Khóa luận Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
NGUYỄN THỊ MIỀN  
NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG CÁC LOÀI CÂY THUỐC VÀ ĐỀ XUẤT  
GIẢI PHÁP BẢO TỒN TẠI XÃ THẦN SA, HUYỆN VÕ NHAI,  
TỈNH THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo:  
Chuyên ngành:  
Lớp:  
Chính quy  
Quản lí tài nguyên rừng  
K48-Quản lí tài nguyên rừng  
Lâm nghiệp  
Khoa :  
Khoa học:  
2016 – 2020  
Thái Nguyên, năm 2020  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
NGUYỄN THỊ MIỀN  
NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG CÁC LOÀI CÂY THUỐC VÀ ĐỀ XUẤT  
GIẢI PHÁP BẢO TỒN TẠI XÃ THẦN SA, HUYỆN VÕ NHAI,  
TỈNH THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo:  
Chuyên ngành:  
Lớp:  
Chính quy  
Quản lí tài nguyên rừng  
K48-Quản lí tài nguyên rừng  
Lâm nghiệp  
Khoa :  
Khoa học:  
2016 – 2020  
Giảng viên hướng dẫn:  
Th.S Phạm Đức Chính  
Thái Nguyên, năm 2020  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân  
tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn  
toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu trách  
nhiệm hoàn toàn.  
Thái Nguyên, ngày tháng 06 năm 2020  
XÁC NHẬN CỦA GVHD  
NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN  
Nguyễn Thị Miền  
Xác nhận của giáo viên chấm phản biện  
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót  
sau khi hội đồng chấm yêu cầu.  
(Ký, ghi rõ họ tên)  
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Được sự phân công của Nhà trường, Khoa Lâm Nghiệp,Trường Đại học  
Nông Lâm Thái Nguyên, sau 5 tháng thực tập em đã hoàn thành khóa luận tốt  
nghiệp “Nghiên cứu sự đa dạng các loài cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo  
tồn tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”.  
Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, ngoài sự nỗ lực học hỏi của bản thân  
còn có sự hướng dẫn tận tình của thầy cô, bạn bè, cô chú, anh chị tại địa bàn  
xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.  
Xin cảm ơn thầy giáo – Ths. Phạm Đức Chính, người đã hướng dẫn cho  
em trong suốt thời gian thực tập đã chỉ dẫn, định hướng đi cho em để em hoàn  
thành tốt nhiệm vụ. Xin cảm ơn sự giúp đỡ của cán bộ Ủy ban Nhân dân xã  
Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên và cán bộ Kiểm lâm Khu bảo tồn  
thiên nhiên Thần Sa-Phượng Hoàng, cùng sự chỉ bảo tận tình của các thầy  
lang, bà mế xã Thần Sa.  
Đồng thời xin cảm ơn thầy cô giáo Khoa Lâm nghiệp, các bộ phận liên  
quan thuộc Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và người thân trong gia  
đình cùng bạn bè thân thiết đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành khóa  
luận tốt nghiệp.  
Mặc dù đã nỗ lực cố gắng, tuy nhiên do hạn chế về kinh nghiệm cũng  
như về thời gian và trình độ nghiên cứu nên khóa luận tốt nghiệp không thể  
tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý, chỉ bảo của  
thầy cô cũng như các bạn đọc khác để khóa luận được hoàn thiện hơn nữa.  
