Đồ án Tìm hiểu về các loài sao biển ở Việt Nam: Đặc điểm, phân loại, phân bố, ứng dụng và công nghệ sản xuất các sản phẩm từ sao biển

BỘ CÔNG THƢƠNG  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TPHCM  
KHOA THỦY SẢN  
  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
NGÀNH CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN THỦY SẢN  
TÌM HIỂU VỀ CÁC LOÀI SAO  
BIỂN Ở VIỆT NAM: ĐẶC ĐIỂM,  
PHÂN LOẠI, PHÂN BỐ, ỨNG  
DỤNG VÀ CÔNG NGHỆ SẢN  
XUẤT CÁC SẢN PHẨM TỪ SAO  
BIỂN  
HỌ & TÊN SVTH  
GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN  
HỌ & TÊN GVHD  
Tp. Hồ Chí Minh, tháng… năm…  
 
Đồ án tốt nghiệp  
GVHD  
LỜI CẢM ƠN  
Trước tiên, em xin chân thành cám ơn quý thầy, quý cô khoa Thủy Sản đã tận  
tâm truyền đạt cho chúng em những kiến thức về chuyên ngành quý báu. Và thầy cô  
đã hết lòng chỉ bảo chúng em trong suốt quá trình học tập tại trường, thầy cô đã tạo  
điều kiện cho chúng em nắm vững lý thuyết và từng bước tiếp cận thực tế. Đặc biệt,  
em xin cảm ơn cô Nguyễn Thị Mỹ Lệ, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em  
hoàn thành tốt bài đồ án này.  
Trong quá trình hoàn thành đề tài này em đã cố gắng rất nhiều, nhưng do thời  
gian có hạn nên đề tài của em không thể nào tránh khỏi những sai sót. Vì vậy, em  
rất mong thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để đề tài của em được hoàn thành tốt  
hơn.  
Xin chân thành cảm ơn.  
Tp.HCM, tháng… năm…  
SVTH  
II  
Đồ án tốt nghiệp  
GVHD  
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH  
Hình 1.1. Hình dạng ngoài của sao biển ......................................................................... 2  
Hình 1.2. Sao biển Asterias forbesi ................................................................................ 4  
Hình 1.3. Sao biển nướng................................................................................................ 5  
Hình 1.4. Sao biển Asterias rubens ................................................................................ 6  
Hình 1.5. Sao biển Pisaster ochraceus........................................................................... 7  
Hình 1.6. Sao biển Pisaster giganteus, Sao biển Pisaster brevispinus, Sao biển  
Evasterias troscheli ........................................................................................................ 8  
Hình 1.7. Sao biển Archaster typicus............................................................................. 8  
Hình 1.8. Sao biển được làm khô dùng trong ngâm rượu............................................... 9  
Hình 1.9. Sao biển Archaster typicus ngâm rượu .......................................................... 9  
Hình 1.10. Sao biển Linckia laevigata màu xanh......................................................... 10  
Hình 1.11. Sao biển Linckia laevigata màu xanh nhạt và cam .................................... 10  
Hình 1.12. Sao biển Acanthaster planci....................................................................... 11  
Hình 1.13. Sao biển Culcita novaeguineae.................................................................. 13  
Hình 1.14. Sao biển Protoreaster nodosus................................................................... 14  
Hình 1.15. Sao biển chocolate chip khô........................................................................ 15  
Hình 1.16. Sao biển Astropecten polyacanthus ........................................................... 16  
Hình 1.17. Sao biển Echinaster luzonicus................................................................... 17  
SVTH  
III  
 
Đồ án tốt nghiệp  
GVHD  
LỜI MỞ ĐẦU  
Nước ta có bờ biển tiếp liền với Biển Đông. Đường bờ biển dài 3260 km chạy  
dài từ bắc tới nam. Với một vùng thềm lục địa rộng lớn khoảng hơn một triệu km2,  
thuộc vùng biển nhiệt đới nên nguồn nguyên liệu rất đa dạng và có cả bốn mùa. Bên  
cạnh những loài hải sản đã được khai thác, đánh bắt lâu nay, nguồn động vật đáy,  
đặc biệt là nhóm động vật da gai (Echinodermata) trong hệ sinh thái biển đảo là một  
trong những nguồn thực phẩm có chất lượng cung cấp trực tiếp cho con người, giá  
trị thương mại, du lịch phục vụ cho chế biến thủy, hải sản và cả trong y học. Hiện  
nay, những nghiên cứu về động vật đáy nói chung và loài sao biển nói riêng đã  
được tiến hành nghiên cứu tại nhiều nước. Tuy nhiên, ở nước ta các thông tin về  
loài sao biển không theo hệ thống và nhiều thông tin còn thiếu trong quá trình thu  
thập, tạo cơ sở dữ liệu phục vụ cho mục đích quy hoạch, bảo vệ các giá trị đa dạng  
loài phân bố và giá trị kinh tế với mục tiêu bảo tồn và khai thác nguồn lại lâu dài,  
bền vững.  
