Khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí trên cây đến cấu tạo và tính chất vật lý của Vầu tuổi 1 (Bambusa nutans) tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
-----------------------------  
DÌ THỊ OANH  
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VỊ TRÍ TRÊN CÂY ĐẾN CẤU TẠO  
VÀ TÍNH CHẤT VẬT LÝ CỦA VẦU TUỔI 1 (Bambusa Nutans)  
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
: Quản Lý Tài Nguyên Rừng  
: Lâm Nghiệp  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Thái Nguyên, năm 2019  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
-----------------------------  
DÌ THỊ OANH  
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VỊ TRÍ TRÊN CÂY ĐẾN CẤU TẠO  
VÀ TÍNH CHẤT VẬT LÝ CỦA VẦU TUỔI 1 (Bambusa Nutans)  
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Quản Lý Tài Nguyên Rừng  
: K47 – QLTNR – N01  
: Lâm Nghiệp  
Khoa  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Việt Hưng  
Thái Nguyên, năm 2019  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu  
và kết quả trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề được sử dụng  
để bảo vệ một học vị nào.  
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các  
thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc.  
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2019  
XÁC NHẬN CỦA GVHD  
Đồng ý cho bảo vệ kết quả  
trước hội đồng khoa học.  
NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN  
Th.S Nguyễn Việt Hưng  
Dì Thị Oanh  
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN  
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót  
sau khi hội đồng chấm yêu cầu  
(Ký và ghi rõ họ tên)  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Thực tập tốt nghiệp là một khâu quan trọng không thể thiếu đối với mỗi  
sinh viên. Đó không chỉ là điều kiện cần thiết để mỗi sinh viên có thể hoàn  
thành khóa học và tốt nghiệp ra trường mà đó còn là cơ hội cho mỗi sinh viên  
ôn lại và áp dụng các kiến thức đã học vào thực tế, trau dồi những kiến thức  
quý báu để sau khi ra trường trở thành cán bộ vừa có trình độ lý luận, kiến  
thức chuyên môn vững vàng, vừa có kiến thức thực tiến, tính sáng tạo trong  
công việc.  
Được sự đồng ý của khoa Lâm Nghiệp, trường Đại học Nông lâm Thái  
Nguyên. Em đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí  
trên cây đến cấu tạo và tính chất vật lý của Vầu tuổi 1 (Bambusa Nutans)  
tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên”. Để thực hiện đề tài này, em xin  
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS. Nguyễn Việt Hưng, người hướng dẫn đề  
tài tốt nghiệp cho em đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực  
hiện đề tài. Em xin cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo đã tạo  
điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài.  
Xin cám ơn một số hộ dân trên địa bàn nghiên cứu đã tạo điều kiện  
giúp đỡ em trong việc thu thập số liệu ngoài thực địa, để em thực hiện và  
hoàn thành đề tài tốt nghiệp.  
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên khóa luận  
của em không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý  
kiến của quý thầy cô, các bạn sinh viên để đề tài của em hoàn thiện hơn.  
Em xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019  
Sinh Viên Thực Tập  
Dì Thị Oanh  
iv  
DANH MỤC HÌNH  
 
v
MỤC LỤC  
 
vi  
1
Phần 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Tꢀnh cấp thiết của đề tài  
Loài Vầu có tên khoa học là (Bambusa nutans), thuộc họ Hòa thảo  
PoaceBarnh, phân họ Tre Bambusoideae và thuộc chi Vầu Indosasa, còn có  
các tên gọi khác là: Vầu lá nhỏ, là loại tre không gai, mọc phân tán đơn độc  
từng cây tập trung nhiều nhất là ở các tỉnh như Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang,  
Tuyên Quang, Phú Thọ, Bắc Kạn, Thái Nguyên, cũng có thể phát triển ở Lạng  
Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, Sơn La.  
Rừng Vầu là loại rừng thứ sinh hình thành sau khi gỗ nguyên sinh bị phá  
hoại. Tuỳ trạng thái rừng là hỗn giao với cây gỗ hay thuần loại, là mới phục  
hồi hay đã qua khai thác hoặc rừng tự nhiên ổn định mà mật độ cây trên 1ha  
biến động từ 1300 đến 6000 cây. Tỷ lệ cây già ở rừng ổn định thường gấp hơn  
2 lần ở rừng mới phục hồi và ngược lại tỷ lệ cây non ở rừng già chỉ bằng 1/4 ở  
rừng phục hồi. Vầu có khả năng chịu bóng, ưa ẩm. Vầu sinh trưởng tốt ở rừng  
có cây gỗ ở tầng trên, sườn âm, chân đồi hoặc theo các khe núi; ở những nơi  
rừng thưa, nhiều ánh sáng Vầu sinh trưởng có vẻ kém hơn.  
