tạp trong đời sống xã hội Việt Nam khi bước vào nền kinh tế thị  
trường. Cụ thể là: các giá trị truyền thống đang có biến đổi đa dạng, những giá trị  
mới xuất hiện và càng có ảnh hưởng rõ rệt trong đời sống xã hội cùng với những  
phản giá trị đang có chiều hướng gia tăng; những suy nghĩ về các chuẩn mực, các  
giá trị và cả “những điều cần báo động” đang đặt ra, đòi hỏi phải có sự nhìn nhận  
thấu đáo, sự đánh giá nghiêm túc…  
Trong cuốn: “Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị  
trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay” do tác  
giả Nguyễn Chí Mỳ (chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1999, lại bàn  
về vấn đề đạo đức mới trong cơ chế thị trường; sự biến đổi của thang giá trị đạo đức  
trong cơ chế đó; xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý trong nền kinh tế thị  
trường định hướng XHCN. Từ đó, tập thể tác giả đề ra các phương hướng và giải  
pháp hình thành thang giá trị đạo đức mới.  
GS,TS Nguyễn Trọng Chuẩn với bài viết “Kinh tế thị trường định hướng  
XHCN ở nước ta hiện nay và những biến động trong lĩnh vực đạo đức”, đăng trên  
Tạp chí Triết học số 9- 2001, cho rằng, tất cả những biến động trong lĩnh vực đạo  
đức ở các mức độ khác nhau đều liên quan tới sự biến động trong nền kinh tế - xã  
hội thời kỳ chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế  
thị trường định hướng XHCN vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,  
18  
công bằng, văn minh. Những biến động đó tuy là khó tránh khỏi nhưng sẽ hạn chế  
được những mặt tiêu cực của nó nếu Đảng và Nhà nước kịp thời có những biện  
pháp thích hợp.  
Một số công trình nghiên cứu như: “Quán triệt mối quan hệ giữa kinh tế và  
đạo đức trong việc định hướng giá trị đạo đức hiện nay” của GS,TS. Nguyễn Ngọc  
Long, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lý luận, số 2- 1995; “Mối quan hệ giữa lợi ích  
cá nhân và đạo đức xã hội trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” của  
PGS,TS. Phạm Văn Đức, đăng trên Tạp chí Triết học, số 1- 2002, “Vấn đề xây dựng  
đạo đức trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường” của TS, Đỗ Lan Hiền, đăng  
trên Tạp chí Triết học, số 4- 2002;…Với các góc độ nhìn nhận khác nhau, các công  
trình trên đã góp phần quan trọng luận giải mối quan hệ và những tác động qua lại  
giữa đạo đức và kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Theo đó, nền kinh  
tế thị trường được coi là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những biến  
đổi quan trọng về mặt đạo đức. Ngược lại, đạo đức cũng thể hiện sự tác động to lớn  
của nó đối với quá trình phát triển xã hội, trong đó có đời sống kinh tế.  
Công trình “Những vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước  
ta hiện nay” của tập thể tác giả do Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Phúc  
(đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, năm 2003, đã phân tích những biến động  
trong lĩnh vực đạo đức do sự tác động (cả tích cực lẫn tiêu cực) của nền kinh tế thị  
trường. Công trình cũng đã lý giải vai trò của đạo đức với tư cách là động lực tinh  
thần của sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đề xuất và phân tích những giải  
pháp nhằm xây dựng đạo đức vừa như là mục tiêu, vừa như là động lực của sự phát  
triển kinh tế- xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường ở nước ta.  
Công trình nghiên cứu “Văn hóa đạo đức ở nước ta hiện nay- vấn đề và giải  
pháp” của hai tác giả Lê Quý Đức và Hoàng Chí Bảo do Nxb Văn hóa- Thông tin  
và Viện Văn hóa ấn hành năm 2007, lại đề cập tới nhiều vấn đề về văn hóa đạo đức  
như là những vấn đề thời sự cần được xem xét giải quyết một cách khoa học nhằm  
xây dựng một môi trường xã hội thực sự văn minh đóng vai trò cơ sở cho nền kinh  
tế thị trường định hướng XHCN. Về đạo đức, công trình này đưa ra những vấn đề  
chung, phân tích một cách toàn diện và sâu sắc những tác động của nền kinh tế thị  
trường, từ đó chỉ rõ nguyên nhân của những tiêu cực thể hiện sự “trượt dốc” trong  
lĩnh vực đạo đức. Biểu hiện của sự “trượt dốc” của đạo đức trong kinh doanh là  
19  
những vụ việc các doanh nghiệp vi phạm về pháp luật, như làm hàng giả, hàng kém  
chất lượng, trốn thuế, buôn lậu, lừa dối khách hàng, lừa dối người lao động, xả thải  
độc hại không xử lý ra môi trường…Đây cũng chính là thực trạng văn hóa đạo đức  
ở nước ta hiện nay.  
Trong các công trình trên, những biến động về giá trị và chuẩn mực đạo đức  
được khảo sát trong quan hệ với kinh tế thị trường. Theo đó, những giá trị, những  
chuẩn mực đạo đức truyền thống như: chủ nghĩa yêu nước, tính cộng đồng, đức tính  
trung thực, cần cù, tiết kiệm…đã và đang có sự đổi mới, mở rộng nội dung để đáp  
ứng yêu cầu của kinh tế thị trường. Một số giá trị và chuẩn mực mới xuất hiện và  
phát huy tác dụng; có thể kể đến như: tính thực tế, tính hiệu quả trong lao động,  
khát vọng làm giàu, tinh thần cạnh tranh,…Đồng thời, chủ nghĩa cá nhân, lối sống  
chạy theo đồng tiền, sự sính ngoại và xem thường các giá trị truyền thống,…đang  
có xu hướng “trỗi dậy”. Những biến động đó cho thấy tính hai mặt trong tác động  
của kinh tế thị trường. Vì thế, trong công tác giáo dục đạo đức hiện nay, cùng với  
việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, việc giải quyết một cách biện chứng mối  
quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và quốc tế, giữa xây và chống là  
rất quan trọng.  