Bài đồ án này dựa trên các thống kê tài liệu liên quan đến các đặc trưng cơ bản  
như đặc điểm, phân loại, phân bố và ứng dụng của các loài sao biển ở nước ta cũng  
như tìm hiểu một số quy trình sản xuất các sản phẩm từ sao biển đang được áp dụng  
và thực hiện trong việc tạo ra các sản phẩm có lợi từ sao biển để đáp ứng các nhu  
cầu của con người. Nên đây được xem là một hướng phát triển mới đầy tiềm năng  
cần được khai thác của ngành thủy sản.  
SVTH  
IV  
 
Đồ án tốt nghiệp  
GVHD  
MỤC LỤC  
Chƣơng 1. TÌM HIỂU CÁC LOÀI SAO BIỂN Ở VIỆT NAM............................1  
Chƣơng 2. TÌM HIỂU CÁC QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT CÁC  
SVTH  
V
 
Đồ án tốt nghiệp  
GVHD  
Chƣơng 1.  
TÌM HIỂU CÁC LOÀI  
SAO BIỂN Ở  
VIỆT NAM  
SVTH  
1
 
Đồ án tốt nghiệp  
GVHD  
1.1. Giới thiệu chung về sao biển  
Việt Nam có bờ biển tiếp liền với Biển Đông. Đường bờ biển dài 3260 km  
chạy dài từ bắc tới nam. Với một vùng thềm lục địa rộng lớn khoảng hơn một triệu  
km2, thuộc vùng biển nhiệt đới nên nguồn nguyên liệu rất đa dạng và có cả bốn  
mùa. Trữ lượng cá của vùng biển Việt Nam rất phong phú (theo dự tính sơ bộ có  
khoảng 2000 loài, trong đó hơn 40 loài cá có giá trị kinh tế lớn) cùng với vô số các  
loài hải sản khác như tôm, cua, trai, tảo, … Bên cạnh những loài hải sản đã được  
khai thác, đánh bắt lâu nay, nguồn hải sản sao biển cũng là một trong những loài  
đang được quan tâm đến, với sự đa dạng về chủng loại. Nên đây được xem là một  
hướng phát triển mới đầy tiềm năng cần được khai thác của ngành thủy sản.  
Sao biển là loài động vật không xương sống, thuộc ngành Da gai  
(Echinodermata), lớp Asteroidea.  
Đặc điểm phân bố: Phân bố rộng nhưng tập trung nhiều nhất ở khu vực Bắc  
Thái Bình Dương. Chúng sống ở đáy biển, thích nghi với đáy cát, bùn cát, đá nhỏ,  
san hô. Chúng ít di động, nhạy cảm với ánh sáng và độ mặn của nước biển.  
Đặc điểm cấu tạo: Là nhóm động vật có cấu tạo điển hình của động vật da  
gai. Hình dạng của động vật sao biển là hình sao, cơ thể dẹp theo chiều lưng bụng  
và có đối xứng tỏa tròn bậc năm, gồm một đĩa trung tâm ở giữa và 5 hay nhiều cánh  
(có thể tới 45 cánh) xếp xung quanh, cánh sao biển dài từ 1 – 1,5 cm, có khi lên tới  
80 cm. Lỗ miệng có màu sặc sỡ, khi bò trên giá thể thì lỗ miệng hướng về phía  
dưới, còn hậu môn ở về phía đối diện. Bên trong quanh miệng là ống nước vòng, từ  
đó phát ra năm ống nước phóng xạ tỏa ra tới tận đỉnh của năm cánh, mỗi ống nước  
phóng xạ có hai dãy chân ống. Sao biển không có đầu và việc di chuyển được thực  
hiện nhờ hoạt động của hai hàng chân ống nằm phía dưới của mỗi cánh tay. Tốc độ  
di chuyển của sao biển rất chậm từ 5 đến 10 cm trong 1 phút.  
Hình 1.1. Hình dạng ngoài của sao biển  
A.Mặt lưng B.Mặt bụng  
SVTH  
2
 
Đồ án tốt nghiệp  
GVHD  
Phân loại: Lớp Sao biển (Asteroidea) được chia thành 7 bộ (order):  
Brisingida, Forcipulatida, Notomyotida, Paxillosida, Spinulosida, Valvatida và  
Velatida. Đến nay đã thống kê được khoảng 1.700 loài sao biển phân bố ở tất cả các  
đại dương trên thế giới. Những nơi có nhiều sao biển phải kể đến các vùng biển  
Australia, Đông Thái Bình Dương và Bắc Mỹ. Đặc biệt, vùng biển nhiệt đới Ấn Độ  
Dương Thái Bình Dương là nơi tập trung đại đa số các loài sao biển.  
