Khóa luận Nghiên cứu sinh trưởng và chăm sóc cây Gù hương - Cinamomum balansae trồng năm thứ 3 tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
--------------------  
HOÀNG VĂN HƯNG  
“NGHIÊN CỨU SINH TRƯỞNG VÀ CHĂM SÓC CÂY GÙ HƯƠNG -  
CINAMOMUM BALANSAE TRỒNG NĂM THỨ 3 TẠI XÃ VŨ CHẤN,  
HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN”  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
: Quản lý tài nguyên rừng  
: Lâm nghiệp  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Thái Nguyên, năm 2019  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
--------------------  
HOÀNG VĂN HƯNG  
“NGHIÊN CỨU SINH TRƯỞNG VÀ CHĂM SÓC CÂY GÙ HƯƠNG -  
CINAMOMUM BALANSAE TRỒNG NĂM THỨ 3 TẠI XÃ VŨ CHẤN,  
HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN”  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Quản lý tài nguyên rừng  
: K47 - QLTNR  
: Lâm nghiệp  
Khoa  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Giảng viên hướng dẫn : ThS. La Thu Phương  
Thái Nguyên, năm 2019  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân  
tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn  
toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai sót tôi xin chịu  
hoàn toàn trách nhiệm.  
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019  
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn  
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước  
Hội đồng khoa học  
Người viết cam đoan  
(Ký, ghi rõ họ tên)  
(Ký, ghi rõ họ tên)  
ThS. La Thu Phương  
Hoàng Văn Hưng  
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN  
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa  
sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu  
(Ký, ghi rõ họ tên)  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Trong thời gian nghiên cứu đề tài sinh trưởng của cây Gù hương -  
Cinamomum balansae trồng năm thứ 3 tại xã Vũ Chấn huyện Võ Nhai, em  
đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô, nhân dân địa phương nơi  
nghiên cứu đề tài.  
Trước hết em xin gửi đến quý thầy, cô giáo trong khoa Lâm nghiệp,  
trường Đại Học Nông Lâm lời cảm ơn chân thành. Đặc biệt, em xin gửi đến  
cô giáo La Thu Phương người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành  
chuyên đề báo cáo thực tập này lời cảm ơn sâu sắc nhất.  
Cuối cùng em xin cảm ơn các cán bộ công nhân viên của UBND xã Vũ  
Chấn và gia đình ông Triệu Phúc Kim khu xóm Khe Nọi xã Vũ Chấn đã giúp  
đỡ em trong suốt thời gian thực tập.  
Vì kiến thức bản thân còn hạn chế, trong quá trình thực tập, hoàn thiện  
chuyên đề này em không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được  
những ý kiến đóng góp từ thầy cô.  
Em xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019  
Sinh viên thực hiện  
Hoàng Văn Hưng  
 
iii  
MỤC LỤC  
 
iv  
 
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
STT  
Các từ viết tắt  
Nội dung  
1
2
3
4
5
6
NĐ-CP  
QĐ-TTg  
NXB  
Nghị định Chính phủ  
Quyết định Thủ tướng  
Nhà xuất bản  
VQG - KBTTN  
OTC  
Vườn quốc gia - khu bảo tồn thiên nhiên  
Ô tiêu chuẩn  
BVTV  
Bảo vệ thực vật  
1
Phần 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Hệ thực vật rừng Việt nam là sự hội tụ của 3 dòng thực vật di cư từ  
Nam Trung Hoa, Ấn Độ - Himalaya và In-đô-nê-xia, Ma-lai-xia cho nên rất  
phong phú và đa dạng, có khoảng 11.000 loài thuộc trên 2.500 chi. Hiện nay,  
nhiều loài bị khai thác quá mức đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Theo  
sách đỏ năm 1996 có 356 loài thực vật bị đe dọa ở các mức độ khác nhau; sau  
11 năm danh sách này đã tăng lên hơn 100 loài bị đe dọa, có 462 loài trong  
sách đỏ năm 2007 theo Nguyễn Tiến Bân và Cs, (1996, 2007). Những loài có  
giá trị kinh tế phục vụ trồng rừng có khả năng cung cấp giống rất hạn chế.  