Tôi xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày 29 tháng 06 năm 2020  
Nguyễn Thị Miền  
iii  
DANH MỤC BẢNG  
Bảng 3.1.Mẫu bảng điều tra nguồn cây thuốc được cộng đồng một số dân tộc  
thiểu số ở khu vực nghiên cứu sử dụng trong phòng và điều trị bệnh............ 31  
Bảng 4.1. Số loài cây thuốc đã phát hiện ở khu vực nghiên cứu.................... 35  
Bảng 4.2. Sự phân bố số lượng loài cây thuốc trong các họ........................... 38  
Bảng 4.3. So sánh các họ có nhiều loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu (1)  
với số loài của từng họ trong hệ thực vật Việt Nam (2) ................................. 40  
Bảng 4.4. Sự đa dạng về chi trong các họ được thể hiện trong  
bảng dưới đây:................................................................................................. 41  
Bảng 4.5. Đa dạng về dạng sống của nguồn cây thuốc ở khu vực  
nghiên cứu....................................................................................................... 42  
Bảng 4.6. Sự phân bố cây thuốc theo môi trường sống ở khu vực  
nghiên cứu....................................................................................................... 44  
Bảng 4.7. Danh lục cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ghi nhận..................... 46  
Bảng 4.8. Đa dạng của các bộ phận cây được sử dụng làm thuốc.................. 47  
Bảng 4.9. Đa dạng tần số các bộ phận cây được sử dụng làm thuốc.............. 50  
Bảng 4.10. Tỷ lệ số loài có công dụng chữa các nhóm bệnh cụ thể............... 51  
Bảng 4.11. Tỷ lệ số lượng thầy lang trong 2 dân tộc...................................... 53  
Bảng 4.12. Tỷ lệ về độ tuổi, giới tính của thầy lang...................................... 53  
iv  
DANH MỤC HÌNH  
Hình 3.1. Một số hình ảnh điều tra phỏng vấn................................................ 29  
Hình 3.2. Một số hình ảnh điều tra thực địa ................................................... 32  
Hình 4.1: Hình ảnh một số loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu .................. 37  
Hình 4.2. Tỷ lệ các dạng sống của cây thuốc ở khu vực nghiên cứu.............. 43  
Hình 4.3. Sự phân bố cây thuốc theo môi trường sống của nguồn cây thuốc ở  
khu vực nghiên cứu......................................................................................... 44  
v
MỤC LỤC  
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i  
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................ii  
DANH LỤC BẢNG.........................................................................................iii  
DANH LỤC HÌNH .......................................................................................... iv  
MỤC LỤC......................................................................................................... v  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................. vii  
PHẦN 1. MỞ ĐẦU.......................................................................................... 1  
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1  
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài................................................................... 2  
1.3. Ý nghĩa của đề tài....................................................................................... 3  
1.3.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 3  
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn..................................................................................... 3  
PHẦN 2. TỔNG QUAN VẪN ĐỀ NGHIÊN CỨU ...................................... 4  
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu...................................................... 4  
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước ................................... 10  
2.2.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới..................... 10  
2.2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở trong nước ................... 13  
2.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu................................................................ 24  
2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu................................................ 24  
2.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu..................................... 26  
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU............................................................................................... 28  
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 28  
3.2. Nội dung nghiên cứu................................................................................ 28  
3.3. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 28  
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN........................... 35  
vi  
4.1. Sự đa dạng thành phần loài cây thuốc xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh  
Thái Nguyên.................................................................................................... 35  
4.1.1. Đa dạng các bậc taxon........................................................................... 35  
4.1.3. Đa dạng về môi trường sống của thực vật làm thuốc ........................... 43  
4.1.4 Những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở Việt Nam đã ghi nhận được  
tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên......................................... 46  
4.2. Đánh giá tình hình sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc tại khu vực  
nghiên cứu....................................................................................................... 47  
4.2.1. Đa dạng về bộ phận sử dụng của cây thuốc.......................................... 47  
4.2.2. Đa dạng về công dụng chữa bệnh của các loài cây thuốc..................... 50  
4.2.3. Tỷ lệ thầy thuốc được phỏng vấn.......................................................... 53  
4.3. Một số giải pháp bảo tồn và phát triển cây thuốc tại xã Thần Sa,huyện Võ  
Nhai, tỉnh Thái Nguyên................................................................................... 54  
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ....................................................... 56  
5.1. Kết luận .................................................................................................... 56  
5.2. Đề nghị..................................................................................................... 57  
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 58  
vii  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
Từ, cụm từ viết tắt  
Giải nghĩa  
Cc  
Cả cây  
Đ
Sống ở đỉnh núi  
Quả  
Q
Th  
Thung lũng  
KVNC  
Khu vực nghiên cứu  
Khoa học & công nghệ  
Lá  
KH&CN  
L
Lp  
Dây leo  
Me  
Cây gỗ trung bình  
Cây gỗ nhỏ  
Mi  
Na  
Cây bụi  
NCTN & MT  
Nghiên cứu tài nguyên & môi trường  
Nghị định Chính phủ  
Rễ  
NĐ - CP  
R
R
Sống ở rừng  
ST & TNSV  
Sinh thái & tài nguyên sinh vật  
Thân thảo(cỏ)/ Thân  
Ủy ban nhân dân  
Vỏ  
Th  
UBND  
V
KBT  
S
Khu bảo tồn  
Sống ở sườn núi, bìa rừng  
Sống ở vườn tạp  
Vu  
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Tính cấp thiết của đề tài  
Cây thuốc dân gian từ lâu đã được nhiều người quan tâm đến đây là  
nguồn tài nguyên thực vật có giá trị thiết thực cho các cộng đồng địa phương  
trong việc phòng chữa bệnh, ngoài ra nó còn có giá trị trong việc bảo tồn  
nguồn gen, cung cấp cho lĩnh vực dược học.  
