Lựa chọn nguyên liệu thích hợp để thu nhận gạo lứt nẩy mầm cho sản xuất đồ uống dinh dưỡng

Tạp chí phân tích Hóa, Lý và Sinh học - Tập 25, Số 2/2020  
LỰA CHỌN NGUYÊN LIỆU THÍCH HỢP ĐỂ THU NHẬN GẠO LỨT NẨY MẦM  
CHO SẢN XUẤT ĐỒ UỐNG DINH DƯỠNG  
Đến tòa soạn 19-9-2019  
Lưu Anh Văn, Nguyễn Thanh Hằng, Nguyễn Trường Giang  
Viện Công nghệ Sinh học và công nghệ thực phẩm, Đại học Bách khoa Hà Nội  
Đặng Thị Hường  
Khoa công nghệ Hóa, Đại học Công nghiệp Hà Nội  
SUMMARY  
SELECTION OF A SUITABLE RICE TO OBTAIN BROWN RICE STRAIN  
FOR PRODUCTION OF NUTRITIOUS BEVERAGE  
Germinated brown rice has a high nutritional content and has many healthy functional components. It  
is the most suitable raw material for the production of nutritious drinks. Among the three selected  
brown rice strains (AnhDao, N97 and TamXoan), AnhDao strain has the most balanced nutritional  
components, with 8.57% protein, 2.72% lipid, 86.11% starch, 57.33 mg/100g axit γ-aminobutyric  
(GABA). By sensory evaluation of AnhDao brown rice, It is more fragrant, soft and sweeter than the  
other two brown rice strains.  
When submerging grain of these brown rice strains in distilled water pH7 with the time from 1 to 10  
hours, at 300C±20C; with submerged for 6 grains hours, absorb saturated water of AnhDao and N97  
brown rice is higher compared with grain of TamXoan.  
To determine germination ability of 3 types of brown rice, the grains are incubated at 350C for 24  
hours, incomplete anaerobic conditions. As a result, AnhDao brown rice has the ability to germinate at  
99%, the α-amylase activity reaches 46.82 (U/g) and the enzyme Glutamat decacboxylase (GAD)  
reaches 6.32 (U/g), the highest compared to the two types of brown rice N97 and TamXoan.  
With many studies done to determine the most suitable strain, we selected AnhDao brown rice as a  
nutritious beverage production material.  
Keywords: Germination, germinated brown rice, α-amylase, GAD.  
1. MỞ ĐẦU  
của lớp vỏ cám bên ngoài. Tuy nhiên, gạo lứt  
khó bảo quản và đòi hỏi thời gian chế biến lâu  
hơn, cơm gạo lứt có cấu trúc cứng và có vị  
không hấp dẫn như cơm gạo trắng. Vì vậy, để  
cải thiện tình hình này nhiều sản phẩm từ gạo  
lứt nảy mầm đã được nghiên cứu và phát triển  
trên thị trường trong và ngoài nước. Quá trình  
nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm đồ uống từ  
gạo lứt nẩy mầm giàu dinh dưỡng thì việc lựa  
chọn nguyên liệu thích hợp rất quan trọng, mỗi  
một giống thóc có đặc điểm và tính chất khác  
Gạo là lương thực chính ở các nước Đông Nam  
Á. Trong quá trình chế biến, giống gạo và đặc  
tính của nó có vai trò quan trọng khi chế biến  
các sản phẩm thực phẩm. Tùy theo từng yêu  
cầu công nghệ mà người ta chọn lựa những  
loại gạo có đặc tính khác nhau, gạo lứt là loại  
gạo chỉ xay bỏ lớp vỏ trấu, chưa được bỏ lớp  
cám gạo. Đây là thực phẩm giàu dinh dưỡng  
hơn so với gạo trắng về chất xơ, các acid amin  
thiết yếu, khoáng chất, protein, vitamin B và  
axit γ-aminobutyric (GABA) do sự hiện diện  
147  
nhau nên giá trị dinh dưỡng của chúng cũng  
khác nhau.  
giống thóc nếp Anh Đào, N97 và Tám Xoan  
được xay tách vỏ trấu và loại bỏ tạp chất để thu  
được gạo lứt. Mỗi loại gạo lức, lấy 3g đem  
nghiền mịn để xác định các thành phần dinh  
dưỡng: hàm lượng tinh bột, protein, lipit,  
đường khử, tro và GABA.  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành  
khảo sát các yếu tố như thời gian hút nước bão  
hòa, tỷ lệ hạt nẩy mầm, hoạt độ α - amylase,  
Glutamat decacboxylase (GAD) đây là enzyme  
chuyển đổi acid glutamic thành một dạng hợp  
chất chức năng có lợi cho cơ thể là GABA.  