Cây Gù hương (Cinnamomum balansae) là loài cây lá rộng bản địa, đặc  
hữu của Việt Nam, phân bố ở Ba Vì, Ninh Bình, Thanh Hoá, Thái Nguyên,  
Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang... Trong tự nhiên Gù hương thường mọc rải  
rác trong rừng cùng một số loài cây khác như: Re gừng (Cinnamomum  
burmanii), Bứa (Garcicia sp), các loài Dẻ... Chưa phát hiện ở đâu có rừng Gù  
hương chiếm ưu thế. Gù hương được xếp vào loại hiếm (R) theo Sách đỏ Việt  
Nam (1996) [1]. Do bị khai thác quá mức, theo Sách đỏ Việt Nam (2007) [2]  
loài cây này đã được nâng lên mức độ phân hạng bảo tồn sẽ nguy cấp (VU).  
Đây là loài có giá trị kinh tế cao, gỗ Gù hương được bán với giá khoảng trên  
20 triệu đồng/m3 gỗ cao hơn hẳn gỗ các loài cây bản địa khác. Về tinh dầu thì  
tinh dầu Gù hương (còn gọi là dầu Xá xị, thường được chưng cất từ lá, cành,  
gốc, rễ) cách đây trên 10 năm được bán tại lò chưng cất với giá 1 triệu  
đồng/lít. Hiện nay Nhà nước đã cấm việc khai thác nhưng cây Gù hương vẫn  
đang bị khai thác mang tính tận diệt nên chỉ còn một số cá thể trong vườn hộ  
gia đình và rải rác trong rừng tự nhiên.  
   
2
Xã Vũ Chấn huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên là một xã trung du miền  
núi phía bắc, là vùng có phân bố tự nhiên của cây Gù hương, có điều kiện tự  
nhiên, đất đai rất phù hợp với sinh trưởng và phát triển của cây Gù hương.  
Tuy nhiên, địa bàn xã thuộc vùng quy hoạch phát triển rừng phòng hộ của xã  
Vũ Chấn huyện Võ Nhai. Diện tích rừng tự nhiên hiện trên địa bàn xã còn rất  
ít, chủ yếu tập trung ở vùng núi đá vôi trong diện tích bảo tồn của Khu bảo  
tồn thiên nhiên Thần Sa – Phương Hoàng. Tính đa dạng sinh học của các  
trạng thái rừng ở xã bị hạn chế, đa dạng nguồn gen của các loài cây bản địa bị  
suy giảm nghiêm trọng, đặc biệt là các loài cây gỗ bản địa có giá trị cao về  
kinh tế, khoa học cũng như tính đặc hữu cao. Vì vậy để gìn giữ và phát triển  
nguồn gen một loài cây gỗ quý hiếm có giá trị đa dạng sinh học và kinh tế cao  
tại xã. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện và cấp  
kinh phí để thực hiện nhiệm vụ Bảo tồn nguồn gen cây Gù hương  
(Cinamomum balansae) trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (2016) [13] tại xã.  
Trên cơ sở đó tôi tiến hành thực hiện Khoá luận “Nghiên cứu sinh trưởng và  
chăm sóc cây Gù hương - Cinamomum balansae trồng năm thứ 3 tại xã  
Vũ Chấn huyện Võ Nhai” Làm cơ sở bảo tồn nguồn gen thực vật quý hiếm.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
- Xác định các biện pháp kỹ thuật chăm sóc cây Gù hương tuổi 3  
- Xác định được khả năng sinh trưởng và sự đe dọa của sâu, bệnh hại  
cũng như các biện pháp phòng trừ sâu, bệnh hại cho cây Gù hương tuổi 3.  
1.3. ꢀ nghĩa của đề tài  
1.3.1. ꢀ nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học  
Trong quá trình thực hiện đề tài tạo cơ hội tiếp cận các phương pháp  
nghiên cứu khoa học, để giải quyết vấn đề khoa học ngoài thực tiễn; Làm quen  
với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể; Học tập và  
hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu.  
     
3
1.3.2. ꢀ nghĩa thực tiễn  
Biết cách tiếp cận thực tiễn những vấn đề trong sản xuất, kinh doanh  
rừng, quản lý nguồn tài nguyên rừng, nâng cao tính bền vững của hệ sinh thái  
rừng hiện nay. Tìm ra được biện pháp kỹ thuật gây trồng tốt nhất mang lại  
hiệu quả hữu hiệu nhất cho bà con trong quá trình gây trồng cây Gù hương tại  
địa phương.  