Cho đến nay Việt Nam vẫn được đánh giá là nước có nguồn tài nguyên  
sinh vật đa dạng và phong phú, trong đó có tài nguyên cây thuốc, đặc biệt là  
khu vực Trường Sơn. Thêm vào đó với những kinh nghiệm đã được tích lũy  
qua 4000 năm lịch sử,đã sử dụng nguồn tài nguyên phục vụ cho nhu cầu cuộc  
sống từ ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh vv… của cộng đồng 54  
dân tộc anh em. Đó là một ưu thế lớn trong việc sử dụng nguồn tài nguyên  
thực vật trong đó có nguồn tài nguyên cây thuốc góp phần nâng cao đời sống  
và sức khỏe của mọi người đặc biệt là các đồng bào Dân tộc thiểu số ở các  
vùng sâu, vùng xa nơi cuộc sống của họ gặp nhiều khó khăn phụ thuộc rất  
nhiều vào tài nguyên thiên nhiên trong đó có rừng (internet).  
Theo các nhà phân loại thực vật ở Việt Nam giàu tài nguyên thực vật  
nhất Đông Nam Á, nơi có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao. Trong đó có  
3.948 loài được dùng làm thuốc (viện dược liệu, 2007) chiếm khoảng 37% số  
loài đã biết. Đó chưa kể đến những cây thuốc gia truyền của 53 dân tộc thiểu  
số ở Việt Nam, cho đến nay chúng ta chỉ mới biết được có một phần. Ngoài ra  
các nhà khoa học Nông Nghiệp đã thống kê được 1.066 loài cây trồng trong  
đó cũng có 179 loài cây sử dụng làm thuốc (internet).  
Sức khỏe lại là một phần quan trọng của con người, trong mỗi chúng ta  
không phải lúc nào cũng khỏe và ai cũng khỏe cả, mà nhiều lúc ốm đau, bệnh  
tật cần thuốc chữa bệnh nhằm ổn định và nâng cao cuộc sống hằng ngày. Với  
các đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa xôi hẻo lánh khi mà nguồn  
2
thuốc Tây Y không phục vụ đến kịp thời. Các bài thuốc Nam lại là nguồn  
nguyên liệu sẵn có, đó là các loài cây xung quanh mình để sử dụng làm thuốc  
an toàn và có hiệu quả. Chính vì thế mà các loài thuốc dân gian của các đồng  
bào dân tộc thật sự cần thiết và hết sức quan trọng đôi khi được xem như là  
“sức mạnh vô hình” cứu sống tính mạng con người.  
Hiện nay nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị suy giảm nghiêm  
trọng, kéo theo đa dạng sinh học cũng bị giảm trong đó có cả cây thuốc bản  
địa có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần, việc nghiên cứu phát hiện  
và bảo tồn tiến đến sử dụng bền vững bền vững tài nguyên cây thuốc bản địa  
là một vấn đề rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy, công tác  
bảo tồn tính ĐDSH, bảo vệ vốn gen quí cũng như các nguồn tài nguyên thiên  
nhiên khác đã được tỉnh Thái Nguyên rất quan tâm. Trong những năm qua, rất  
nhiều xã thuộc khu Bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, trong đó có  
xã Thần Sa, đã có một số cuộc điều tra, đánh giá tài nguyên rừng, bước đầu  
cũng đã đánh giá được giá trị, tiềm năng và ý nghĩa của một khu bảo tồn. Vấn  
đề đặt ra là làm thế nào để ghi nhận và gìn giữ vốn kiến thức quý báu trong  
việc sử dụng cây thuốc, xuất phát từ lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:  
"Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo  
tồn tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên".  
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài  
- Xác định được tính đa dạng tài nguyên cây thuốc tại Khu xã Thần Sa,  
huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.  