Qua các chỉ tiêu đó đánh giá chất lượng  
nguyên liệu, lựa chọn loại thóc phù hợp cho  
sản xuất đồ uống giầu dinh dưỡng và có độ cồn  
thấp (độ cồn nhỏ hơn 1%).  
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu thời gian hút nước  
bão hòa của gạo lứt ở nhiệt độ phòng (30 ±  
2°C): Lấy 50g gạo lứt mỗi loại, ngâm với dung  
dịch NaCl 0.9% khoảng 30 phút để sát khuẩn.  
Sau đó ngâm trong 100 ml nước cất pH 7.0 (tỷ  
lệ gạo : nước ngâm là 1:2 (w/v)) ở 30oC; sau  
các khoảng thời gian khác nhau là 0, 1, 2, 3, 4,  
5, 6, 7, 8, 9, 10 giờ, lấy mẫu để xác định độ  
ẩm (bằng cách nghiền mịn, cân, rồi mang sấy  
đến khối lượng không đổi ở 105oC) để chọn  
được thời gian gạo hút nước đạt trạng thái bão  
hòa.  
2. THỰC NGHIỆM  
2.1. Vật liệu  
Nguyên liệu nghiên cứu: 3 giống thóc sau:  
Giống thóc nếp Anh Đào do TS Đào Xuân  
Tân, nguyên Trưởng khoa Công nghệ sinh học,  
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2 và Công ty  
TNHH Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp  
VINABHTABA Bắc Ninh lai tạo và chọn lọc.  
Giống cho năng suất cao 80 tạ/ha, gạo đẹp, xôi  
dẻo, mùi thơm, khả năng chống chịu sâu bệnh  
tốt.  
Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt  
độ ủ đến khả năng nảy mầm của gạo lứt: Gạo  
lứt sau thời gian ngâm 6 giờ được vớt ra, cho  
vào khăn ẩm đã được tiệt trùng và đặt vào hộp  
kín có nắp, đem ủ ở các điều kiện nhiệt độ  
khác nhau: 25, 30, 35, 37oC trong 24 giờ. Lấy  
gạo ra, xác định tỷ lệ nảy mầm.  
Giống thóc Tám xoan (còn gọi là Tám thơm)  
được trồng tại các huyện Nghĩa Hưng, Hải  
Hậu, tỉnh Nam Định. Được bộ Nông nghiệp và  
Công nghiệp thực phẩm cho phép đưa vào sản  
xuất năm 1995. Giống cho năng suất 33 - 35  
tạ/ha, hạt gạo thon dài, thơm ngon.  
Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt  
độ ủ đến sự thay đổi hoạt độ α-amylase và  
GAD trong quá trình gạo lứt nảy mầm.  
Gạo lứt sau thí nghiệm 2 được lấy và để ráo  
nước, rồi cho vào khăn ẩm đã được tiệt trùng  
và đặt vào hộp kín có nắp, đem ủ ở các điều  
kiện nhiệt độ khác nhau: 25, 30, 35, 37oC trong  
24 giờ. Lấy gạo lứt nẩy mầm ra, nghiền mịn,  
rồi xác định hoạt độ α-amylase và hoạt độ  
GAD tại các nhiệt độ ủ.  
Giống thóc nếp N97 do Viện Khoa học kỹ  
thuật Nông nghiệp Việt Nam chọn tạo từ tổ  
hợp lai (giống nếp N87/N415). Giống cho năng  
suất trung bình đạt 55 - 60 tạ/ha, thâm canh tốt  
có thể đạt 65 -70 tạ/ha, hạt gạo bầu, xôi dẻo.  
Các giống thóc trên được xay thành gạo lứt  
bằng cách tách vỏ trấu, thời gian bảo quản gạo  
lứt khoảng 7 - 10 ngày trong ngăn mát tủ lạnh  
với nhiệt độ từ 4 - 60C.  
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Xác định hoạt độ α– amylase theo phương  
pháp Rukhliadeva – Geriacheva [1]  
Các hóa chất sử dụng: DNS (dinitrosalicylic  
acid), HCl, Na2HPO4, KH2PO4, CH3COONa,  
Na3C6H5O7 (sodium citrate), I2, KI xuất xứ từ  
Đức, tinh bột và các hóa chất khác có xuất xứ  
Trung Quốc.  