Bộ Brisingida: Là các lớp sao biển sống dưới đáy biển sâu, chiều dài cơ thể  
khoảng 6 16 cm, các cánh tay mỏng dùng để kiếm thức ăn. Bộ Brisingida có  
khoảng 100 loài với 17 chi và 6 họ.  
Bộ Forrcipulatida: Các loài sao biển thuộc bộ này được nhận biết bởi các  
cánh tay dạng kìm nhỏ, đây là những đặc điểm dễ nhận ra trên cơ thể chúng. Bộ  
Forrcipulatida chứa khoảng 300 loài trong số 68 chi và 6 họ.  
Bộ Notomyotida: Là các loài sao biển sống dưới biển sâu với các cánh tay rất  
linh hoạt và các sợi cơ dài dọc theo bề mặt hông bên trong cơ thể. Bộ Notomyotida  
gồm khoảng 75 loài trong số 12 chi và 1 họ.  
Bộ Paxillosida: Đây là các loài sao biển được xem như là động vật sống dưới  
nước, chúng có thể vùi cơ thể dưới các lớp bùn cát. Chúng được nhận ra bởi một số  
nét đặc trưng như cánh tay nhọn. Bộ Paxillosida chứa khoảng 255 loài trong số 46  
chi và 5 họ.  
Bộ Spinulosida: Đây là các loài sao biển với bộ khung khá mỏng manh và  
chân dạng kìm nhỏ. Bộ Spinulosida chứa khoảng 120 loài trong số 9 chi và 1 họ.  
Bộ Valvatida: Đây là các loài sao biển khá đa dạng nhưng thường được nhận  
ra bởi xương mép nhỏ. Việc xác định về đặc điểm của các loài thuộc bộ này có rất  
nhiều thay đổi và gây nhiều tranh cãi. Bộ Valvatida có khoảng 695 loài trong số 165  
chi và 14 họ.  
Bộ Velatida: Các loài sao biển thuộc bộ này thường có thân mỏng với vòng  
tròn trung tâm lớn và những chỗ lõm với đường kính lớn. Có một số mối quan hệ  
tương đồng giữa họ Velatid và họ Valvatid. Bộ Velatida có khoảng 200 loài trong số  
25 chi và 5 họ.  
SVTH  
3
Đồ án tốt nghiệp  
GVHD  
1.2. Các loài sao biển ở Việt Nam  
Ở Việt Nam có khoảng 60 loài sao biển khác nhau, phân bố dọc bờ biển từ  
bắc đến nam, riêng vịnh Nha Trang đã phát hiện được 20 loài sao biển thuộc 16 chi,  
11 họ và 4 bộ. Còn tại bãi Vạn Bội Cát Bà – Hải Phòng có bãi sao biển với diện  
tích rộng trên 5ha, là nơi tập trung của các loài sao biển rãnh nông và sao biển rãnh  
sâu (Astropecten polyacanthus, A.monacanthus) với mật độ cao (khoảng 20  
con/m2). Đa phần sao biển ở nước ta thuộc các bộ sau:  
Bộ Spinulosida có họ Echinasteridae.  
Bộ Valvatida có các họ Oreasteridae, Ophidiasteridae, Archasteridae.  
Bộ Paxillosida có họ Astropectinidae.  
Bộ Forcipulatida có họ Asteridae.  
1.2.1. Bộ Forcipulatida  
1.2.1.1. Asterias forbesi  
Hình 1.2. Sao biển Asterias forbesi  
Asterias forbesi thường được gọi là sao biển Forbes, là một loài sao biển trong  
họ Asteriidae.  
a) Phân bố: Chúng thường được tìm thấy trong vùng nước nông ở phía tây bắc  
Đại Tây Dương và vùng biển Caribê. Ở Việt Nam, Asterias forbesi được khai thác  
từ các vùng biển Hải Phòng, Nha Trang (Khánh Hòa), Phan Thiết (Bình Thuận),  
Kiên Giang,...  
b) Đặc điểm: Asterias forbesi thường có 5 cánh nhưng đôi khi có thế là 4 hoặc 6  
cánh. Giống như nhiều loài sao biển khác, bề mặt lưng được bao phủ bởi các nốt gò  
mềm. Các cánh tay đầy đặn, rộng từ phần đĩa trung tâm và nhỏ dần đến đầu cánh  
tay. Sao biển Asterias forbesi phát triển có đường kính lên đến khoảng 15 cm (5,9  
in) và có chiều dài cánh tay khoảng 6 cm (2,4 in). Có hàng chân ống ở mặt bụng,  
hai bên của rãnh rãnh của mỗi cánh tay. Màu sắc mặt lưng của Asterias forbesi khác  
nhau, từ màu nâu đến màu đỏ tía và mặt bụng thường có màu nâu nhạt. Tại chóp  
của mỗi cánh tay có đốm mắt nhỏ.  