Kích thước cây trung bình của cây Vầu: Thân cao 17m, thẳng đứng,  
đường kính 10 cm, lóng dài 35cm, vách thân dầy 1cm, thân tươi nặng 30 kg.  
Phần thân không có cành thì tròn đều, vòng đốt không nổi rõ. Phần thân có  
cành thường có vết lõm dọc dóng, vòng đốt phình to nổi gờ cao. Thân non  
mầu xanh và có lông, thịt trắng. Thân già mầu xanh xám, có địa y loang lổ,  
thịt hơi hồng. Cành thường có từ 1/2 thân về phía ngọn. Mỗi đốt có 3 cành,  
cành to ở giữa, 2 cành nhỏ bằng nhau mọc hai bên cành to. Lá mầu xanh sẫm  
hình ngọn giáo, đầu vút nhọn, đuôi tù, dài 32 cm, rộng 4 cm. Thân mo hình  
chuông, đỉnh nhô cao, đáy hơi xoè rộng, mặt trong nhẵn, mặt ngoài có nhiều  
lông nhung mầu tím sớm rụng. Lá mo hình ngọn giáo. Tai mo thoái hoá thành  
     
2
một hàng lông. Thìa lìa là một đường gờ, xẻ răng như lông, sớm rụng. Mo  
sớm rụng, khi cây măng toả đuôi én thì mo trên thân cũng rụng gần hết.  
Vầu là loại tre không gai, mọc phân tán đơn độc từng cây, thân ngầm  
thường bò lan ở độ sâu 20-30cm có chỗ chồi cả lên mặt đất, hàng năm thân  
ngầm sinh trưởng từ tháng 6 đến tháng 11, mầm măng phát triển dưới mặt đất  
từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau, măng lên khỏi mặt đất đến lúc định hình từ  
tháng 2 đến tháng 5. Măng tuy đã lên khỏi mặt đất nhưng chỉ sống 50% để  
phát triển thành cây, số măng chết thường ở độ cao dưới 1m. Vì vậy, có thể  
khai thác 1/2 số măng để làm rau ăn mà không ảnh hưởng đến rừng Vầu.  
Từ năm 1969 nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ cũng đã đưa Vầu làm  
nguyên liệu sản xuất giấy. Vầu được dùng làm nguyên liệu sản xuất đũa xuất  
khẩu nhưng sử dụng nhiều nhất vẫn là trong xây dựng. Đây là loài đa tác  
dụng, thân cây còn có thể làm ván ghép thanh, đũa, làm nhà, chế biến than  
hoạt tính, làm hang rào,…Măng Vầu được sử dụng làm thực phẩm, thường  
được ăn tươi nhưng cũng có thể muối chua hoặc phơi khô; măng đầu mùa  
thường ngọt, măng cuối vụ có vị đắng.  
Hiện nay rừng Vầu cũng chỉ được thừa nhận về giá trị kinh tế, phòng hộ....  
về cấu trúc và giá trị môi trường đã từng có nghiên cứu đánh giá về cấu trúc sinh  
khối để làm cơ sở cho phát triển và xác định giá trị đích thực của rừng Vầu đem  
lại nhưng chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng của vị trí trên cây đến cấu tạo và  
tính chất của Vầu để có các giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Vầu  
trong thời gian tới.  
Xuất phát từ những thực tế đó, được sự nhất trí của trường Đại Học  
Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp và giáo viên hướng  
dẫn tôi thực hiện đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí trên cây đến cấu  
tạo và tính chất vật lý của Vầu tuổi 1 (Bambusa nutans)tại trường Đại học  
Nông Lâm Thái Nguyên”  
3
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
- Xác định được cấu tạo của các vị trí khác nhau trên cây Vầu tuổi 1.  
- Xác định được mối quan hệ giữa vị trí trên thân cây đến tính chất vật lý  
của Vầu tuổi 1  
- Trên các kết quả nghiên cứu của đề tài có những định hướng về cơ học  
sẽ giúp cho người sử dụng hợp lý hơn  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học  
- Là tài liệu học tập và những nghiên cứu tiếp theo là cơ sở cho những đề  
tài nghiên cứu trong lĩnh vực liên quan.  