Đơn vị hoạt độ amylase (U/g) là lượng enzyme  
xúc tác thủy phân được một μmol tinh bột tan  
thành các dextrin có phân tử lượng khác nhau  
ở nhiệt độ 300C trong thời gian 10 phút trên  
một đơn vị khối lượng chất khô.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Hoạt độ α-amylase:  
2.2.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm  
Thí nghiệm 1: Đánh giá thành phần dinh  
dưỡng trong nguyên liệu gạo lứt ban đầu: Ba  
148  
Trong đó:  
Xác định GABA bằng phương pháp quang  
phổ (theo Karladee và Suriyong, 2012)[4].  
Xác định hàm lượng tro: Theo Lê Thanh Mai  
[3].  
A: Hoạt độ enzyme α-amylase theo khối lượng  
chất khô (U/g)  
C: Lượng tinh bột bị thủy phân (g)  
m: Khối lượng chất khô (g) tương ứng với 5 ml  
enzyme đem đi phản ứng  
Phương pháp đánh giá năng lực nảy mầm  
gạo theo Lê Thanh Mai [3].  
162: Khối lượng phân tử tinh bột  
Phân tích độ ẩm: Dựa trên nguyên tắc sấy  
mẫu đến khối lượng không đổi, theo Lê Thanh  
Mai [3].  
10: Thời gian thủy phân (phút)  
Xác định hoạt độ enzyme GAD bằng  
phương pháp của Zhang và cs (2004) [2]  
Một đơn vị hoạt độ của enzyme GAD là độ hấp  
thụ của dịch phản ứng ở bước sóng 630nm trên  
một đơn vị khối lượng chất khô của mẫu (U/g).  
Phương pháp xử lý số liệu: Mỗi thí nghiệm  
được thực hiện 3 lần lặp lại. Kết quả được xử  
lý bằng phần mềm ứng dụng Microsoft Excel  
2010 với độ sai số cho phép nhỏ hơn 0.05.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
A630.V  
Hoạt độ enzyme GAD (U/g): X =  
Fw.V0  
3.1. Khảo sát thành phần dinh dưỡng các  
loại gạo lứt  
Trong đó:  
Mẫu phân tích được chuẩn bị và thực hiện theo  
phương pháp bố trí thí nghiệm1 trong mục  
2.2.1.  
A630: Độ hấp thụ quang ở bước sóng 630nm  
V: Tổng thể tích dịch chiết enzyme (ml)  
Fw: Khối lượng mẫu (g)  
Thành phần dinh dưỡng của một số loại gạo  
lức cho kết quả trên Bảng 3.1 thể hiện giống  
gạo lứt Anh Đào có thành phần dinh dưỡng cân  
đối, hàm lượng Gaba cao đạt 57,33mg/100g  
chất khô, khi cảm quan thì giống Anh Đào có  
mùi thơm, vị ngọt và dẻo hơn so với giống gạo  
nếp N97 và Tám Xoan  
Vo: Thể tích dịch enzyme đem phản ứng(ml)  
Xác định hàm lượng carbohydrate [3].  
Xác định tổng hàm lượng protein: Phương  
pháp Kjeldahl [3].  
Phương pháp xác định tổng hàm lượng  
lipid: Sử dụng phương pháp Soxhlet [3].  
Bảng 3.1: Thành phần dinh dưỡng của các loại gạo lứt  
Hàm lượng dinh dưỡng (% chất khô)  
Loại gạo lứt  
Tinh bột  
Lipit  
Protein  
Đường khử  
Tro  
Gaba mg/100g  
87.21  
±0.27  
86.11  
±0.46  
87.08  
±0.11  
1.81  
± 0.33  
2.72  
9.56  
± 0.26  
8.57  
0.27  
± 0.06  
0,34  
1.15  
±0.16  
1.53  
19,28  
±0.35  
Tám Xoan  
Anh Đào  
N97  
57,33 ±0.67  
26,82 ±0.48  
± 0.15  
2.97  
± 0.21  
± 0.02  
0.28  
± 0.07  
1.8  
7.87  
±
± 0.35  
0.44  
± 0.04  
± 0.13  
3.2. Khảo sát thời gian hút nước bão hòa  
của các loại gạo lứt  
còn cao nên nước được chuyển nhanh vào  
trong hạt Sau khoảng thời gian từ 4 - 6 giờ, độ  
ẩm tất cả các loại gạo lứt này đều tăng chậm lại  
(thể hiện trên đồ thị Hình 3.1 giảm dần độ  
dốc). Cũng trên đồ thị cho thấy độ ẩm của gạo  
lứt Anh Đào và N97 đều đạt trạng thái bão hòa  
sau 6 giờ. Và độ ẩm của cả hai loại này đều  
thay đổi không đáng kể khi thời gian ngâm kéo  
dài lớn hơn và bằng 7 giờ.  