 
4
Phần 2  
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU  
2.1. Cơ sꢁ khoa học  
Cây Gù hương (Cinnamomum balansae) thuộc họ Re - Long não  
(Lauraceae) là một loài đặc hữu của Việt Nam, quý, hiếm đa tác dụng. Đây là  
loài cây có giá trị kinh tế, thân gỗ dùng cho chế biến các sản phẩm mỹ nghệ,  
gốc, rễ thân có thể dùng để sản xuất tinh tinh dầu. Do có giá trị kinh tế cao  
nên hiện nay hoạt động khai thác trái phép cây này ở Việt Nam đang là rất  
mạnh nên số lượng cá thể loài còn lại rất ít. Cây Gù hương nằm trong danh  
mục thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm IIA) của Nghị định  
32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 [4] của Chính phủ để hạn chế khai thác, sử  
dụng vì mục đích thương mại. Loài này cũng được bảo vệ nguyên vẹn trong  
VQG Cúc Phương. Sách đỏ Việt Nam, phần II thực vật (2007) [2] mô tả Gù  
hương là loài hiếm và tái sinh kém lại bị chặt lấy gỗ nên số lượng cây phân bố  
ngoài tự nhiên còn lại rất ít. Đây là cơ sở và căn cứ cho việc gây trồng cây Gù  
hương nhằm phát triển, bảo tồn nguồn gen cây rừng quý hiếm có nguy cơ  
tuyệt chủng cao.  
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới  
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới  
Công tác bảo tồn trên thế giới đã được chú trọng từ rất lâu, đặc biệt là các  
nước phát triển, các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn đã được thành lập từ rất sớm.  
Trên thế giới các nghiên cứu về cây Gù hương chưa nhiều, vì Gù hương là  
loài thực vật đặc hữu của Việt Nam. Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX,  
M.H. Lecomte - một nhà nghiên cứu thực vật của Pháp đã đề cập, xác định  
được nhiều loài thực vật bản địa hoang dại hữu ích có giá trị trong cuốn Thực  
vật chí đại cương Đông Dương - Flora Generale de L'Indo-Chine (1907-1914)  
       
5
[19], trong đó có Việt Nam. M. H. Lecomte khi nghiên cứu các loài thực vật  
trong chi Cinnamomum (chi Quế) ở Việt Nam 1913 đã công bố loài Gù hương  
chỉ có phân bố ở Hà Tây (Ba Vì), Ninh Bình (Cúc Phương) là loài đặc hữu.  
Trên thế giới chưa biết đến loài cây này. M.H. Lecomte mô tả sơ bộ Gù  
hương (Cinnamomum balansae) đây là loài cây gỗ lớn cao tới 50m, mọc ở núi  
đất và núi đá. Trong thân và lá có tinh dầu với thành phần chính là long não.  
Hạt chứa dầu béo. Gỗ tốt, không bị mối mọt, có mùi long não nên được ưa  
chuộng để đóng các đồ đạc trong nhà như tủ, bàn ghế.  
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam  
Thiên nhiên nhiệt đới Việt Nam đã tạo ra hệ thực vật đa dạng, đa lợi  
ích. Hiện nay, các nhà khoa học đã thống kê được 11.373 loài thuộc 2.524  
chi, 378 họ trong 7 ngành thực vật khác nhau (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1996)  
[12]. Với hơn 19 triệu hecta rừng và đất rừng, hệ thực vật này là một tiềm  
năng to lớn cho sự phát triển của đất nước, thể hiện rõ lợi thế của ngành lâm  
nghiệp so với nhiều ngành sản xuất khác. Trong tập đoàn các loài cây đa mục  
đích đã được định danh ở Việt Nam, cây Gù hương(Cinnamomum balansae)  
là loài cây có triển vọng đem lại giá trị kinh tế cao trong tương lai, đặc biệt  
cho những người dân nghèo sống ở vùng núi.  