- Giúp sinh viên củng cố kiến thức đã học, biết vận dụng vào thực tiễn  
nghiên cứu khoa học phục vụ cho quá trình công tác trong tương lai.  
- Mang lại được định hướng nghiên cứu về cấu tạo, tính chất vật lý của  
loài tre nói chung. Từ đó nhằm đưa ra được các cơ sở khoa học nhằm mang  
lại định hướng cho loại hình kinh doanh phù hợp mang lại hiệu quả cho Vầu.  
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn  
- Sau khi nghiên cứu đề tài kết quả có thể cung cấp thêm tư liệu tham  
khảo cho các nhà sản xuất Vầu sử dụng từng vị trí trên thân cây để phù hợp  
với từng loại sản phẩm.  
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tư liệu tham khảo cho các  
cấp, các ngành trong việc sử dụng hợp lý trong thực tiễn sản xuất rừng  
vầu đắng tại địa phương nói riêng và cho tất cả các địa phương có rừng  
Vầu nói chung.  
       
4
Phần 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài  
2.1.1. Một số khái niệm về tꢀnh chất vật lý  
2.1.1.1. Độ ẩm của mẫu  
Độ ẩm có ảnh hưởng đến tính chất của cây. Nước nằm trong gỗ có 3  
dạng: Nước mao quản (tự do), nước hấp phụ và nước liên kết hóa học. Nước  
tự do nằm trong ruột tế bào, khoảng trống bên trong tế bào và bên trong ống  
dẫn. Nước hấp phụ nằm bên trong vỏ tế bào và khoảng trống giữa các tế bào.  
Nước liên kết hóa học nằm trong thành phần hóa học của các chất tạo cây.  
Trong cây đang phát triển chứa cả nước hấp phụ và nước tự do, hoặc chỉ có  
nước hấp phụ. Trạng thái của cây chứa nước hấp phụ cực đại và không có  
nước tự do gọi là giới hạn bão hòa thớ. Tùy từng loại cây giới hạn bão hòa thớ  
có thể giao động từ 23 đến 35%. Khi sấy nước từ từ tách ra khỏi mặt ngoài,  
nước từ lớp cây bên trong chuyển dần ra thay thế. Còn khi cây khô thì nó lại  
hút nước từ không khí [14].  
Các trạng thái bình thường của cây và sản phẩm của cây đều có độ ẩm  
nhất định. Độ ẩm cây được định nghĩa là tỷ lệ phần trăm của nước trong cây  
và khối lượng cây khô.  
Độ ẩm (W) của cây được tính theo công thức sau:  
w =푚1−푚2 ×100  
푚
Trong đó:  
푚1: khối lượng cốc và mẫu trước khi sấy  
푚2: khối lượng cốc và mẫu sau khi sấy  
푚: khối lượng khô tuyệt đối của cốc chịu nhiệt  
       
5
2.1.1.2. Co dãn của gỗ  
Khi phơi sấy cây, nước từ trong cây bốc hơi ra, kích thước cây thu nhỏ  
lại, hiện tượng đấy gọi là sự co rút. Ngược lại, khi cây khô kiệt hút nước, làm  
cho kích thước cây tăng lên, hiện tượng đấy gọi là sự dãn nở. Nhưng không  
phải mỗi khi độ ẩm cây thay đổi thì hiện tượng co rút đều sản sinh, cây chỉ có  
rút khi độ ẩm của nó biến đổi trong khoản từ 0% đến độ ẩm bão hòa thớ gỗ.  
Mặt khác, cây có cấu tạo không đồng nhất theo 3 chiều thớ nên co rút của cây  
theo 3 chiều là khác nhau. Co rút là nguyên nhân dẫn đếm biến hình, cong  
vênh, nứt nẻ trong quá trình sấy cây hoặc sử dụng cây trực tiếp. Hiểu được  
từng đặc điểm co rút của từng loại cây sẽ giúp chúng ta sử dụng cây hợp lý và  
có các biện pháp phòng trừ, hạn chế những nhược điểm do cây co rút gây ra.  