Mẫu phân tích được chuẩn bị và thực hiện theo  
phương pháp bố trí thí nghiệm 2 trong mục  
2.2.1.  
Kết quả nghiên cứu Hình 3.1 cho thấy trong 4  
giờ đầu ngâm trong nước thì độ ẩm của hạt  
tăng nhanh trên cả ba giống gạo lứt, do lúc đầu  
chênh lệch độ ẩm bên trong và bên ngoài hạt  
149  
Số liệu trên cũng tương đồng với nghiên cứu  
của Banchuen (2010) về tối ưu hóa điều kiện  
nảy mầm trên 3 giống lúa có hàm lượng  
amylose khác nhau (Niaw Dam Peuak (2,7%  
amylose), Sangyod Phatthalung (14,69%  
amylose) và Chiang Phatthanglung (21,72%  
amylose)) [5].  
Mẫu phân tích được chuẩn bị và thực hiện theo  
phương pháp bố trí thí nghiệm 3 trong mục  
2.2.1.  
Kết quả nghiên cứu được trình bày trên Hình  
3.2 cho thấy nhiệt độ có ảnh hưởng đến tỷ lệ  
nảy mầm của gạo lứt. Tỷ lệ nảy mầm của ba  
giống gạo lứt cao nhất đạt được 99% khi ủ ở  
35oC, tăng nhiệt độ lên 37oC thì tỷ lệ nảy mầm  
của các giống giảm nhẹ. Theo nghiên cứu về tỷ  
lệ nảy mầm của Cung Tố Quỳnh trên hai giống  
gạo lứt Jesmine 85 và Huyết Rồng cũng cho  
kết quả nẩy mầm khá cao, khi ngâm gạo lứt ở  
pH6, đem ủ ở 35oC tỷ lệ nảy mầm của cả hai  
loại gạo đều đạt trên 75% [8]. Số liệu này cũng  
phù hợp với nghiên cứu của Trần Huỳnh Như  
An khi ủ gạo lứt IR50404 ở 36oC với độ dày  
0,3cm cho tỷ lệ nảy mầm đạt 90,5% [9]. Như  
vậy khoảng nhiệt độ ủ nẩy mầm từ 300C đến  
370C cho tỷ lệ nẩy mầm cao, phù hợp để lựa  
chọn.  
Hình 3.1: Thời gian hút nước bão hòa của các  
loại gạo lứt  
Tám  
Xoan  
99  
96  
95  
100  
80  
60  
40  
20  
0
87  
Nghiên cứu cho thấy gạo Niaw Dam Peuak có  
hàm lượng amylose thấp nhất nhưng khả năng  
hút ẩm cao nhất đạt độ ẩm bão hòa ở mức  
40%. Với giống Chiang Phatthanglung có hàm  
lượng amylose cao nhất đạt độ ẩm bão hòa  
thấp nhất 30%. Như vậy, hàm lượng amylose  
có ảnh hưởng đến khả năng hút ẩm cao hay  
thấp của từng giống gạo. Điều này lý giải trong  
ba giống gạo thì Tám Xoan là gạo tẻ nên có  
hàm lượng amylose cao, Anh Đào và N97 là  
gạo nếp hàm lượng amylase thấp. Vì thế, dù  
chúng có hàm lượng tinh bột gần bằng nhau,  
nhưng khả năng hút ẩm bão hòa lại khác nhau.  
Nghiên cứu về ảnh hưởng của thời gian ngâm,  
theo tài liệu tham khảo [6, 7] cũng cho kết quả  
tương tự khi gạo lứt hút nước đạt trạng thái bão  
hòa sau khoảng thời gian ngâm 5 - 6 giờ. Do  
đó quá trình ngâm gạo lứt Anh Đào và N97 đạt  
trạng thái bão hòa sau 6 giờ với độ ẩm lần lượt  
là 36,43% và 34,62% (w/w), thời gian ngâm  
gạo lứt Tám Xoan đạt trạng thái bão hòa sau 7  
giờ với độ ẩm 32,46% (w/w).  