- Xác định được thực trạng khai thác, sử dụng tài nguyên cây thuốc tại  
xã Thần Sa.  
- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển các loài cây  
thuốc nói riêng và hệ thực vật nói chung tại khu vực nghiên cứu.  
3
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa khoa học  
- Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp học viên làm quen với việc nghiên  
cứu khoa học, củng cố kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế; biết  
cách thu thập, phân tích và xử lý thông tin.  
- Bổ sung dẫn liệu về tính đa dạng tài nguyên cây thuốc tại xã Thần Sa,  
huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.  
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Kết quả nghiên cứu là những dẫn liệu cập nhật và là cơ sở khoa học cho  
việc đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc trong hệ sinh  
thái rừng tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, thuộc Khu BTTN Thần Sa -  
Phượng Hoàng.  
4
PHẦN 2  
TỔNG QUAN VẪN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu  
Trong khoảng một thập kỷ trở lại đây, mặc dù y học hiện đại phát triển  
mạnh mẽ song y học cổ truyền (YHCT) vẫn có vai trò quan trọng, là phương  
thức chữa bệnh được nhiều người tìm đến.  
Trong những năm gần đây mục tiêu của công tác y dược học cổ truyền  
tiếp tục được khẳng định rõ trong chỉ thị 24/CT-TW ngày 4/7/2008 của Ban  
bí thư Trung ương Đảng về “Phát triển nền đông y Việt Nam và Hội Đông y  
Việt Nam trong tình hình mới”.  
Ngày 30/11/2010, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục có Quyết định về việc  
ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển y, dược cổ truyền  
Việt Nam đến năm 2020, tạo sự chuyển biến và tạo động lực để phát huy giá  
trị của YHCT, đóng góp vào sự nghiệp chăm sóc sức khỏe, đáp ứng nhu cầu  
khám chữa bệnh bằng YHCT cho nhân dân theo hướng phát triển lâu dài.  
Phòng và chữa bệnh bằng các loài thảo dược, cây thuốc dân gian đã  
được con người sử dụng từ hàng ngàn năm nay. Nó vẫn đang tồn tại và ngày  
càng phát triển mạnh mẽ, hàng năm, con người đã tìm ra được những hoạt  
chất quý trong các loài thảo dược có thể phòng và chữa trị được những căn  
bệnh từ đơn giản hàng ngày như cảm cúm, ho sốt đến những căn bệnh nan y  
như ung thư, bệnh tim, suy thận,... hay những căn bệnh nhiệt đới nguy hiểm  
như dịch cúm A H5N1, H1N1,... Các cây thuốc và bài thuốc có được nhờ  
kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ giờ đây đang dần mất đi theo thời gian.  
Do đó việc gìn giữ vốn kiến thức quý báu trong việc sử dụng cây thuốc và bài  
thuốc từ thảo dược là việc hết sức cần thiết.  
Trong tất cả các nền văn hóa của nhân loại từ thời thượng cổ đến nay,  
con người vẫn luôn coi trọng cây cỏ như là một nguồn thuốc chủ yếu để chữa  
bệnh và bảo vệ sức khỏe.  
5
Trên thế giới, tính đến nay số loài thực vật được sử dụng vào mục đích  
chữa bệnh lên đến khoảng 35.000 – 70.000 loài. Trong đó, Trung Quốc ước  
tính có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.500 – 8.000 loài, Indonesia có  
khoảng 7.500, Malaysia có khoảng 2.000 loài,  
Nepan có hơn 700 loài, Srilanka có khoảng 550 – 700 loài, Hàn Quốc  
có khoảng 1.000 loài thực vật có thể được sử dụng trong y học truyền thống.  
Trong những năm gần đây, nước Mỹ - một nước có nền công nghiệp hiện đại,  
rất quan tâm đến nguồn tài nguyên cây thuốc phục vụ cho công tác chữa bệnh,  
họ đã thực hiện những chương trình sàng lọc các hợp chất tự nhiên từ thực vật  
nói chung và thực vật làm thuốc nói riêng. Đồng thời, nước này còn đầu tư  
lớn vào việc nghiên cứu dược thảo, đào tạo chuyên gia và thành lập trung tâm  
quốc gia nghiên cứu bổ sung và chọn lọc thuốc của Mỹ.  
