Khóa luận Nghiên cứu cấu trúc và đặc điểm phân bố loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp (Amentotaxus argotaenia (Hance) Pilg) tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn - Tỉnh Phú Thọ

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
--------------  
NÔNG VĂN CƯỜNG  
NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ LOÀI DẺ  
TÙNG SỌC TRẮNG HẸP ( AMENTOTAXUS ARGOTAENIA (HANCE)  
PILG ) TẠI VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
: QLTNR  
: Lâm nghiệp  
: 2015 - 2019  
Khóa học  
Thái Nguyên – năm 2019  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
--------------  
NÔNG VĂN CƯỜNG  
NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ LOÀI DẺ  
TÙNG SỌC TRẮNG HẸP ( AMENTOTAXUS ARGOTAENIA (HANCE)  
PILG ) TẠI VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: QLTNR  
: K47 - QLTNR  
: Lâm nghiệp  
Khoa  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Giáo viên hướng dẫn  
: TS. Nguyễn Đăng Cường  
Thái Nguyên – năm 2019  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số  
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong  
bất kỳ công trình nào để bảo vệ khóa luận. Các hình và ảnh sử dụng trong  
công trình là của tác giả và tập thể cộng tác.  
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019  
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn  
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước  
Hội đồng khoa học  
Người viết cam đoan  
TS. Nguyễn Đăng Cường  
Nông Văn Cường  
Xác nhận của giáo viên phản biện  
 
ii  
LỜI CꢀM ƠN  
Đề tài: “Nghiên cứu cấu trúc và đặc điểm phân bố loài Dẻ tùng sọc  
trắng hẹp ( Amentotaxus argotaenia (Hance) Pilg ) tại vườn quốc gia Xuân  
Sơn, tỉnh Phú Thọ” được hoàn thành theo chương trình đào tạo Đại học,  
chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, khoá 47 (2015 - 2019). Trường  
Đại học Nông lâm – Đại học Thái Nguyên.  
Trong quá trình học tập cũng như hoàn thành khóa luận, tác giả đã nhận  
được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo và các thầy  
giáo, cô giáo thuộc Trường Đại học Nông Lâm Thái nguyên. Nhân dịp này  
cho tôi xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó.  
Đặc biệt tác giả xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Đăng Cường  
với tư cách là người hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tác  
giả trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này.  
Tôi cũng xin cảm ơn Vườn Quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ đã tạo điều  
kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và thu thập số liệu ngoại nghiệp  
để hoàn thành khóa luận này.  
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người  
thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập  
và hoàn thành khóa luận.  
Vì điều kiện thời gian, nhân lực và những khó khăn khách quan nên  
bản khóa luận này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất  
mong nhận được những ý kiến đóng góp của các các thầy, cô giáo, bạn bè để  
khóa luận được hoàn thiện hơn.  
Xin chân thành cảm ơn!  
Tác giả khóa luận  
Nông Văn Cường  
 
iv  
DANH MỤC CÁC HÌNH  
 
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
VQG  
: Vườn quốc gia  
QXTVR : Quần xã thực vật rừng  
CTTT  
OTC  
ODB  
Hvn  
: Công thức tổ thành  
: Ô tiêu chuẩn  
: Ô dạng bản  
: Chiều cao vút ngọn  
: Đường kính 1m3  
: Quần xã thực vật  
D1.3  
QXTV  
 
vi  
MỤC LỤC  
 
vii  
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1.Tính cấp thiết của đề tài  
Loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp ( Amentotaxus argotaenia (Hance) Pilg )  
thuộc họ Thông đỏ (Taxaceae) còn có tên gọi khác là Sam bông sọc trắng  
hẹp mọc phổ biến ở rừng thường xanh núi đất hoặc núi đá nguyên sinh vùng  
miền Bắc Việt Nam có độ cao từ 1000m đến 1500m so với mực nước biển.  
Thông thường chúng phân bố ở đường đỉnh giông núi của những núi đá vôi.  