SVTH  
4
     
Đồ án tốt nghiệp  
c) Bắt mồi  
GVHD  
Sao biển Asterias forbesi ăn động vật thân mềm hai mảnh vỏ. Nó có thể mở  
vỏ bằng cách nắm chặt hai nửa với chân ống của nó và kéo 2 vỏ ra xa nhau. Sau đó,  
sao biển sẽ đưa dạ dày ra ngoài và bao lấy phần thịt, phần thịt sẽ được tiêu hóa bởi  
các enzym tiết ra, tiêu hóa cơ thể của động vật thân mềm tại chỗ.  
Sao biển có thể xác định vị trí con mồi bằng cách nhận biết mùi. Trong một  
thử nghiệm, sáu mươi sao biển Asterias forbesi không được cho ăn trong một tuần  
được sử dụng. Mồi là một miếng thịt hến trong một thùng nước tuần hoàn. Sao biển  
thử nghiệm đã được đặt ở trong thùng nước có mồi sâu khoảng một mét (3 ft 3 in)  
tại vị trí mà nguồn thức ăn và sự chuyển động của mỗi con sao biển sẽ được ghi vào  
băng video. Một thử nghiệm khác tương tự được thực hiện nhưng trong thùng nước  
không có mùi của mồi dùng để đối chứng. 12 sao biển thử nghiệm (20%) chuyển  
hướng tới mục tiêu và được ghi nhận trong vòng 15 cm (6 inch) trong khoảng thời  
gian 15 phút. Hướng di chuyển trở nên chính hơn vì thế khoảng cách đến mồi giảm  
xuống. Tỷ lệ di chuyển của sao biển thấp hơn trong thử nghiệm đối chứng, điều đó  
có nghĩa là tốc độ di chuyển có thể cải thiện bởi khả năng xác định mùi của con mồi  
trong nước. Sao biển sẽ di chuyển về phía mồi nếu trước đó chúng đã bị bỏ đói  
trong một thời gian dài hơn. Thử nghiệm tương tự khác liên quan đến việc bỏ đói  
sao biển trong hai tháng trước khi thử nghiệm và điều này tăng khả năng tìm kiếm  
con mồi.  
d) Ứng dụng  
Các loài sao biển thuộc họ Asteridae thường được dùng làm đồ mỹ nghệ  
dùng trong trang trí và du lịch. Ngoài ra, các loài này cũng được sử dụng làm  
nguyên liệu trong ẩm thực để chế biến các món ăn, một trong những cách chế biến  
loại nguyên liệu này là món sao biển nướng với cách làm cũng khá đơn giản.  
Cách làm món sao biển nướng:  
Chuẩn bị: dầu thực  
vật, muối biển, tiêu sọ  
trắng, bột ớt cayenne và  
sao biển.  
Thực hiện: Sao biển  
đem đi rửa sạch dưới vòi  
nước để làm sạch cát và  
tạp chất; để ráo.  
Rắc đều muối, tiêu và  
ớt lên cả hai mặt của sao  
Hình 1.3. Sao biển nướng  
biển. Đặt sao biển lên vỉ  
nướng nóng đã được phết dầu. Nướng mỗi mặt khoảng 5 phút là có thể dùng được.  
SVTH  
5
 
Đồ án tốt nghiệp  
GVHD  
1.2.1.3. Asterias rubens  
Hình 1.4. Sao biển Asterias rubens  
a) Phân bố: Sao biển Asterias rubens là sao biển phổ biến nhất và quen thuộc ở  
phía đông Đại Tây Dương. Chúng thường được tìm thấy trên nền đá và sỏi, nơi nó  
ăn động vật thân mềm và động vật không xương sống ở đáy khác. Ở Việt Nam được  
khai thác từ các vùng biển Hải Phòng, Nha Trang (Khánh Hòa), Phan Thiết (Bình  
Thuận), Kiên Giang, ...  