Theo WHO thì mức độ sử dụng cây thuốc càng ngày càng cao, ở các  
quốc gia đang phát triển có tới 80% dân số sử dụng thuốc dân tộc. Trung  
Quốc là nước đông dân nhất thế giới và có nền y học dân tộc phát triển, nên  
trong số cây thuốc đã biết hiện nay có tới 80% số loài được sử dụng theo kinh  
nghiệm cổ truyền của các dân tộc. Hàng năm, nước này tiêu thụ hết 0,7 – 1,0  
triệu tấn dược liệu, sản phẩm thuốc y học dân tộc đạt giá trị hơn 1,4 tỷ USD  
vào năm 1986. Tổng giá trị về thuốc có nguồn gốc thực vật trên thị trường Âu  
- Mỹ và Nhật Bản vào năm 1985 là hơn 43 tỷ USD. Tại các nước có nền công  
nghiệp phát triển từ năm 1976 - 1980 đã tăng từ 335 triệu USD lên 551 triệu  
USD. Nhật Bản, năm 1979 nhập 21.000 tấn, đến năm 1980 tăng lên 22.640  
tấn dược liệu, tương đương 50 triệu USD. Điều này chứng tỏ đối với các nước  
công nghiệp phát triển thì việc sử dụng cây thuốc phục vụ cho nền y học cổ  
truyền cũng phát triển mạnh.  
Trước nhu cầu sử dụng ngày càng tăng các loại thuốc có nguồn gốc  
thực vật đã thúc đẩy khai thác, buôn bán cây thuốc và gây sức ép lên sự sinh  
tồn của các loài cây thuốc trên thế giới. Nhiều loài cây thuốc quý hiếm bị khai  
6
thác bừa bãi và đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc đã bị tuyệt  
chủng. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy các quần thể của nhiều loài  
thực vật làm thuốc đang suy giảm trong tự nhiên. Theo P. Raven (1987) và  
Ole Harmann (1988), trong vòng hơn 100 năm trở lại đây, có khoảng 1.000  
loài thực vật đã bị tuyệt chủng, có tới 60.000 loài gặp rủi ro hay sự tồn tại của  
chúng bị đe dọa vào thế kỷ tới. Trong số những loài thực vật đã mất đi hoặc  
đang bị đe dọa gay gắt, có một tỷ lệ không nhỏ là thực vật làm thuốc. Trong  
đó có khoảng 120 loài ở Ấn Độ, 77 loài ở Trung Quốc, 75 loài ở Macoro, 61  
loài ở Thái Lan, 35 loài ở Bangladet...  
Trên phạm vi toàn thế giới, các cộng đồng đã có nhiều nỗ lực và hành  
động chung nhằm bảo tồn đa dạng sinh học nói chung cũng như cây thuốc nói  
riêng. Tại Hội nghị lần thứ 40 của Tổ chức Y tế thế giới, tháng 5 năm 1987 đã  
tái xác định những quan điểm chính được đưa ra ở Hội nghị Alma – Ata từ  
năm 1979 là “Cần phải khởi xướng những chương trình nhằm nhận biết về giá  
trị, bào chế và trồng trọt, cùng với việc bảo tồn cây thuốc” . Sự cần thiết trong  
việc hợp tác liên ngành để có hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề liên  
quan đến bảo tồn cây thuốc đã thu hút sự chú ý của cả thế giới. Tháng 3 vào  
năm 1988 tại Chiang Mai - Thái Lan, với sự tham gia của các chuyên gia tư  
vấn quốc tế về bảo tồn cây thuốc, các tổ chức quốc tế (WWF, IUCN, WHO)  
đã phối hợp Bộ Y tế – Chính phủ Hoàng gia Thái Lan, tổ chức một Hội thảo  
Quốc tế đầu tiên chuyên về bảo tồn cây thuốc. Sau đó, năm 1993, WHO đã  
phối hợp với IUCN và WWF xuất bản cuốn tài liệu “Hướng dẫn bảo tồn cây  
thuốc” (Guidelines on the conservation of medicinal plants) để các quốc gia  
vận dụng vào điều kiện riêng của mình, triển khai công tác bảo tồn cây thuốc.  