Các tài liệu đã ghi nhận phân bố của chúng ở các tỉnh Lào Cai, Sơn La, Thái  
Nguyên, Vĩnh Phúc, Hoà Bình và Thanh Hoá. Các thông tin khác ghi nhận có  
ở các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Lạng Sơn và Quảng Ninh chưa  
được chứng minh. Ngoài Việt Nam thì có một vài quần thể nhỏ phân bố ở Lào  
và Trung Quốc. Chúng là loài cây gỗ lớn, có thể cao đến 40m, đường kính  
gốc lớn hơn 1m, mọc hỗn giao với các loài cây Hạt trần khác như Kim giao,  
Thông tre, Đỉnh tùng, Thông 5 lá...Sở dĩ chúng có tên Dẻ Tùng Sọc Trắng  
Hẹp là do đặc điểm nhận dạng hai sọc trắng ở mặt dưới lá hẹp hơn so với  
loài Dẻ tùng sọc trắng rộng (Amentotaxus yunnanensis).  
Trong tự nhiên Dẻ tùng sọc trắng hẹp bị khai thác để lấy gỗ làm nhà,  
làm các vật dụng gia đình hoặc làm cảnh. Ngoài ra, các loài trong họ Thông  
đỏ này còn dùng để chiết suất chất có khả năng kháng tế bào ung thư và hạt  
chứa hàm lượng tinh dầu cao. Tuy nhiên nhân tố đe doạ chủ yếu đến chúng lại  
không phải do việc khai thác lấy gỗ mà chính là sự phá rừng, khai phá nương  
rẫy đã làm mất môi trường sống của chúng. Trong Danh lục đỏ quốc tế IUCN  
chúng được liệt vào mức độ Gần Bị đe doạ, còn Sách Đỏ Việt Nam xếp ở  
mức độ Hiếm.  
     
2
Tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, theo ghi nhận được phân bố tại các đỉnh  
núi Ten, Cẩn và Băng đây là các khu vực rừng trên núi đá vôi có địa hình  
hiểm trở và xa khu dân cư. Tuy nhiên, cho đến nay tại khu vực chưa có trình  
nghiên cứu về loài mà chỉ dừng lại ở việc ghi nhận được 06 cây với đường  
kính trung bình từ 40-60 cm. Bên cạnh đó, để hỗ trợ cho bảo tồn loài Dẻ tùng  
sọc trắng hẹp, rất cần thiết phải xác định được vị phí và khu vực phân bố,  
đồng thời xây dựng bản đồ phân bố cho loài. Đây sẽ là cơ sở khoa học và thực  
tiễn góp phần quản lý loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp hiệu quả hơn. Xuất phát từ  
lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu cấu trúc và đặc điểm  
phân bố loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp (Amentotaxus argotaenia (Hance) Pilg )  
tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn - tỉnh Phú Thọ”.  
1.2.Mục tiêu nghiên cứu  
Mục tiêu chung  
Góp phần bổ sung thông tin về cấu trúc rừng và vị trí phân bố chính xác  
của loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ làm cơ sở đề  
xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây này ở Xuân Sơn.  
Mục tiêu cụ thể  
- Đánh giá được đặc điểm cấu trúc rừng nơi Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân  
bố.  
- Ứng dụng phần mềm Qgis xây dựng bản đồ phân bố của loài Dẻ tùng  
sọc trắng hẹp tại khu vực nghiên cứu.  
- Xác định được đặc điểm đặc điểm tái sinh và xây dựng bản đồ phân  
bố của loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp tái sinh tại khu vực nghiên cứu.  
- Bước đầu đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây này ở  
VQG Xuân Sơn.  
 
3
1.3.Ý nghĩa khoa học của đề tài  
- Về mặt khoa học: Bổ sung các thông tin khoa học về vị trí và khu vực  
phân bố cho các nhà quản lý bảo tồn.  
- Về mặt thực tiễn: Cơ sở để thực hiện nghiên cứu loài Dẻ tùng  
sọc trắng hẹp ( Amentotaxus argotaenia (Hance) Pilg ) làm cơ sở đề xuất  
hướng bảo tồn loài và giám sát đa dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh  
Phú Thọ.  