2.2.2.1. Các nghiên cứu về cây Gù hương  
Loài cây Gù hương có phân bố rải rác ở khu vực đồi, núi thấp của của  
các tỉnh phía Bắc. Hiện nay, số lượng cây Vù hương còn rất ít, chỉ còn thấy ở  
VQG Cúc Phương (Ninh Bình), Ba Vì (Hà Tây), trong rừng thứ sinh và vườn  
hộ ở Thạch Thành (Thanh Hoá) và rải rác ở một số nơi; song hiện nay đã bị  
khai thác quá mức, không còn gặp nhiều trong rừng tự nhiên nên được xếp  
vào loại hiếm (Bộ Khoa học và Công nghệ 1996) [1].  
Ở Việt Nam hiện đã biết có khoảng 21 chi, với 275 loài.Đặc điểm: Cây  
gỗ lớn hay nhỏ, ít khi là dây leo (dây tơ xanh). Lá mọc cách, ít khi mọc đối,  
 
6
nguyên, gân lá hình lông chim, một số có 3 gân hình cung, gân con hình mạng  
lưới. Không có lá kèm. Trong thân, lá có tế bào tiết dầu thơm.  
Cây Gù hương trong Sách đỏ Việt Nam, phần II Thực Vật (2007) [2]  
mô tả:  
Đặc điểm nhận dạng:  
Cây gỗ to, thường xanh, cao tới 50 m, đường kính thân 0,7 – 1,2m; cành  
nhẵn, màu hơi đen khi khô. Lá mọc cách, dài, hình trứng, dài 9 – 11 cm, rộng 4 –  
5 cm, thót nhọn về hai đầu; gân bậc hai 4 – 5 đôi; cuống lá dài 2 - 3 cm, nhẵn.  
Cụm hoa chùy, ở nách lá, dài 4 – 5 cm, phủ lông ngắn màu nâu; cuống hoa dài 1  
– 4 mm, phủ lông; bao hoa 6 thùy, có lông; nhị hữu thụ 9, bao phấn 4 ô; 3 nhị  
vòng trong cùng mỗi nhị có 2 tuyến; nhị lép 3, hình tam giác, có chân; bầu hình  
trứng, nhẵn, vòi ngắn, núm hình đĩa. Quả hình cầu, đuờng kính 8 – 10 mm, đính  
trên đế hoa hình chén.  
Sinh học và sinh thái:  
Mùa hoa vào tháng 1 – 5, mùa quả chín tháng 6 – 9. Tái sinh bằng hạt  
hoặc giâm cành.  
Theo Bảo tồn và nhân giống Gù hương (Xá xị) [20] thực tế điều tra  
thấy Gù hương là cây gỗ lớn thường xanh có thể cao đến 40m, đường kính  
hơn 1m, sinh trưởng mạnh nhất ở độ cao 300 – 1000 m. Có những cây đã bị  
khai thác gốc 3 – 4 m đường kính. Ra hoa tập trung từ tháng 1 – 3, quả chín  
vào tháng 10 – 12 hàng năm. Gù hương có phân bố trên đất Feralit vàng hoặc  
vàng đỏ phát triển trên đá phiến thạch mica và đá G-nai, ở độ cao 60 – 2000  
m. Ở vùng cao cây vẫn sinh trưởng nhưng có thời gian ngủ đông dài hơn  
(không thay lá nhưng khoảng 2 tháng cây ngừng sinh trưởng). Gù hương  
thường mọc ở chân đồi, sườn đồi nhất là những nơi gần bờ ao, ruộng (chứng  
tỏ khi còn nhỏ cây ưa ẩm).  
Phân bố: Trong nước: Hà Tây (Ba Vì), Ninh Bình (Cúc Phương).  
7
Thế giới: Chưa biết.  
Giá trị: Loài đặc hữu của Việt Nam. Trong thân và lá có tinh dầu với  
thành phần chính là long não. Hạt chứa dầu béo. Gỗ tốt không bị mối mọt, có  
mùi long não nên được ưa chuộng để đóng các đồ đạc trong nhà như tủ, bàn ghế.  