Năm 2003, Tổ chức Y tế thế giới đã xuất bản cuốn sách “Hướng dẫn của tổ  
chức Y tế thế giới về thực hành tốt nuôi trồng và thu hái dược liệu”. Ngày 19  
-11- 2011, hơn 60 chuyên gia quốc tế về cây thuốc đã gặp nhau trong tại  
Toyama - Nhật Bản để thống nhất hướng dẫn về bảo tồn cây thuốc. Bảo tồn  
7
cây thuốc là nội dung được quan tâm hàng đầu trong chương trình nghị sự của  
WHO. Những kinh nghiệm của y học cổ truyền đã giúp cho nhân loại tìm ra  
những loại thuốc có ích trong tương lai. Vì vậy, việc khai thác và sử dụng kết  
hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng. Nằm trong vành  
đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, Việt Nam có nguồn tài nguyên  
thực vật phong phú và đa dạng. Trong số các loài thực vật hiện có ở Việt Nam  
(khoảng 12.000 loài) có rất nhiều loài đã và đang có triển vọng được sử dụng  
làm thuốc.. Nếu như tính đến năm 1952 các nhà thực vật học Pháp công bố  
trên toàn Đông Dương có 1.350 loài cây thuốc thuộc 160 họ thực vật khác  
nhau thì năm 1996, Võ Văn Chi đã cống bố hệ thực vật làm thuốc ở Việt Nam  
có 3.200 loài. Đến năm 2005, theo số liệu của Viện Dược liệu, hệ thực vật  
Việt Nam có 3.948 loài thuộc 307 họ của 9 ngành và nhóm của thực vật bậc  
cao, thực vật bậc thấp và Nấm. Và theo số liệu mới nhất, năm 2012 Võ Văn  
Chi đã công bố trong cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” với gần 4.700 loài  
thực vật làm thuốc. Số lượng cây thuốc mà chúng ta biết được đã tăng rất  
đáng kể. Điều đó chứng tỏ nếu được điều tra đầy đủ hệ thực vật làm thuốc ở  
Việt Nam có thể lớn hơn rất nhiều. Đây có thể coi là nguồn dược liệu tiềm  
năng, cần đầu tư nghiên cứu trong thời gian tới. Trong tổng số các loài cây  
thuốc đã biết ở Việt Nam hiện nay, phần lớn được sử dụng theo kinh nghiệm  
trong từng cộng đồng dân tộc. Tính độc đáo trong việc sử dụng cây thuốc còn  
thể hiện ở kinh nghiệm của từng cá nhân hay của mỗi cộng đồng dân tộc. Vốn  
kinh nghiệm quý báu này đã góp phần tạo dựng nên nền YHCT dân tộc với bề  
dày lịch sử hàng ngàn năm. Tuy nhiên, những kinh nghiệm quý báu đó đang  
dần bị mai một, đồng thời nguồn tài nguyên cây thuốc đang giảm sút nghiêm  
trọng, nhiều loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Việt Nam là một quốc  
gia có tốc độ phá rừng lớn nhất thế giới (Mc Kinnon & Cox, 1991), hiện tại  
diện tích rừng nguyên sinh cổ còn lại không tới 1% tổng diện tích lãnh thổ.  
Rừng bị phá hủy sẽ làm tài nguyên rừng ở đó mất đi, trong đó có nhiều cây  
8
thuốc và cong kéo theo nhiều hậu quả tai hại khác nữa. Trong quá trình điều  
tra dược liệu của Viện Dược liệu – Bộ Y tế, từ năm 1970 – 1990 đã phát hiện  
nhiều vùng rừng có cây thuốc phong phú nay đã hoàn toàn bị xoa sổ thay vào  
đó là nương rãy và các công trinhg dân sự. Hàng chục hecta rừng ở tiểu cao  
nguyên An Khê – Gia Lai, trước kia vốn là trung tâm phân bố lớn nhất Việt  
Nam của cây Vàng đắng – nguyên liệu chiết xuất berberin hiện đã nằm dưới  
lòng hồ chứa nước của thủy điện Vĩnh Sơn. Năm 1983, trong quá trình điều  
tra cây thuốc ở huyện Trà My tỉnh Quảng Nam các nhà khoa học của Viện  
Dược liệu đã kiểm chứng và tính trung bình một hộ dân người K’Ho có 6-8  
người, mỗi năm đã phá gần 1,2 ha rừng nguyên sinh để trồng lúa nương.  