 
4
PHẦN 2  
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
2.1 Các nghiên cứu trên thế giới về Dẻ tùng sọc trắng hẹp  
2.1.1 Nghiên cứu về hình thái và phân bố  
2.1.1.1 Hình thái  
Họ Dẻ tùng (Taxaceae) có 5 chi và 21 loài, chi Dẻ tùng (Amentotaxus)  
được Pilger thành lập năm 1917 trên cơ sở chuyển loài Podocarpus  
argotaenia Hance được mô tả và công bố năm 1883 dựa trên mẫu thu được ở  
dãy núi Phật Sơn ở Quảng Đông (Trung Quốc) thu năm 1882, chi này chỉ có 5  
đến 6 loài, đa số các loài là cây nhỏ và cây bụi.  
Ở Trung Quốc, Dẻ tùng sọc trắng hẹp có dạng cây bụi hoặc gỗ nhỏ cao  
đến 7 m, có lá khá nhỏ dài 2-11 cm, rộng 5-11 mm, gân và cuống lá vặn từ  
45-950 so với cành mang lá, hai bên gân chính của lá có hai dải khí khổng  
màu trắng rộng 1,2-2 mm hẹp hơn phần lá màu xanh từ dải khí khổng màu  
trắng đến mép lá, phần này rộng 1,4-3mm. Quả hình trứng hẹp, có kích thước  
1,9-2,6 x 1-1,3 cm, màu đỏ sáng khi chín, cuống quả dài 1,1-1,4 cm. Hoa giao  
phấn vào tháng 4 và quả chín vào tháng 10. Dẻ tùng sọc trắng gồm có 2 thứ  
(var) (Amentotaxus argotaenia var. Brevifolia K.M. Lan & F.H. Zhang và  
Amentotaxus argotaenia var. argotaenia) dựa vào kích thước lá, đặc điểm  
phấn hoa và chiều dài cuống quả. (Fu et al, 1999) [19].  
2.1.1.2. Phân bố  
Dẻ tùng sọc trắng hẹp có phân bố ở núi đá, hẻm núi, bờ suối giâm và  
ẩm trong rừng tự nhiên ở độ cao từ 300 đến 1100 m ở các tỉnh Phúc Kiến,  
phía Nam tỉnh Cam Túc, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, phía Tây tỉnh  
Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tô, Đông Bắc tỉnh Giang Tây, Đông Nam tỉnh Tứ  
xuyên, Đài Loan, Đông Nam khu tự trị Tây Tạng, phía nam tỉnh Chiết Giang  
       
5
và phía bắc Việt Nam đối với Amentotaxus argotaenia var. argotaenia . Còn  
đối với Amentotaxus argotaenia var. brevifolia K.M. Lan & F.H. Zhang chỉ  
có phân bố ở núi đá ở phía nam tỉnh Quý Châu ở độ cao khoảng 900 m (Fu et  
al, 1999) [19].  
Phan Kế Lộc và các tác giả (2017) khi nghiên cứu các loài cây hạt trần  
ở Việt Nam cho rằng: Dẻ tùng sọc trắng hẹp có phân bố ở Trung Quốc, Lào  
và Việt Nam [10].  
2.1.1.3. Nghiên cứu về nhân giống và bảo tồn  
Danh lục đỏ của IUCN năm 2013 đánh giá Dẻ tùng sọc trắng hẹp ở sắp  
bị đe dọa (Near threatened) [20]. Và một thứ của loài này (Amentotaxus  
argotaenia var. brevifolia K.M. Lan & F.H. Zhang) được đánh giá ở mức  
nguy cấp (CR) [21].  
2.2. Các nghiên cứu về Dẻ tùng sọc trắng hẹp ở Việt Nam  
2.2.1. Nghiên cứu về hình thái và phân bố  
2.2.1.1. Hình thái  
Phạm Hoàng Hộ (1991) mô tả Dẻ tùng sọc trắng hẹp là cây gỗ nhỏ,  
đường kính đạt đến 30 cm. Lá thon hẹp hơi cong, dài 5-7 cm, mặt dưới có 2  
dải màu xám bạc, mép uốn xuống. Chùy được có 3-6 túi phấn. Chùy cái mang  
1 noãn, hạt hình trái xoan, áo hạt ban đầu màu đỏ cam sau đỏ đâm [9].  