25  
30  
35  
37  
Nhiệt độ (0C)  
Hình 3.2: Đánh giá khả năng nảy mầm của các  
loại gạo lứt ở các nhiệt độ  
Dựa vào kết quả nghiên cứu trên ta thấy giống  
gạo lứt Anh Đào có khả năng nảy mầm tốt nhất  
(đạt 99% ở 35oC)  
3.4. Khảo sát sự biến đổi hoạt độ α-amylase  
và GAD của gạo lứt nảy mầm ở nhiệt độ  
khác nhau  
Mẫu phân tích được chuẩn bị và thực hiện theo  
phương pháp bố trí thí nghiệm 4 trong mục  
2.2.1.  
3.4.1. Khảo sát sự biến đổi hoạt độ α-amylase  
của các loại gạo lứt  
Kết quả Hình 3.3 cho thấy nhiệt độ có ảnh  
hưởng nhiều đến hoạt độ α-amylase sinh ra  
trong quá trình nảy mầm của gạo lứt. Tại các  
3.3. Khảo sát khả năng nảy mầm của các  
loại gạo lứt  
150  
khoảng nhiệt độ khảo sát, giống gạo lứt Anh  
Đào luôn cho hoạt độ α-amylase cao hơn đáng  
kể so với hai giống N97 và Tám Xoan. Tại  
nhiệt độ 25oC, hoạt độ α-amylase ở ba giống  
gạo đạt thấp nhất, khi tăng nhiệt độ lên 30oC,  
35oC hoạt độ tăng dần và đạt cao nhất tại 35oC  
(giống Anh Đào α-amylase đạt 46,82 U/g), tiếp  
tục tăng nhiệt độ nên 37oC thì hoạt độ α -  
amylase giảm nhẹ. Kết quả nghiên cứu này phù  
hợp với nghiên cứu của Lê Nguyễn Duy Đoan  
và cs [7].  
luận tương tự của Ohtsubo, hoạt độ GAD của  
các giống gạo lứt nảy mầm ở các nhiệt độ khác  
nhau được xác định. Hoạt độ GAD trong ba  
loại gạo lứt tăng dần từ 25oC đến 35oC và có  
xu hướng giảm nhẹ ở 37oC [13]. Tại nhiệt độ  
35oC hoạt độ GAD đạt cao nhất ở giống Anh  
Đào (đạt 6.32 U/g)  
Theo nghiên cứu của Quản Lê Hà (1998) trên  
giống thóc Mộc Tuyền, sau khi ủ thóc ở các  
nhiệt độ khác nhau (20, 25, 30oC) trong 5  
ngày, hoạt độ amylase tăng dần từ 20oC đến  
30oC và cao nhất ở nhiệt độ ủ 30oC [10].  
Hình 3.4 Sự biến đổi hoạt độ enzyme GAD của  
các loại gạo lứt nảy mầm ở các nhiệt độ khác  
nhau  
4. KẾT LUẬN  
Từ các kết quả nghiên cứu thu được ở trên ta  
thấy: Giống gạo lứt Anh Đào có thành phần  
dinh dưỡng cân đối, hàm lượng Gaba đạt cao  
nhất 57,33mg/100gam chất khô. Thời gian hút  
nước bão hòa ngắn 6 giờ, nhiệt độ ủ ở 35oC  
cho tỷ lệ nảy mầm đạt 99%, hoạt độ enzyme α-  
amylase đạt 46,82 (U/g) và GAD đạt 6,32  
(U/g) cao hơn so với hai giống gạo lứt Tám  
Xoan và nếp N97. Các thông số này đều thích  
hợp cho quá trình thủy phân, lên men dịch  
đường để làm đồ uống giàu dinh dưỡng, vì vậy  
chúng tôi lựa chọn giống gạo lứt Anh Đào là  
nguyên liệu cho các nghiên cứu tiếp theo.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Hình 3.3: Nhiệt độ ảnh hưởng hoạt độ α-  
amylase của các loại gạo lứt nảy mầm.  
Veluppillai (2009) khẳng định tại tỷ lệ gạo lứt  
nảy mầm đạt cao nhất (77.07%) cho hoạt độ  
amylase cao nhất (146.06 U/g) [11]. Kết quả  
này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu khi  
gạo Anh Đào ủ ở 35oC cho tỷ lệ nảy mầm cao  
nhất (99%) với hoạt độ α-amylase đạt được  
trong thí nghiệm là (46.82 U/g).  