Trong các khu rừng này có rất nhiều loài cây thuốc quý như: Thiên niên kiện,  
Dây đau xương, Huyết đằng, Hoàng đằng, Ngũ gia bì chân chim, ... chưa kịp  
điều tra và khai thác. Bên cạnh nạn phá rừng mất rừng, việc khai thác (lấy  
gỗ), trồng rừng mới thuần loại... cũng làm mất nhiều loại cây thuốc vốn có  
trong các tầng cây bụi và thảm tươi ở đó.Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế  
giới và kinh nghiệm thực tiễn tại các khu bảo tồn và vườn quốc gia khẳng  
định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn đa  
dạng sinh học với bảo tồn văn hoá của các cộng đồng địa phương. Ở VQG  
Kakadu (Australia), những người thổ dân chẳng những được chung sống với  
VQG một cách hợp pháp mà họ còn được thừa nhận là chủ hợp pháp của  
VQG và được tham gia quản lý VQG thông qua các đại diện của họ trong ban  
quản lý. Tại VQG Wasur (Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống  
gắn với săn bắn cổ truyền.  
Tại Việt Nam đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm tới việc nâng cao  
hiệu quả của các Khu bảo tồn thiên nhiên và VQG theo quan điểm bảo tồn -  
phát triển. Đó là làm sao dung hoà mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên  
nhiên và phát triển kinh tế - xã hội. Trong nhiều năm qua đã có rất nhiều công  
trình điều tra, nghiên cứu về đa dạng nguồn tài nguyên sinh vật nói chung và  
9
nguồn tài nguyên cây thuốc nói riêng và đã thu được nhiều kết quả quan  
trọng. Năm 1994, trong công trình nghiên cứu cây thuốc Lâm Sơn – Lương  
Sơn – Hà Sơn Bình, tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn đã giới thiệu 112 loài cây  
thuốc thuộc 50 họ thực vật. Năm 1990-1995, trong hội thảo lần 2 về dân tộc  
sinh học tại Côn Minh – Trung Quốc, tác giả cũng đã giới thiệu 2.300 loài  
thuộc 1.136 chi, 234 họ thuộc 6 ngành thực vật có mạch bậc cao ở Việt Nam  
được sử dụng làm thuốc và giới thiệu hơn 1000 bài thuốc đã được thu thập  
theo kinh nghiệm bản địa. Năm 2001, Nguyễn Nghĩa Thìn đã công bố hệ thực  
vật Vườn quốc gia Con Cuông - Nghệ An có 551 loài cây thuốc thuộc 364  
chi, 120 họ thực vật. Tại VQG Pù Mát, cũng đã có nhiều nghiên cứu về hệ  
thực vật. Danh lục các loài thực vật có mạch ở VQG Pù Mát đã được công bố  
năm 2001 với 2494 loài thuộc 931 chi, 204 họ của 6 ngành thực vật bậc cao  
có mạch. Trong đó, đã ghi nhận 610 loài cây có tác dụng làm thuốc. Theo kết  
quả thống kê của Viện Dược liệu (2003) ước tính tại VQG Chư Yang Sin có  
thể có tới 400 loài cây thuốc. Nổi bật lên có các loài thường gặp như: Hoàng  
Đằng, Địa Liền, Vằng Đắng,... Ngoài ra ở đây đã thu thập được 10 loài cây có  
tên trong sách đỏ Việt Nam (1996) và Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam  
(2001). Tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên, đã phát hiện được 698 loài cây thuốc  
mọc tự nhiên thuộc 473 chi, 178 họ của 8 ngành/nhóm thực vật (kể cả nấm).  
Trong đó, có nhiều loài quý hiếm thuộc diện cần bảo vệ và đang có nguy cơ  
tuyệt chủng. VQG Bạch Mã từ lâu đã được ghi nhận là nơi có tính ĐDSH cao.  
Hệ thực vật Bạch Mã bao gồm 2417 loài chiếm khoảng 1/5 tổng số loài thực  
vật ở Việt Nam. Trong đó có trên 500 loài có tiềm năng thương mại và được  
sử dụng làm thuốc. Tại VQG Chư Mom Ray, đã thống kê được 425 loài thực  
vật có công dụng làm thuốc. Trong đó có 18 loài có tên trong sách đỏ Việt  
Nam (1996) và Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam (2001). Ngoài ra, còn rất  
nhiều các công trình nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc được đăng  
trên các tạp chí hay xuất bản thành sách.  