Nguyễn Đức Tố Lưu và Thomas (2004) đã mô tả Dẻ tùng sọc trắng hẹp  
là cây gỗ nhỏ cao 6 – 10 m, đường kính tới 50 cm, tán thưa với cành hướng  
lên cao. Vỏ nứt màu nâu xám, đỏ da cam ở bên dưới. Chồi ngọn vuông, vảy  
chồi không rụng, lá hình dải hay hình mác đôi khi hơi cong lưỡi liềm, tạo  
thành một góc với thân, gần như mọc đối, dài 8 cm và rộng 15 mm, mặt trên  
màu xanh bóng thẫm, mặt dưới có 2 dải lỗ khí phân biệt nằm giữa các dải  
xanh ở mép và ở hai bên dải xanh dọc gân giữa, dải lỗ khí rộng tới 1,5 lần dải  
xanh ở mép, gân giữa nổi ở mặt dưới, mép lá dẹt hoặc hơi cuộn lại, đỉnh lá  
   
6
nhọn, lá ở chỗ khuất sáng và lá non mới mọc có thể dài hơn với dải lỗ khí  
nhạt màu hơn ở mặt dưới. Hoa đơn tính khác gốc, nón cái đơn độc, mọc từ  
nách lá của các chồi ngắn, áo hạt khi chín màu đỏ, nón hình bầu dục và rủ trên  
cuống dài 2 cm, hạt và áo hạt dài đến 2,5 cm và có đường kính 1,5 cm, hạt hơi  
nhô ra, chín trong năm sau, khi chín nhăn. Nón đực thành cặp hay thành chùm  
2-5, thường 3 ở ngọn các cành nhỏ, dài 5-6,5 cm, mỗi lá tiểu bào tử 2-5 túi  
phấn. Hạt hình bầu dục trứng ngược, dài đến 2,5 cm với đường kính 1,3 cm,  
tím đỏ khi chín, rủ xuống đất khi chín [11].  
Nguyễn Hoàng Nghĩa (2004) đã mô tả Dẻ tùng sọc trắng hẹp là cây gỗ  
nhỏ, cao trung bình 6-10 m, có thể cao đến 20m, đường kính đạt 40-50 cm,  
thường xanh. Tán thưa với các cành hướng lên cao. Vỏ màu nâu xám, nứt  
mảnh. Lá mọc đối chéo chữ thập nhưng do gốc vặn nên xếp thành hai dãy. Lá  
hình dải hay hình mác, đôi khi hơi cong hình lưỡi liềm, lá dài 3-11 cm, rộng  
6-10mm, mặt trên xanh bóng thẫm, mặt dưới có hai dải lỗ khí phân biệt năm  
giữa các dải xanh ở mép, đỉnh lá nhọn. Là loài phân tính khác gốc. Nón cái  
mọc đơn độc từ nách lá của cành mới, ở gốc có vài đôi lá bắc mọc đối chép  
chữ thập. Áo hạt khi chín màu đỏ. Nón cái hình bầu dục và rủ xuống, dài 2-  
2,5 cm, đường kính 1,3-1,5 cm, có 4 vảy tồn tại ở gốc. Cuống dài 2 cm. Nón  
đực mọc thành bông đơn độc chụm lại ở nách lá gần đầu cành dài 5-6,5 cm.  
Hạt hình bầu dục – trứng ngược, dài tới 2,5 cm [12].  
Hoàng Văn Sâm (2013) khi nghiên cứu các loài thực vật họ hạt trần ở  
Vườn quốc gia Hoàng Liên đã phát hiện thấy 4 cây Dẻ tùng sọc trắng hẹp  
chiều cao từ 14- 25 m, đường kính 25-65 cm. Vỏ mảnh nứt màu nâu xám, đỏ  
da cam bên dưới. Lá mọc đối chéo chữ thập nhưng do gốc văn nên xếp thành  
hai dãy, lá dài 3-11 cm, rộng 6-10 mm, mặt trên màu xanh bóng thẫm, mặt  
dưới có hai dải lỗ khí phân biệt năm giữa các dải xanh ở mép và hai bên dải  
dải dọc gân giữa. Nón cái hình bầu dục và rủ xuống, dài 2-2,5 cm, đường kính  
7
1,3-1,5 cm, có 4 vảy tồn tại ở gốc. Cuống dài 2 cm. Nón đực mọc thành bông  
đơn độc hay chụm lại ở nách lá gần đầu cành. Hạt hình bầu dục – trứng  
ngược, dài tới 2,5 cm.  