2.1.1.3. Độ hút nước của gỗ  
Sức hút nước của cây là năng lực hút lấy nước và gỗ khi ngâm cây  
trong nước. Tính chất hút nước của cây được thể hiện ở độ hút nước. Độ hút  
nước, thời gian hút nước phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: khối lượng thể tích,  
vị trí, chiều thớ, kích thước, nhiệt độ nước và độ ẩm ban đầu,.. trong đó yếu tố  
ảnh hưởng nhiều nhất là khối lượng thể tích. Khối lượng thê tích càng lớn thì  
khả năng hút nước càng chậm, gỗ lõi hút nước chậm hơn gỗ giác. Mặt cắt  
xuyên tâm và mặt cắt tiếp tuyến của gỗ hút nước rất chậm. Diện tích mặt cắt  
ngang càng lớn thì tốc độ hút nước càng nhanh, ở nhiệt độ cao gỗ hút nước  
nhanh nhưng không nhiều. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sức hút  
nước của cây là vấn đề có ý nghĩa thực tế trong kỹ thuật ngâm tẩm cây bằng  
hóa chất, dưới điều kiện áp suất thường. Cây hút nước làm thay đổi độ ẩm của  
gỗ, độ ẩm ảnh hưởng nhiều đến các tính chất vật lý và cơ học, đặc biệt trong  
giới hạn độ ẩm bão hòa thớ gỗ. Trong công nghệ cần phải chú ý đặc điểm này  
của gôc để lựa chọn độ ẩm cây cho thích hợp [14].  
2.1.1.4. Độ hút ẩm, hơi nước của gỗ  
Cây để lâu trong không khí có độ ẩm và nhiệt độ nhất định sẽ hút hoặc  
6
thoát hơi nước cho đến khi độ ẩm của cây tương đối ổn định (đạt trị số độ ẩm  
thăng bằng). Trong phạm vi giới hạn ẩm liên kết, cây khô hút hơi nước sẽ  
giãn nở làm thay đổi hình dạng và kích thước của cây, làm giảm cường độ và  
tạo điều kiện tốt cho sâu và nấm phá hoại cây. Ngược lại, trong không khí  
khô, cây ướt sẽ thoát hơi nước và co rút làm cho thể tích thu nhỏ lại. Hút và  
thoát hơi nước của cây phụ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm tương đối của không  
khí. Nhiệt độ giảm xuống càng nhanh, cây hút nước càng mạnh. Độ ẩm không  
khí càng cao cây hút nước càng nhiều. Quá trình hút nước của cây sẽ kết thúc  
khi nó đạt ẩm độ thăng bằng. Hút và thoát hơi nước trong phạm vi giới hạn  
ẩm liên kết là một trong những nguyên nhân gây ra hiện tượng cong vênh, nứt  
nẻ, biến hình ảnh hưởng xấu đến phẩm chất cây [14].  
2.1.1.5. Khối lượng thể tích  
Khối lượng thể tích là cở sở hợp lý cho việc đánh giá giá trị của gỗ  
trong những lĩnh vực sử dụng khác nhau. Khối lượng thể tích có mối liên  
quan mật thiết với các tính chất vật lý, cơ học khác của gỗ. Khối lượng thể  
tích gỗ liên quan chạt chẽ đến sức co dãn của gỗ, theo các chiều thớ khác  
nhau, ảnh hưởng của khối lượng thể tích là khác nhau. Khối lượng thể tích  
cũng ảnh hưởng đến độ cứng của gỗ, gỗ có khối lượng thể tích càng lớn thì độ  
cứng càng cao, đồng thời có khả năng chịu mài mòn cao (Lê Xuân Tình 1998)  
[14]. Khối lượng thể tích của gỗ nặng hay nhẹ là do cấu tạo của gỗ quyết  
định, do đó khối lượng thể tích có ảnh hưởng hầu hết đến tính chất vật lý, cơ  
học của gỗ. Gỗ có khối lượng thể tích thấp thì cường độ cơ học của gỗ cũng  
thấp. Khối lượng thể tích là một nhân tố quan trọng trong việc sử dụng  
nguyên liệu gỗ.  
2.2. Những nghiên cứu trên thế giới và ViệtNam  
2.2.1. Những nghiên cứu trên thế giới  
Tre là một tài nguyên rừng, một nhóm lâm sản ngoài gỗ rất có giá trị.  
Nhiều nước và hơn một nửa dân số thế giới liên quan với nhóm tài nguyên  
   
7
này.Tre trên thế giới phân bố trên khắp 3 khu vực : Châu Á Thái Bình Dương,  
Châu Phi và Châu Mĩ.Tre thuộc phân họ Tre (Bambusoideae), họ Cỏ  
(Poaceae) với khoảng 1300 loài thuộc 70 chi phân bố trên toàn thế giới.  