Đề cập sâu sắc tới những tiêu chuẩn của đạo đức trong kinh doanh phải nhắc  
tới một số những công trình tiêu biểu sau:  
Cuốn sách “What’ s ethical in business” của tác giả Verne E.Henderson, Nxb  
Văn hóa, năm 1996. Bằng những dẫn chứng cụ thể và đầy sức thuyết phục tác giả đã  
phân tích và chỉ ra những công cụ hữu hiệu và dễ sử dụng để đề ra một quyết định có  
giá trị về mặt đạo đức trong bối cảnh kinh doanh ngày nay, đó là 4 khía cạnh: mục  
tiêu, biện pháp, động cơ và hậu quả. Đặc biệt tác giả nhấn mạnh tới việc xây dựng  
một bầu không khí đạo đức hoặc một tác phong lao động, giống như một loại thuốc  
ngừa bệnh, có thể thỏa mãn mọi nhóm đối tượng quan tâm và giữ cho hoạt động kinh  
doanh lành mạnh.  
Cuốn sách “Strategy : Winning in the marketplace : core concepts, analytical  
tools, cases”của tác giả Arthur A. Thompson, John E. Gamble, Nxb. Boston,  
McGraw - Hill, 2006 đã nghiên cứu và làm sáng tỏ sự khác biệt giữa ĐĐKD và  
trách nhiệm xã hội. Đặc biệt, các ông nhấn mạnh tới yếu tố cạnh tranh lành mạnh  
20  
như là một tiêu chuẩn của ĐĐKD. Qua đó, tác giả đã luận bàn tới những phương  
thức cạnh tranh góp phần giúp doanh nghiệp phát triển bền vững và khẳng định chỗ  
đứng của mình trong hoạt động SXKD.  
Ngoài việc đưa ra định nghĩa ĐĐKD, nhiều giáo trình còn đề xuất những nội  
dung nhằm xây dựng và hoàn thiện các CMĐĐKD. Giáo trình “Môi trường kinh  
doanh và đạo đức kinh doanh” do GS,TS. Ngô Đình Giao (chủ biên), Nxb Giáo dục,  
năm 1997, ngoài việc khẳng định: “…chữ tín là chuẩn mực cao nhất của đạo đức kinh  
doanh, mọi nhà kinh doanh Việt Nam và nước ngoài tại Việt Nam phải xây dựng chữ  
tín đối với khách hàng trong nước và ngoài nước” [23; tr29]; các tác giả còn cho rằng,  
ở Việt Nam với nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN thì tiêu chuẩn cơ bản  
nhất về ĐĐKD là ĐĐKD XHCN, xây dựng ĐĐKD XHCN; từ đó các tác giả yêu  
cầu: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là đạo đức kinh doanh của người Việt  
Nam”.[23; tr29]. Giáo trình “Đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp” của tác  
giả Phạm Quốc Toản, Nxb Lao động- xã hội, năm 2007, lại đặt yêu cầu chuẩn mực  
trong kinh tế xã hội và đức tính cá nhân. Có bốn chuẩn mực trong kinh tế xã hội: chủ  
nghĩa tập thể; lao động tự giác, sáng tạo; lòng yêu nước kết hợp với tinh thần quốc tế;  
chủ nghĩa nhân đạo. Bốn đức tính cá nhân: Tính trung thực; Tính nguyên tắc; Tính  
khiêm tốn; Lòng dũng cảm. Giáo trình “Văn hóa kinh doanh” của tác giả Dương Thị  
Liễu, Nxb Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội, năm 2011, các nguyên tắc CMĐĐKD  
được nêu ra là: tính trung thực; tôn trọng con người; gắn lợi ích của doanh nghiệp với  
lợi ích của khách hàng và xã hội; coi trọng hiệu quả gắn với tinh thần trách nhiệm xã  
hội; bí mật và trung thành với các trách nhiệm đặc biệt.  
Tại Hội thảo “Đạo đức trong kinh doanh”, tháng 12 năm 2012, do Viện Triết  
học Việt Nam và Viện Triết học Trung Quốc phối hợp tổ chức, GS,TS, Nguyễn  
Trọng Chuẩn với tham luận “Lợi ích và đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở  
Việt Nam hiện nay”, đã phân tích và cảnh báo một cách nghiêm túc về thực trạng kinh  
doanh thời gian qua. Tác giả nhận định, một số người chỉ vì lợi ích trước mắt, lợi ích  
cá nhân, lợi ích nhóm tạo thành các đường dây móc ngoặc chằng chịt với nhau đang  
tác động rất tiêu cực đến sự phát triển, nhất là phát triển bền vững của đất nước; môi  
trường tự nhiên bị tàn phá hết sức nặng nề; một số cá nhân, một số nhóm lợi ích giàu  
lên nhanh chóng một cách bất minh, phi pháp và vô đạo đức. Tác giả cho rằng: “Sự  
giàu có đó của họ được đánh đổi bằng sự thiệt thòi, sự mất nguồn sống và cả kế sinh  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 267 trang yennguyen 23160 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận án Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân thành phố Hà Nội hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_an_giao_duc_chuan_muc_dao_duc_kinh_doanh_cho_nong_dan_t.pdf