Trần Minh Tuấn (2013) khi nghiên cứu Dẻ tùng sọc trắng hẹp tại các  
Vườn quốc gia Tam Đảo, Ba Vì và Xuân Sơn mô tả: Dẻ tùng sọc trắng có  
đường kính từ 31,4 -54,8 cm, cao 12- 17,5 m dựa trên kết quả đo 9 cây (6 cây  
tại Ba Vì, 1 cây tại Tam Đảo và 2 cây ở Xuân Sơn). Vỏ cây non có màu xanh  
thẫm, sau chuyển sang nâu đỏ vỏ mỏng, cây lớn vỏ nứt măng màu nâu xám,  
bên dưới có màu đỏ da cam. Lá hình mác hơi cong lưỡi liềm, dài 8 cm, rộng  
15 mm, mặt trên xanh thẫm bóng, mặt dưới có hai dải khí khổng hai bên gân  
giữa, dải lỗ khí rộng tới 1,5 lần dải xanh ở mép, gân giữa nổi ở mặt dưới. Nón  
đơn tính khác gốc, nón cái đơn độc, mọc từ nách lá của các chồi ngắn, áo hạt  
khi chín màu đỏ, nón hình bầu dục và rủ trên cuống dài 2 cm, hạt và áo hạt  
dài 2,5 cm, đường kính 1,5 cm, hạt hơi nhô ra, chín trong năm sau, khi chín  
nhăn. Nón đực thành cặp hoặc thành chùm 2-5, thường 3 ở ngọ các cành nhỏ,  
dài 5-6,5 cm, mỗi lá tiểu bào tử có 2-5 túi phấn. Hạt hình bầu dục trứng ngược  
dài 2,5 cm, đướng kính 1,3 cm, tím đỏ khi chín, rụng xuống đất khi chín [14].  
Đỗ Văn Trường và Nguyễn Bá Tâm (2017) khi nghiên cứu tính đa  
dạng, phân bố và hiện trạng hai loài thông tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù  
Luông (Thanh Hóa) đã mô tả Dẻ tùng sọc trắng hẹp là gỗ lớn đến gỗ nhỡ, cao  
đến 15 m, đường kinh thân đến 90 cm, cây thường xanh, vỏ mảnh, nứt màu  
nâu xám, bên dưới màu đỏ. Lá đơn, mọc đối, gốc lá vặn xếp thành mặt phẳng,  
lá hình dải, dài 4-9 cm, rộng 0,8 – 1,3 cm, ở mặt dưới có 2 dải lỗ khí khổng  
màu phấn trắng ở hai bên gần giữa, rộng gấp 1,5 lần dải xanh ở mép lá, mép  
hơi cong, đỉnh lá nhọn. Nón đơn tính khác gốc. Nón đực tập trung thành dạng  
bông, đơn độc hay cụm 2-3 bông ở nách lá, gần đầu cành dài 5-6,5 cm, nhị có  
2-5 bao phấn. Nón cái mọc đơn đọc ở nách lá của cành mới, trên đầu một  
8
cuống ngắn hơi mập, ở gốc có vài đôi lá bắc mọc đối chéo chữ thập. Hạt mọc  
rủ xuống, hình trứng dài 2-2,5 cm, đường kính 1,3 cm, có 5 vảy tồn tại ở gốc,  
khi chín áo hạt màu da cam rồi đỏ sẫm.  
Phan Kế Lộc và các tác giả (2017) đã mô tả Dẻ tùng sọc trắng hẹp là  
cây gỗ cao 25-30 m, đường kính 60 – 80 cm, thỉnh hoảng có kích thước lớn  
hơn, dải sọc trắng khí khổng ở mặt dưới dưới lá hẹp hơn dải xanh hai bên  
giáp mép lá. Quả hình trứng dài 19-25 mm, đướng kính 10-13 mm, vỏ quả  
ban đầu màu đỏ sáng sau đó chuyển màu nâu đỏ khi chín [10].  