b) Đặc điểm  
Sao biển Asterias rubens thường có năm cánh, mỗi cánh rộng từ phần nối  
với đĩa trung tâm và dần dần thuôn nhọn ở chóp cánh, có đường kính từ 10 30 cm  
(4 12 in). Mặc dù một số con sao biển lớn hơn có đường kính lên đến 52 cm (20  
in). Có một dòng gai trắng chạy từ đầu cánh đến chóp cánh ở mặt lưng của cánh tay,  
còn có các nốt gò mềm thấp ở hai bên dòng gai trắng. Mặt bụng của cánh tay có hai  
hàng chân ống nhỏ dọc theo hai bên ống phóng xạ, được sử dụng trong di  
chuyển. Những con sao biển này thường có màu cam hoặc đỏ gạch ở mặt lưng và  
nhạt màu ở mặt bụng nhưng cũng có thể là màu tím hoặc màu nâu nhạt. Các cá thể  
ở nước sâu thường nhạt màu hơn.  
c) Bắt mồi  
Loài sao biển này thường ăn nhiều loại sinh vật đáy. Con mồi của chúng  
gồm các động vật thân mềm hai mảnh vỏ, hàu, động vật chân đầu, động vật da gai  
khác. Khi ăn một động vật thân mềm như một con trai, nó gắn chân ống của nó để  
mỗi van có thể dùng lực hút bám vào và dùng sức để tách phần vỏ ra một  
chút. Ngay cả một khoảng cách chỉ 1 mm (0,039 in) là đủ cho con sao biển đưa một  
phần của dạ dày vào, tiết ra các enzym và bắt đầu tiêu hóa cơ thể động vật thân  
mềm. Những con sao biển thường có khứu giác phát triển tốt và nhạy bén về mùi,  
nhờ vậy có thể phát hiện mùi của con mồi như hến và xác định được hướng di  
chuyển về phía con mồi. Nó cũng có thể phát hiện mùi của các loài sao biển săn mồi  
có thể ăn các con sao biển khác để có hành động lẩn tránh.  
Sao biển Asterias rubens thường tiết ra một chất saponin có tác dụng đẩy  
lùi kẻ thù, gây ra một phản ứng đối với các loài ốc biển lớn – một loài thường săn  
SVTH  
6
Đồ án tốt nghiệp  
GVHD  
mồi. Chất saponin ở nồng độ thấp thì khiến các loài ốc biển lớn có hành động lẩn  
tránh còn ở nồng độ cao nó gây ra một loạt các cơn co giật.  
1.2.1.4. Pisaster ochraceus (Sao biển tía)  
Hình 1.5. Sao biển Pisaster ochraceus  
Loài Pisaster ochraceus, thường được biết đến là sao biển tím, sao biển vàng  
nâu hoặc sao biển đất son, là một loại sao biển thường được tìm thấy trong các vùng  
biển có nước ấm của Thái Bình Dương. Đây là một loài chủ chốt, Pisaster được coi  
là một chỉ báo quan trọng về tình trạng của khu vực bãi triều.  
Đặc điểm  
Sao biển Pisaster ochraceus có năm cánh lớn với chiều dài từ 10 – 25 cm  
(4 – 10 in). Các cánh được sắp xếp xung quanh đĩa trung tâm. Trong khi hầu hết  
các cá thể là màu tím, cũng có cá thể có màu cam, màu vàng nâu hay màu đất  
son. Bề mặt lưng chứa nhiều gai nhỏ (xương nhỏ) được sắp xếp theo mô hình ngũ  
giác trên đĩa trung tâm. Các xương nhỏ không cao hơn 2 mm. Trong Pisaster chân  
ống có mút ở hai đầu cho phép chúng bám vào bề mặt đá và sống ở những khu vực  
có sóng lớn.  
Hai loài có thể bị nhầm lẫn với Pisaster ochraceus là Pisaster giganteus,  
trên bề mặt lưng các gai nhỏ có màu xanh xung quanh màu trắng hoặc gai màu tím,  
và Pisaster brevispinus, có các gai nhỏ trắng hồng. Hai loài có gai ở mặt lưng khác  
nhau và màu sắc cho phép phân biệt giữa các loài. Evasterias troscheli có thể bị  
nhầm lẫn với Pisaster ochraceus nhiều hơn. Nó có thể được phân biệt theo kích  
thước đĩa trung tâm nhỏ hơn, có các cánh thon và dài hơn Pisaster ochraceus.  
SVTH  
7
 
Đồ án tốt nghiệp  
GVHD  
Hình 1.6. Sao biển Pisaster giganteus, Sao biển Pisaster brevispinus,  
Sao biển Evasterias troscheli (từ trái qua)  
Nhiều loài sao biển có thể sống ít nhất là 4 năm. Nhưng đối với loài  
Pisaster ochraceus có thể sống lâu đến 20 năm. Loài sao biển này thường được coi  
là một loài chủ chốt ở nhiều bãi triều. Pisaster ochraceus là một loài ăn trai  
California và làm giảm số lượng loài trai California. Trong một thử nghiệm loại bỏ  
Pisaster ochraceus, người ta thấy rằng số lượng loài trai California gần như hoàn  
toàn thống trị ở khu vực bãi triều. Khi sự hiện diện của Pisaster ochraceus được  
ngăn chặn thì có sự đa dạng quần thể ở khu vực bãi triều.  