Theo Giá trị của cây Gù hương (Xá xị) [22]. Cây có lợi ích kinh tế rất  
cao: Gỗ của cây Gù hương được liệt vào hàng quý hiếm và chất lượng hàng  
đầu. Thân cây gù hương hầu như không bị mối mọt, đảm bảo được độ bền  
vững khi gia công thành các sản phẩm như bàn ghế, giường... Cây Gù hương  
hiện nay được bán với giá thành rất cao, khoảng 20 đến 25 triệu/m3 cao gấp  
1,8 – 2 lần gỗ Lát hoa.  
Tinh dầu Gù hương (còn gọi là dầu Xá xị, thường được chưng cất từ lá,  
cành, gốc, rễ), cách đây trên 10 năm được bán tại lò chưng cất với giá 1 triệu  
đồng/lít (tương đương với 2 chỉ vàng/lít). Đây là loại tinh dầu cực kì tốt và  
đánh giá chất lượng không thua kém so với loại tinh dầu của cây long não  
Tình trạng: Vốn là loài hiếm và tái sinh kém lại bị chặt lấy gỗ.  
Phân hạng: VU A1c  
Biện pháp bảo vệ: Loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996)  
với cấp đánh giá “hiếm” (Bậc R) và danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng  
nguy cấp, quý hiếm (nhóm 2) của Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày  
30/3/2006 của Chính phủ để hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương  
mại. Đã được bảo vệ nguyên vẹn trong Vườn quốc gia Cúc Phương.  
Trong báo cáo bảo tồn cây Gù hương của Nguyễn Anh Dũng (2015)  
[7]. Trung tâm Khoa học lâm nghiệp vùng trung tâm Bắc Bộ. Đã mô tả cây Gù  
hương còn gọi là Vù hương có tên khoa học là Cinnamomum balansae thuộc họ  
Re (Lauraceae). Trong quá trình thực hiện đề tài nhóm các cán bộ đã đi điều  
tra khảo sát ở 3 tỉnh: Ninh Bình, Phú Thọ, Tuyên Quang. Đã điều tra đo đếm  
được 53 cây trong đó tại Phú Thọ: 29 cây; Yên Bái: 6 cây; Tuyên Quang: 16  
8
cây; vườn Quốc gia Cúc Phương 2 cây. Dự kiến 14 cây đưa vào khai thác  
nguồn giống.  
Trịnh Hoài Nam (2016) [10] đã nghiên cứu về “Nghiên cứu một số đặc  
điểm sinh học của loài cây Gù hương (Cinnamomum blalansace  
M.H.Lecomte,1913) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển  
loài tại huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên” tác giả đã mô tả các đặc điểm về  
thân, lá, hoa, quả đồng thời đã so sánh với mô tả trong sách đỏ Việt Nam,  
ngoài ra tác giả còn nghiên cứu về các đặc điểm sinh thái nơi loài Gù Hương  
phân bố.  
Bảo tồn nguồn gen loài Gù hương tại Vườn quốc gia Tam đảo Đỗ  
Đình Tiến (2012) [14] đã điều tra được 17 cây Gù hương tại Vườn quốc gia  
Tam đảo, xây dựng mô hình bảo tồn nguyên vị 15 cây Gù hương.  
Vườn quốc gia Cúc Phương đã xây dựng mô hình bảo tồn 10 loài cây  
gỗ quý hiếm trong đó có mô hình bảo tồn thuần loài cây Gù hương với diện  
tích 1ha Lê Phương Triều (2012) [16].  
Đề tài: Điều tra đánh giá tình trạng bảo tồn các loài thực vật rừng nguy cấp,  
quý hiếm thuộc danh mục nghị định 32/2006/NĐ-CP theo vùng sinh thái (2010)  
[17]. Trung tâm Tài nguyên và Môi trường Lâm nghiệp Viện Điều tra Quy hoạch  
Rừng. Đã xếp 37 loài thực vật quý hiếm trên hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam  
thành 6 nhóm giá trị và công dụng khác nhau. Những loài có ý nghĩa về tính đặc  
hữu, phân bố hẹp và có giá trị trong bảo tồn nguồn gen như: Bách đài loan  
(Taiwania cryptomerioides), Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis), Vân sam  
phan xi păng (Abies delavayi ver. Fansipanensis), Thủy tùng (Glyptostrobus  
pensilis), Hoàng đàn (Cupressus torulosa), và Gù hương (Cinnamomum balansae)  
Theo Điều tra đánh giá tình trạng bảo tồn các loài thực vật rừng nguy  
cấp, quý hiếm thuộc danh mục nghị định 32/2006/NĐ-CP. Trung tâm Tài  
nguyên và Môi trường Lâm nghiệp. Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, theo vùng  
9
sinh thái (2010) [17], mô tả cây Gù hương còn rải rác vài cá thể trong rừng ở  
vùng phân bố tự nhiên, chủ yếu là cây tái sinh. Vị trí và số lượng quần thể, cá  
thể Gù hương trong tự nhiên:  
VQG Ba Vì, Hà Tây có ở Sườn tây Đỉnh Vua với số lượng 5 cá thể  
(D1,3 < 20cm).  