10  
Các cuộc điều tra thu thập cây thuốc trên phạm vi toàn quốc còn gặp rất  
nhiều khó khăn, đặc biệt là công tác tuyên truyền và vận động nhân dân nhận  
diện cũng như nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn. Vì vậy, cần  
có sự vào cuộc của nhiều tổ chức, cá nhân cùng chung tay nhằm gìn giữ và  
phát triền nguồn tài nguyên được mệnh danh là “vàng xanh” này và bổ sung  
những tư liệu quý vào kho tàng y học cổ truyền Việt Nam và thế giới  
(internet).  
Như vậy, các nghiên cứu về cây thuốc đã có rất nhiều cơ sở khoa học,  
nhiều công trình thành công, đóng góp thành quả vào nguồn cây thuốc Việt  
Nam cũng như thế giới, việc nghiên cứu cây thuốc, bảo tồn và phát triển là hết  
sức cần thiết.  
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước  
2.2.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới  
Vấn đề đa dạng sinh học và bảo tồn đã trở thành một vấn đề chiến lược  
trên toàn thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời IUCN, Chương trình môi  
trường Liên hợp quốc (UNEP), Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF)... để  
hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh  
vật trên toàn thế giới.  
Nghiên cứu đa dạng loài cây dược liệu nhằm mục đích bảo tồn nguồn  
tài nguyên này trên thế giới để phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ sức  
khỏe con người, cho sự phát triển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y  
thì sự cần thiết phải kết hợp giữa Đông - Tây y, giữa y học hiện đại với y học  
cổ truyền của các dân tộc là một vấn đề cấp thiết. Chính từ những kinh  
nghiệm của y học cổ truyền đã giúp cho nhân loại khám phá ra những loại  
thuốc có ích trong tương lai. Cho nên, việc khai thác kết hợp với định hướng  
bảo tồn, phát triển các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng. Các nước  
trên thế giới đang hướng về thực hiện chương trình Quốc gia kết hợp sử dụng,  
bảo tồn và phát triển bền vững cây thuốc.  
11  
Theo ước tính của quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35.000 -  
70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh  
trên toàn thế giới. Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý  
giá của các dân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khỏe,  
phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hóa. Theo báo cáo của Tổ  
chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay có khoảng 80% dân số các nước đang  
phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu phụ thuộc vào nguồn dược  
liệu hoặc qua các chất chiết suất từ dược liệu (Dẫn theo Nguyễn Văn Tập,  
2006) [10].  
Trên thế giới, nhiều quốc gia đã có nhiều đề tài nghiên cứu, ứng dụng  
cây thuốc và họ cũng đã sử dụng nhiều nguồn tài nguyên này xuất khẩu làm  
dược liệu và thu nguồn ngoại tệ đáng kể. Đặc biệt là Trung Quốc, có thể  
khẳng định đây là quốc gia đi đầu trong việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh.  
Vào thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đưa ra “Bản thảo cương mục” sau đó năm  
1955 cuốn bản thảo này được in ấn lại. Nội dung cuốn sách đã đưa đến cho  
con người cách sử dụng các loại cây cỏ để chữa bệnh. Năm 1954 tác giả Từ  
Quốc Hân đã nghiên cứu thành công công trình “Dược dụng thực vật cấp sinh  
lý học” cuốn sách này giới thiệu tới người đọc cách sử dụng từng loại cây  
thuốc, tác dụng sinh lý, hóa sinh của chúng, công dụng và cách phối họp các  
loại cây thuốc theo từng địa phương như “Giang Tô tỉnh tực vật dược tài chí”,  
“Giang Tô trung dược danh thực đồ thảo” “Quảng Tây trung dược trí”  
…(Dẫn theo Trần Hồng Hạnh,1996) [7].  
Năm 1992, J.H.de Beer- một chuyên gia Lâm sản ngoài gỗ của tổ chức  
Nông lương thế giới khi nghiên cứu về vai trò của thị trường và của lâm sản  
ngoài gỗ đã nhận thấy giá trị to lớn của Thảo quả đối với việc tăng thu nhập  
cho người dân sống trong khu vực rừng núi, nơi có phân bố Thảo quả nhằm  
xóa bỏ đói nghèo, đồng thời là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội  
vùng núi và bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng (Dẫn theo Phan Văn Thắng,  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 87 trang yennguyen 16680 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên cây thuốc và đề xuất giải pháp bảo tồn tại xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_tinh_da_dang_tai_nguyen_cay_thuoc_va_de.pdf