2.2.1.2. Phân bố  
Phạm Hoàng Hộ (1991) cho rằng: Dẻ tùng sọc trắng hẹp có phân bố ở  
Sapa, Braian ở độ cao từ 1000-1500 m so với mực nước biển [9].  
Nguyễn Đức Tố Lưu và Thomas (2004) cho rằng: Dẻ tùng có phân bố  
ở Việt Nam và Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, có phân bố ở Lào Cai, Hòa  
Bình, Sơn La, Thanh Hóa, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ,  
có thể có ở Lạng Sơn và Quảng Ninh. Phân bố ở độ cao 950-1500m ở rừng á  
nhiệt đới thường xanh lá rộng, thường trên núi đa vối [11].  
Nguyễn Tiến Hiệp và các tác giả (2004) khẳng định biết chắc chắn có ở  
các tỉnh Lào Cai, Sơn La, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hòa Bình và Thanh Hóa [6].  
Nguyễn Hoàng Nghĩa (2004) cho rằng: Trên thế giới, loài này có  
phân bố ở Việt Nam và Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam có Lào Cai (VQG  
Hoàng Liên), Phú Thọ (VQG Xuân Sơn), Vĩnh Phú (VQG Tam Đảo), Hòa  
Bình (khu BTTN Hang Kia-Pà Cò), Hà Tây (VQG Ba Vì), Thanh Hóa  
(Khu BTTN Pù Luông) [12].  
Trần Minh Tuấn (2013) cho rằng Dẻ tùng sọc trắng hẹp thường phân bố  
rải rác ở các kiểu rừng hỗn hợp thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở trạng thái  
IIIa1, thường chiếm lĩnh tầng cây cao, có độ tàn che từ 0,5-0,7 trở lên, ở độ  
cao 920 -1100 m so với mực nước biển. Hoàng Văn Sâm (2013) khi điều tra  
9
Dẻ tùng sọc trắng hẹp ở Vườn quốc gia Hoàng Liên phát hiện 4 cá thể ở độ  
cao 1800 m so với mực nước biển [14].  
Phan Kế Lộc và các tác giả (2017) cho rằng: Ở Việt Nam, Dẻ tùng sọc  
trắng hẹp có phân bố ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn,  
Thái Nguyên, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Phú Thọ, Hòa Bình, Thanh Hóa,  
Quảng Bình và Quảng Trị. Loài này mọc rải rác ở trong rừng nguyên sinh lá  
rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên các các dãy núi đá vôi, hiếm thấy ở  
trên núi đất ở độ cao từ 700 đến 1600 m so với mực nước biển [10].  
Phan Thị Thanh Huyền và Nguyễn Văn Hùng (2017a) điều tra phân bố  
Dẻ tùng sọc trắng hẹp ở Mộc Châu, Sơn La thấy: Dẻ tùng sọc trắng hẹp có  
phân bố ở núi đật, độ cao từ 1000 m đến 1600m [7].  
2.2.2. Nghiên cứu về đặc điểm lâm học  
- Về vật hậu: Trần Minh Tuấn (2013) cho rằng mùa hoa Dẻ tùng sọc  
trắng hẹp từ tháng 3 đến tháng 4, nón thành thục và chín từ tháng 5 đến  
tháng 7 năm sau. Đỗ Văn Trường và Nguyễn Bá Tâm (2017) cho rằng: Nón  
xuất hiện vào tháng 4 và chín vào tháng 8-10 năm sau. Phan Kế Lộc và các  
tác giả (2017) khẳng định rằng: Hoa có thể thụ phấn từ tháng 2 đến tháng  
4 và quả chín vào tháng 10 – tháng 11, có một lần thấy quả chín vào tháng  
3 [14].  
- Về tái sinh: Nguyễn Đức Tố Lưu và Thomas (2004) cho rằng: tái sinh  
tự nhiên của Dẻ tùng sọc trắng hẹp ít gặp, cây mầm và cây con chịu bóng.  