KBT Thần Sa - Phượng Hoàng có phân bố tập trung ở các xã: Thần  
Sa, Cúc Đường, Vũ Chấn, Thượng Nung, Sảng Mộc, Nghinh Tường (xóm  
Ngọc Sơn 2) khoảng 100 – 200 cá thể (chỉ toàn cây tái sinh).  
KBT Hang Kia – Pà Cò. Phân bố rải rác trong KBT, có 2 – 3 cá  
thể/50ha (chỉ còn cây tái sinh chồi).  
VQG Cúc Phương. Rải rác trong VQG có nhỏ hơn 60 cây.  
Nguyễn Anh Dũng (2013) [5]. Tinh dầu Gù hương được sử dụng rộng  
rãi trong công nghệ hóa mỹ phẩm, thực phẩm và dược phẩm. Từ safrol trong  
tinh dầu Gù hương ta có thể chuyển hóa thành isosafrol. Và từ isosafrol có thể  
điều chế heliotropin, một hợp chất có giá trị tạo và gia tăng mùi trong công  
nghệ sản xuất nước hoa, dầu gội đầu, sữa tắm, hương vị salicylate trong nước  
giải khát hay bia, rượu.  
Tinh dầu còn được dùng làm thuốc xoa bóp, chữa thấp khớp, đau nhức.  
Lá dùng làm thuốc cầm máu, chữa đau dạ dày, phong thấp, mẩn ngứa ngoài  
da. Quả dùng chữa cảm, sốt, lỵ, ho gà.  
Lê Thị Thanh Hương và Cs (2013) [8] Gù hương (Cinnamomum  
balansae) thuộc họ Long não (Lauraceae). Thân và lá có mùi thơm, chiều dài  
cuống gần bằng chiều dài của lá, ngọn non hoặc cành non có màu nâu đỏ.  
Theo kinh nghiệm của người Sán Chí ở đây thì thân cây được sử dụng làm  
một trong các vị thuốc của bài thuốc đặc trị thần kinh và chữa vôi hóa cột  
sống. Hiện nay cây Gù hương còn lại rất ít do khai thác quá mức để lấy gỗ sử  
dụng và buôn bán.  
10  
Nguyễn Văn Hải (2016) [9] “Thực trạng khai thác và sử dụng cây Gù  
Hương Cinnamomum balansae H. Lecomte tại huyện Đồng Hỷ và huyện Võ  
Nhai tỉnh Thái Nguyên” tác giả đã nêu rõ công dụng của cây Gù Hương đồng  
thời tác giả cũng chỉ rõ đối tượng và mục đích khai thác ngoài ra tác giả đã  
nói lên hiện trạng của loài tại khu vực nghiên cứu như sau  
Đỗ Mạnh Tuân và Cs (2010) [18] Do khai thác không chú ý đến tái  
sinh trong nhiều năm qua, cùng với các nguyên nhân khác, nguồn cây thuốc  
có chứa tinh dầu mọc tự nhiên ở rừng Tam Đảo đã bị giảm sút nghiêm trọng.  
Nhiều loài đã được cấp báo trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 và Danh lục Đỏ  
cây thuốc Việt Nam 2006, như Gù hương (Cinnamomum balansae); Vù  
hương (Cinnamomum parthenoxylon)... Vì vậy, bảo vệ các loài cây thuốc này  
đã trở thành yêu cầu cấp bách nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh tế - xã hội  
hiện nay và tương lai.  