Nhiều loài tre có đặc tính mọc thành rừng. Đã thống kê được trên 14 triệu ha  
rừng tre phân bố từ vùng xích đạo qua vùng nhiệt đới đến vùng hàn và ôn đới,  
nghĩa là từ 510 vĩ Bắc đến 470 vĩ Nam đều có tre sinh trưởng. Nước nhiều tre  
nhất là Trung Quốc, với khoảng 50 chi và 500 loài và diện tích 7 triệu ha rừng  
tre. Nước nhiều tre thứ hai là Nhật Bản với 13 chi, trên 230 loài và diện tích  
0,1 ha rừng tre. Tiếp đó là các nước Ấn Độ, các nước Nam và Đông Nam Á,  
trong đó có Việt Nam.  
Do tre vừa là nguyên liệu lại vừa là vật liệu, nên nhiều nước trên thế  
giới đã tiến hành nghiên cứu, thí nghiệm về tính chất vật lý và cơ học của tre.  
Các nghiên cứu về tre trúc ở trên thế giới đã bắt đầu từ khá lâu và rất  
đa dạng. Đầu tiên phải kể tới ấn phẩm nghiên cứu về tre trúc của Munro  
(1868). Sau đó có nghiên cứu về các tre trúc Ấn Độ (Gamble 1868) trong đó  
tác giả có mô tả hình thái của 151 loài tre trúc phân bố ở Ấn Độ và một số  
nước láng giềng như Pakistan, Srilanca, Myanma, Malaysia, Indinesia. Tác  
giả cũng cho rằng các loài tre trúc là loài chỉ thị rất tốt về các đặc điểm và độ  
phì của đất. Haig và cộng sự (1959) cũng bình luận rằng sự phân bố tự nhiên  
của tre trúc ở Myanma cũng chỉ thị rất tốt các điều kiện đất đai ở đó.  
Năm 1995 Zhang- Qisheng, Sun-Feng Wen, Wang-JianHe Trường Đại  
học Nam Kinh – Trung Quốc đã tiến hành đề tài: “ Nghiên cứu cấu trúc và  
công nghệ sản xuất ván tổng hợp từ nguyên liệu tre” tác giả đã nghiên cứu các  
yếu tố chính có ảnh hưởng đến tính chất cơ lý của ván, kết quả cho thấy rằng  
những tấm ván có chiều dày từ 1430mm có tính chất cơ lý tối ưu. Ở Trung  
Quốc cũng có rất nhiều những nghiên cứu về phân loại, kỹ thuật tạo giống, kỹ  
thuật trồng, chăm sóc, khai thác, chế biến và cả về thị trường tre trúc và các sản  
phẩm sản xuất từ tre trúc (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn 2007).  
8
Năm 1996 Zhang- min, Kawasaki- T, Giang- Ping Trường Đại học  
Kyoto, Viện nghiên cứu gỗ Nhật Bản đã thành công với đề tài : “ Nghiên cứu  
công nghệ sản xuất và các tính chất của ván tổng hợp tre gỗ”. Nguyên liệu sản  
xuất gồm sợi gỗ, sợi tre và các dăm tre mỏng với các tỷ lệ khác nhau. Kết quả  
cho thấy khi thay đổi tỷ lệ trộn nguyên liệu dẫn tới tính chất của ván thay đổi.  
Tính chất của ván tương đương với ván thương mại và các loại ván tổng hợp  
khác. Kết quả cho thấy ứng suất của ván dăm thay đổi lớn với sự thay đổi kết  
cấu ván lõi và ván mặt.  
Xiaobo Li (2004) đã nghiên cứu sự biến đổi về tính chất cơ học của  
tre (Phyllostachys pubescens) thay đổi theo tuổi (1, 3,5) về chiều cao cũng  
như lớp ngang. Tính chất như dộ bền uốn tĩnh (MOR), modun đàn hồi (MOE)  
và nén đều tăng từ tuổi 1 đến tuổi 1. Theo chiều cao, tính chất cơ học có biến  
đổi giữa phần gốc, thân và ngọn nhưng mỗi cấp tuổi lại có quy luật khác  
nhau. Theo chiều ngang, tính chất ở ngoài (sát với cật) cao hơn ở phần bên  
trong (sát với ruột) (Xiaobo Li, 2004) [22].  