1.2.2. Bộ Valvatida  
1.2.2.1. Archaster typicus  
Hình 1.7. Sao biển Archaster typicus  
a) Phân loại, phân bố: Sao biển Archaster typicus là một loài sao biển trong họ  
Archasteridae. Nó thường được gọi là ngôi sao cát. Loài Archaster typicus được tìm  
thấy ở các vùng nước nông 60 mét (200 ft) ở miền tây Ấn Độ Dương và khu vực Ấn  
Độ – Thái Bình Dương. Phạm vi bao gồm quần đảo Maldive, vịnh Bengal,  
Singapore, miền bắc Australia, New Caledonia, Philippines, Trung Quốc, phía nam  
Nhật Bản và Hawaii. Chúng thường sống ở khu vực đáy biển với trầm tích mềm  
bao gồm cát, bùn và bãi cỏ. Ở Việt Nam được khai thác từ các vùng biển Hải  
Phòng, Nam Định, …  
SVTH  
8
   
Đồ án tốt nghiệp  
b) Đặc điểm  
GVHD  
Archaster typicus có 5 cánh hơi dài, hơi thon với chóp nhọn. Một số cá thể có  
3; 4 hay 6 cánh. Con trưởng thành đường kính có thể lên đến 12 – 15 cm (4,7 – 5,9  
in), con đực thường là nhỏ hơn so với cái. Loài sao biển này thích nghi với cuộc  
sống dưới đáy biển đầy cát trắng, nơi nó có thể vùi trong lớp trầm tích khi triều cao  
và di chuyển trên bề mặt trầm tích khi triều thấp. Chúng thường có màu xám hoặc  
nâu nhạt ở mặt lưng còn mặt bụng thì nhạt màu hơn. Có các gai ngắn sắp xếp theo  
một rìa biên, bằng phẳng và thẳng hơn so với Archaster polyacanthus và hệ chân  
ống có mút.  
c) Ứng dụng: Loài Archaster typicus thường dùng làm đồ mỹ nghệ cũng như  
ngâm rượu thuốc. Ngoài ra, còn được dùng làm nguyên liệu để chiết tách các hợp  
chất để phục vụ cho y học.  
Hình 1.8. Sao biển được làm  
khô dùng trong ngâm rượu  
Hình 1.9. Sao biển Archaster  
typicus ngâm rượu  
SVTH  
9
Đồ án tốt nghiệp  
GVHD  
1.2.2.2. Linckia laevigata (Sao biển xanh)  
Hình 1.10. Sao biển Linckia laevigata màu xanh  
Hình 1.11. Sao biển Linckia laevigata màu xanh nhạt và cam  
Sao biển Linckia laevigata còn được gọi là sao biển xanh hay Linckia xanh.  
Loài sao biển này thuộc họ Ophidiasteridae.  
a) Phân bố: Chúng sống trong vùng nước nông của vùng nhiệt đới Ấn Độ  
Dương Thái Bình Dương, thường được tìm thấy ở các vỉa san hô ngầm và cỏ  
biển, loài này khá phổ biến và thường có mật độ phân bố thưa thớt. Ở Việt Nam,  
chúng được tìm thấy ở vùng biển Quảng Trị, vùng biển Nha Trang (Khánh Hòa), …  
b) Đặc điểm:  
Sao biển Linckia laevigata là loài sao biển có 5 cánh nhưng một vài trường  
hợp có thể có 6 cánh. Các cánh tay thon dài và có phần chóp tròn, một số cá thể có  
thể có các đốm tròn trên mặt lưng có màu xanh đậm hơn hoặc nhạt hơn tùy vào màu  
của mặt lưng. Mặt bụng, ở giữa mỗi cánh tay có một đường chân ống màu vàng bắt  
đầu từ đĩa trung tâm đến chóp cánh tay. Sao biển trưởng thành đường kính có thể  
lên đến 30 cm (11,8 in). Các cá thể có thể màu xanh da trời nhạt, đậm hoặc sáng.  
Mặc dù, theo quan sát cũng có những dạng biến thể có màu trắng xanh, tím hoặc  
cam ở khắp đại dương.  
Sao biển xanh cũng là loài thích ăn các mầm san hô sống. Cá nóc, ốc kèn,  
tôm Harlequin, thậm chí một số hải quỳ và một vài loài sao biển cũng là con mồi  
của loài sao biển này.  