Trần Minh Tuấn (2013) đã điều tra cây tái sinh Dẻ tùng sọc trắng hẹp trong  
tán và ngoài tán cây mẹ với 40 ô điều tra tái sinh 4 m2 chỉ thấy 26 cây tái sinh  
ở 5 ô, các cây có chiều cao dưới 20 cm, thuộc lớp cây mạ [11]. Hoàng Văn  
Sâm (2013) ghi nhận 5 cá thể Dẻ tùng sọc trắng hẹp tái sinh tự nhiên ở Vườn  
quốc gia Hoàng Liên, trong đó 02 tái sinh bằng hạt và 03 cây tái sinh chồi  
quanh gốc cây mẹ. Tất cả các cá thể này đều là cây mạ. Như vậy, tái sinh của  
 
10  
Dẻ tùng sọc trắng hẹp ở Vườn ươn quốc gia Hoàng Liên rất kém trong khi các  
cây phát hiện đều là cây trưởng thành nên khả năng tự phục hồi của loài này  
không tốt. Phan Thị Thanh Huyền và Nguyễn Văn Hùng (2017b) cho rằng:  
Dẻ tùng sọc trắng hẹp tái sinh xuất hiện ở độ cao 1000-1300m không có cây  
tái sinh hạt chỉ có cây tái sinh chồi, tỷ lệ cây tái sinh trong công thức tổ thành  
chiếm 2,7% trở xuống. Còn độ cao 1300-1600 và trên 1600 có cả cây tái sinh  
hạt và chồi nhưng chủ yếu từ hạt, với tỷ lệ cây tái sinh trong công thức tổ  
thành tương ứng là 4,3-5,3% và 10,7-13,9%. Như vậy, càng lên cao Dẻ tùng  
sọc trắng hẹp tái sinh tự nhiên tốt hơn. Mật độ cây tái sinh Dẻ tùng sọc trắng  
hẹp rất thấp, chỉ có 1 cây ở đai cao 1000-1300m, 167 cây/ha ở đai cao 1300-  
1600m và 250-417 cây/ha ở đai cao trên 1600m. Cây tái sinh Dẻ tùng sọc  
trắng hẹp chủ yếu phân bố nhiều ở 2 cấp chiều cao 1-2 m và trên 2 m nhưng  
không có thống kế chính xác số lượng [8].  
- Về cấu trúc: Dẻ tùng sọc trắng hẹp thường mọc cùng các loại cây lá  
kim như Thông tre lá ngắn (Podocarpus pulgeri) và Thiết sam giả  
(Pseudotsuga sinensis) (Nguyễn Đức Tố Lưu và Thomas, 2004; Nguyễn  
Hoàng Nghĩa, 2004) [11]. Nguyễn Tiến Hiệp và các tác giả (2004) cho rằng:  
Ở Hòa Bình và Sơn La và một số vùng núi đá khác loài này thỉnh thoảng hỗn  
giao với các loài Thông Pà Cò (Pinus kwangtungensis), Thông đỏ bắc (Taxus  
chinensis), Kim giao núi đá (Nageia fleuryi), Thông tre lá dài (Podocarpus  
neriifolius) and Thông tre lá ngắn (Podocarpus pilgeri). Trần Minh Tuấn  
(2013) điều tra tổ thành thành tầng cây cao ở 8 ô tiêu chuẩn 1000 m2 ở Ba Vì,  
Tam Đảo, Xuân Sơn thấy rằng: Dẻ tùng sọc trắng hẹp không phải là loài cây  
chiếm ưu thế tầng cây cao, trừ ô tiêu chuẩn điều tra ở Xuân Sơn có Dẻ tùng  
sọc trắng hẹp chiếm ưu thế cùng với các loài Trai lý và Thông tre [6]. Phan  
Thị Thanh Huyền và Nguyễn Văn Hùng (2017a) cho rằng: ở độ cao 1000-  
1300 m Dẻ tùng sọc trắng hẹp không tham gia vào tổ thành tầng cây cao, chỉ  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 82 trang yennguyen 10800 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu cấu trúc và đặc điểm phân bố loài Dẻ tùng sọc trắng hẹp (Amentotaxus argotaenia (Hance) Pilg) tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn - Tỉnh Phú Thọ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_cau_truc_va_dac_diem_phan_bo_loai_de_tu.pdf