2.2.2.2. Các nghiên cứu về gây trồng chăm sóc cây Gù hương  
Hà Văn Tiệp (2015) [15]. Trong Báo cáo kết quả đề tài: Nghiên cứu  
các biện pháp kỹ thuật gây trồng một số loài cây bản địa Trai Lý (Garcinia  
fagraeoides), Gù hương (Cinnamomum balansae) và Sưa (Dalbergia  
tonkinensis) nhằm phục hồi các trạng thái rừng nghèo kiệt tại Tây Bắc đã đưa  
ra được kết quả Giâm hom cây Gù hương mùa khô có tỷ lệ ra rễ (63,3%, từ  
tháng 9 – 12) cao hơn mùa mưa (60% từ tháng 5 – 7).  
Trịnh Hoài Nam (2016) [10] đã nghiên cứu về “Nghiên cứu một số đặc  
điểm sinh học của loài cây Gù Hương (Cinnamomum blalansace H.  
Lecomte,1913) làm cơ sở đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài tại  
huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên” tác giả đã mô tả các đặc điểm về thân, lá,  
hoa, quả đồng thời đã so sánh với mô tả trong sách đỏ Việt Nam, ngoài ra tác  
giả còn nghiên cứu về các đặc điểm sinh thái nơi loài Gù Hương phân bố.  
11  
Kết quả giâm hom Gù hương phục vụ bảo tồn nguồn gen cây rừng của  
Nguyễn Hoàng Nghĩa và Cs (2009) [11] đã đưa ra được kết quả về giâm hom  
cây Gù hương: Các số liệu thu thập được cho thấy Gù hương có khả năng ra  
rễ ngay cả khi không có thuốc kích thích, mặc dù tỷ lệ ra rễ chỉ đạt 40%. Chất  
kích thích ra rễ sau khi xử lý đã làm tăng đáng kể tỷ lệ ra rễ của hom Gù  
hương lên đến 1,5 – 2,0 lần; trong đó chất AIA nồng độ 0,5 – 1,5% cho tỷ lệ  
ra rễ đạt từ 70 – 80% tổng số hom giâm, ABT nồng độ 1 – 2% đạt 60 – 80%  
ra rễ. Hai loại chất ABT và AIA có hầu hết các công thức đạt tỷ lệ ra rễ trên  
60%, đủ tiêu chuẩn giâm hom cho sản xuất.  
Theo kỹ thuật gieo trồng cây gù hương [23] Để trồng tốt loại cây này,  
cần chú ý đến loại đất gieo trồng cùng mật độ gieo trồng. Cây chỉ phát triển  
tốt tại những vùng có đất feralit, ngoài ra, mật độ gieo trồng tiêu chuẩn dành  
cho cây thường là 400 cây/ha. Sau khi trồng, bón phân chuồng để cây có được  
sự chăm sóc tốt nhất. Kỹ thuật chăm sóc cây gù hương: Sau khi trồng cây, nên  
quan sát tiến trình phát triển của cây để có biện pháp chăm sóc tốt nhất, thông  
thường, khi cây được 17 tháng tuổi, cây có chiểu cao trung bình khoảng  
30cm. Nên bón phân định kỳ và tưới nước đầy đủ trong giai đoạn đầu để cây  
được sinh trưởng tốt và cho ra chất lượng gỗ hoàn hảo.  
Nguyễn Anh Dũng (2014) [6] Hướng dẫn kỹ thuật trồng cây Gù hương  
Chăm sóc năm thứ hai:  
Chăm sóc 3 lần: 2 lần phát luống và xới xung quanh gốc vào tháng 2 –  
3 và 7 – 8, 1 lần phát luống vào tháng 11.  
Kỹ thuật chăm sóc: Luống phát toàn bộ cỏ dại, cây bụi, dây leo toàn  
diện trên hiện trường, xới sạch cỏ và xăm nhẹ xung quanh gốc cây đường  
kính 1m.  
Cây Gù hương thường bị nấm thân cây và sâu ăn hại lá, bệnh rỉ sắt nên  
cần kiểm tra dự báo sâu bệnh hại cây và có biện pháp phòng trừ.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 73 trang yennguyen 22080 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu sinh trưởng và chăm sóc cây Gù hương - Cinamomum balansae trồng năm thứ 3 tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_sinh_truong_va_cham_soc_cay_gu_huong_ci.pdf