SVTH  
10  
 
Đồ án tốt nghiệp  
c) Ứng dụng  
GVHD  
Từ lâu Sao biển Linckia laevigata được xem như sản phẩm chính của ngành  
thủ công mỹ nghệ với các sản phẩm sao biển xanh được sấy khô dùng trong trang trí  
và du lịch. Chính vì vậy, ở một số khu vực là môi trường sống của chúng số lượng  
loài đã giảm đáng kể do việc khai thác liên tục bởi sự ưa chuộng các sản phẩm về  
loài này ngày càng tăng cao.  
Ngoài ra, sao biển xanh còn được đánh bắt để nuôi trong các hồ cá cảnh.  
Mặc dù, loài nay rất nhạy cảm với sự thay đổi của pH, nhiệt độ và độ mặn trong  
môi trường sống. Bởi vì điều này, chúng sẽ dễ bị nhiễm vi sinh vật nên cần được  
chăm sóc kiểm tra thường xuyên. Linckia xanh cần một khoảng thời gian rất dài để  
thích nghi với môi trường sống của hồ được dùng để nuôi chúng.  
1.2.2.3. Acanthaster planci (Sao biển gai)  
Hình 1.12. Sao biển Acanthaster planci  
a) Phân loại: Sao biển Acanthaster planci hay còn gọi là sao biển gai, thuộc họ  
Acanthasteridae, loài Acanthaster. Là loài sao biển lớn thứ nhì trên thế giới chỉ sau  
sao biển Pycnopodia helianthoides (Sao biển hoa hướng dương). Chúng thường ăn  
các loài san hô. Cái tên sao biển gai được đặt theo vẻ bề ngoài được phủ đầy gai  
nhọn có độc khắp bề mặt lưng của chúng, giống như vương miện bằng gai trong  
Kinh Thánh.  
SVTH  
11  
 
Đồ án tốt nghiệp  
b) Đặc điểm  
GVHD  
Sao biển gai có khoảng 13 đến 16 cánh mở rộng tỏa tròn từ trung tâm của  
cơ thể, với đường kính có thể đạt tới 0,5 m. Cơ thể chúng được bao phủ bởi các gai  
nhọn cứng và rất sắc có chiều dài xấp xỉ 5 cm nhằm bảo vệ, chống lại các đe dọa từ  
kẻ địch bao gồm cả con người. Chúng có sự khác biệt về màu sắc cơ thể, màu sắc  
đa dạng khác nhau giữa các phần trên cơ thể.  
Mặc dù sao biển gai thuộc lớp sao biển nhưng chúng khác với các loài khác  
về tập tính ăn với khẩu phần ưa thích nhất là các mầm (polyp) san hô sống. Nhìn  
chung, con mồi ưa thích nhất là các mô mềm của các loài san hô tạo rạn nhưng  
chúng cũng ăn các nhóm san hô khác.  
c) Phân bố: Sao biển Acanthaster planci phân bố rộng khắp Ấn Độ Dương   
Thái Bình Dương. Chúng sống ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới từ Biển Đỏ và phía  
đông bờ biển châu Phi qua Ấn Độ Dương và qua Thái Bình Dương tới bờ biển phía  
tây của Trung Mỹ. Sao biển gai thường được tìm thấy ở các vỉa san hô ngầm hay  
các cộng đồng san hô cứng trong khu vực ở độ sâu từ 5 đến 20 m. Ở Việt Nam được  
phát hiện ở vùng biển Quảng Trị, Quảng Nam, khu vực vinh Nha Trang, Bà Rịa  
Vũng Tàu, Kiên Giang, …  
d) Độc tố  
Sao biển Acanthaster planci đặc trưng bởi có saponin gọi là asterosaponins  
trong mô của chúng. Chúng chứa một hỗn hợp của các saponin. Có ít nhất 15  
nghiên cứu hóa học đã được tiến hành để nghiên cứu về saponin. Các saponin có  
tính chất:  
Làm giảm sức căng bề mặt, tạo bọt nhiều khi lắc với nước, có tác dụng nhũ  
hoá và tẩy sạch;  
Làm vỡ hồng cầu ngay ở những nồng độ rất loãng;  
Độc với cá vì saponin làm tăng tính thấm của biểu mô đường hô hấp nên làm  
mất các chất điện giải cần thiết, ngoài ra có tác dụng diệt các loài thân mềm như  
giun, sán, ốc sên.  