3.4.2. Khảo sát sự biến đổi hoạt độ Glutamat  
decacboxylase (GAD) của các loại gạo lứt nảy  
mầm ở các nhiệt độ khác nhau  
[1]  
Rukhliadeva,  
A.P.,Phylatova  
T.G,  
Cherednychenko V.S. (1979) The reference  
book for workers of laboratories of distilleries.  
Moscow, Food Industry, 232p  
Kết quả nghiên cứu Hình 3.4 cho thấy nhiệt độ  
ảnh hưởng khá lớn đến hoạt độ GAD sinh ra  
trong quá trình nảy mầm của gạo lứt.  
[2] Zhang,H.,Yao,H., Chen, F., and Wang, X.  
2006.Purification and characterization of  
glutamate decarboxylase from rice germ. Food  
Chemistry, 101: 1670–1676.  
Theo nghiên cứu của Ohtsubo và cs (2000) chỉ  
ra rằng hoạt độ GAD trong gạo lứt đã nảy mầm  
tuyến tính với hàm lượng GABA sinh ra theo  
thời gian [12]. Khwanchai và cs cũng cho kết  
[3] Le Thanh Mai (chủ biên) (2006). Các  
151  
phương pháp phân tích ngành công nghệ lên  
men.NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.  
[4] Karladeea, D., Suriyong (2012), γ-  
Aminobutyric acid (GABA) content in  
different varieties of brown rice during  
germination, Science Asia, 38: 13-17.  
[9] Trần Huỳnh Như An, (2016), Ảnh hưởng  
của các điều kiện ngâm và nảy mầm đến hoạt  
tính α-amylase của hai giống lúa IR50404 và  
Một bụi đỏ, Tạp chí Khoa học Trường Đại học  
Cần Thơ, Số chuyên đề: Nông nghiệp (1): 105-  
112.  
[5] Banchuen, J (2010), Bio-active compounds  
in germinated brown rice and its application,  
The Degree of Doctor of Philosophy in Food  
Technology Prince of Songkla University: 6-  
63.  
[10] Quản Lê Hà (1998), Nghiên cứu một số  
đặc tính và ứng dụng hệ enzyme thủy phân tinh  
bột và protein trong sản xuất các đồ uống,  
Luận án Tiến sĩ kỹ thuật, chuyên ngành: Công  
nghệ sản phẩm lên men và nước uống không  
có rượu, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.  
[11] Veluppillai, S el at (2009), Biochemical  
Changes Associated with Germinating Rice  
Grains and Germination Improvement, Rice  
Science 16(3): 240 – 242.  
[6] Bello M, Tolaba, M.P, ang Suarez, C  
(2004), Factors affecting water uptake of rice  
grain during soaking, Food Science and  
Technology Volume 37, Issue 8, Pages 811-  
816.  
[7] Le Nguyen Duy Doan, Nguyen Cong Ha  
(2014), Influence of soaking and germination  
conditions on the γ-aminobutyric acid (GABA)  
content of 2 rice varieties (IR 50404 and  
Jasmine 85) from Mekong Delta, Tạp chí Khoa  
học và Phát triển, tập 12, số 1: 59-64.  
[12] Ohtsubo, S., Asano, S and Matsumoto, I  
(2000), Enzymatic Production of γ-  
Aminobutyric Acid Using Rice (Oryza sativa)  
Germ, Food Sci. Technol. Res., 6 (3), 208-211.  
[13] Khwanchai, P., Chinprahast, N.,  
Pichyangkura,R and Chaiwanichsiri, S (2014),  
Gamma-Aminobutyric Acid and Glutamic  
Acid Contents, and the GAD Activity in  
Germinated Brown Rice (Oryza sativa L.):  
Effect of Rice Cultivars, Food Sci. Biotechnol,  
23(2): 373-379.  
[8] Cung Thị Tố Quỳnh, Nguyễn Hoàng Dũng,  
Lại Quốc Đạt (2013), Nghiên cứu xây dựng  
quy trình sản xuất gạo mầm (gạo gaba) từ gạo  
lứt Việt Nam, VietNam Journal of Science and  
Technology, Vol 51, No 1.  
152  
pdf 6 trang yennguyen 12420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lựa chọn nguyên liệu thích hợp để thu nhận gạo lứt nẩy mầm cho sản xuất đồ uống dinh dưỡng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdflua_chon_nguyen_lieu_thich_hop_de_thu_nhan_gao_lut_nay_mam_c.pdf