Sao biển gai không có cơ chế để tiêm chất độc, nhưng khi gai đâm thủng  
mô của kẻ thù hoặc người không thận trọng, saponin sẽ đi vào mô ở vùng bị  
thương. Ở con người, sau khi bị gai đâm vào, ngay lập tức gây đau nhức có thể kéo  
dài trong vài giờ, chảy máu dai dẳng do hiệu ứng phá huyết của saponin, buồn nôn  
và sưng mô mà có thể kéo dài một tuần hoặc nhiều hơn. Các gai giòn có thể vỡ ra  
và nằm ở trong các mô, nguời bị thương phải được phẫu thuật lấy ra. Saponin tồn  
tại trong suốt vòng đời của sao biển gai.  
SVTH  
12  
Đồ án tốt nghiệp  
GVHD  
1.2.2.4. Culcita novaeguineae (Sao biển gối)  
Hình 1.13. Sao biển Culcita novaeguineae  
a) Phân loại Phân bố:  
Sao biển Culcita novaeguineae tên thường gọi là sao biển gối, là một loài  
thuộc bộ Valvatida trong họ Oreasteridae. Nó có thể thay đổi màu sắc và có thể  
được tìm thấy trong vùng nước ấm nhiệt đới ở Ấn Độ Thái Bình Dương. Ở Việt  
Nam được tìm thấy tại vùng biển Quảng Ninh, Nha Trang, Bà Rịa Vũng Tàu, Phú  
Quốc (Kiên Giang), …  
b) Đặc điểm  
Sao biển Culcita novaeguineae có 5 cánh. Những con trưởng thành có các  
cánh tay ngắn và sao biển có hình dạng như một chiếc gối ngũ giác căng tròn mặt  
lưng. Chúng có thể phát triển với đường kính lên đến 30 cm (12 in). Các màu sắc  
rất đa dạng và trên mặt lưng có những vết lốm đốm với màu tối hơn và nhẹ hơn  
(màu nâu vàng, nâu, cam, vàng và xanh lá cây) màu tổng thể của bề mặt  
lưng. Những con sao biển gối nhỏ có hình dạng rất khác so với con sao biển gối khi  
trưởng thành. Những con nhỏ cũng có 5 cánh tay, các cánh tay ngắn, rộng, mặt lưng  
không nhô cao như những con trưởng thành.  
Con mồi của chúng thường là các loài sống trên san hô và các loài sống trên  
cơ thể các loài khác cũng như các vật chất hữu cơ.  
c) Ứng dụng: Sao biển gối thường không dùng trong thực phẩm. Chúng thường  
được bắt về để sấy khô làm các sản phẩm thủ công mỹ nghệ và du lịch.  
SVTH  
13  
 
Đồ án tốt nghiệp  
GVHD  
1.2.2.5. Protoreaster nodosus (Sao biển chocolate chip)  
Hình 1.14. Sao biển Protoreaster nodosus  
a) Phân loại Phân bố  
Sao biển Protoreaster nodosus thường được gọi là sao biển sừng hoặc sao  
biển socola chip, thuộc họ Oreasteridae. Là một loài sao biển được tìm thấy trong  
vùng nước nông và ấm của khu vực Ấn Độ Dương Thái Bình Dương. Loài này  
được tìm thấy nhiều ở vùng biển quanh đảo Phú Quốc, vùng biển Nha Trang, …  
b) Đặc điểm:  
Sao biển Protoreaster nodosus có hàng gai hay "sừng", hình dạng của các  
gai có hình nón đỉnh nhọn và màu đen sắp xếp theo một hàng duy nhất chạy từ đĩa  
trung tâm đến đỉnh cánh, còn tại phần đĩa trung tâm thì các gai xếp thành hình tròn  
bao quanh phần đĩa. Các gai này có thể bị mòn và có đỉnh tròn. Những chỗ lồi lõm  
tối màu có thể được sử dụng để xua đuổi kẻ săn mồi, bằng cách trông có vẻ đáng sợ  
và nguy hiểm. Hầu hết các sao biển socola chip được tìm thấy là đều có năm cánh  
tay, nhưng một số cá thể có thể có bốn hoặc sáu cánh. Đường kính có thể lên đến 30  
cm (12 in) ở những con trưởng thành.  
Ở mặt bụng, hệ chân ống có màu tím ( nhạt, trong suốt, màu hồng) được  
sắp xếp thành hai hàng dọc theo ống phóng xạ trên mỗi cánh tay. Tại các vùng tối  
SVTH  
14  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 40 trang yennguyen 19520 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đồ án Tìm hiểu về các loài sao biển ở Việt Nam: Đặc điểm, phân loại, phân bố, ứng dụng và công nghệ sản xuất các sản phẩm từ sao biển", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdo_an_tim_hieu_ve_cac_loai_sao_bien_o_viet_nam_dac_diem_phan.pdf