Trung tâm nghiên cứu quốc gia về tre của Trung Quốc đã nghiên cứu  
tính chất của tre cho thấy, đối với Mao trúc (Moso) độ bền nén và độ bền uốn  
tĩnh của Mao tính tăng dần từ gốc đến ngọn (China National Bamboo research  
center 2001)  
Theo M. Kamruzzaman (2008) đã nghiên cứu tuổi cây và vị trí trên  
cây có ảnh hưởng lớn đến tính chất của tre, tác giả đã đưa ra được sự ảnh  
hưởng của tuổi và vị trí trên cây ảnh hưởng đến tính chất cơ học của 4 loại tre  
gồm: Bambusa balcooa, Bambusa tulda, Bambu salarkhanii, Melocanna  
baccifera. Tuy nhiên, ở 4 loại này đều có sự biến động tính chất theo những  
quy luật khác nhau (M.Kamruzzaman và A.K.Bose và M.N.Islam.S.K.Saha,  
2008) [17].  
Juan Franrisco Correal D., Junliana Arbelaez C.(2010) đã nghiên cứu  
ảnh hưởng của tre và vị trí trên thân cây đến tính chất cơ học của tre  
9
Guaduaangustifolia kunt (Guadua a.k.) kết quả phân tích cho thấy từ tuổi 2 –  
tuổi 1 và ở vị trí khác nhau theo chiều cao có sự ảnh hưởng đến tính chất của  
Guadua a.k. cho thấy rằng tính chất tăng từ tuổi 2-4 (28,6-40,4 MPa) và giảm  
xuống tuổi 1 (35,2 MPa), vị trí trên cây cho thấy loài Guadua a.k. cũng có  
hướng tăng lên từ gốc đến ngọn. Độ bền uốn tính và modun đàn hồi của  
Guadua a.k. tăng theo tuổi cây từ 2- 4 tuổi (MOR: 92,7- 98,5 MPa) và tuổi 1  
giảm xuống (MOR: 93,5 MPa), với vị trí trên cây cũng ảnh hưởng đến tính  
chất này và tăng dần từ gốc đến ngọn (MOR: tăng từ 88,6- 104,1 MPa) (Juan  
Francisco Correal D và Juliana Arbelaez C, 2010)  
Từ những kết quả nghiên cứu sử dụng đã có kết quả về cấu tạo, tính  
vật lý của tre nói chung nhung chưa có nghiên cứu riêng cho tre vầu để có  
định hướng sử dụng cho nguôn nguyên liệu này  
2.2.2. Tình hình nghiên cứu Việt Nam  
Do có nhiều đặc tính quý nên tre nứa đã được sử dụng trong đời sống  
hàng ngày cũng như trong thủ công nghiệp và công nghiệp hiện đại. Đã thống  
kê được hơn 30 công dụng của tre nứa, trong đó những công dụng chính là  
làm hàng thủ công, mỹ nghệ, làm vật liệu xây dựng, làm nguyên liệu trong  
công nghiệp giấy sợi và sản xuất măng tre làm thức ăn tươi hoặc khô. Ngoài  
ra, tre nứa là loài mọc nhanh, sớm cho sản phẩm, kỹ thuật gây trồng tương đối  
đơn giản, có khả năng sinh trưởng trên đất khó canh tác và đất hoang hoá, là  
loài đa tác dụng… nên tre nứa là nguồn tài nguyên phong phú đã và đang  
được con người sử dụng rộng rãi. Trong những năm gần đây có khá nhiều  
công trình nghiên cứu đi sâu nghiên cứu công nghệ chế biến và sử dụng tre  
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng, góp phần giải quyết nguồn vật liệu cho  
ngành chế biến lâm sản tiêu biểu như:  
Lê Văn Thanh và Triệu Hồng Phú (1986-1992) nghiên cứu về công  
nghệ và tuyển chọn thiết bị để sản xuất ván ốp tường, ván sàn trang trí nội  
thất bằng tre nứa; nghiên cứu sử dụng ván nứa ép ba lớp thay thế ván gỗ  
 
10  
trong nhà của nhân dân vùng núi phía bắc của Nguyễn Minh Hoạt và công  
sự (2001)  
Nghiên cứu về tre trúc ở Việt Nam đã được bắt đầu từ khá lâu. Có thể  
nói công trình nghiên cứu đầu tiên về tre trúc Việt Nam thuộc về một người  
Pháp trong ấn phẩm nghiên cứu về thực vật chí Đông Dương (Le Comte  
1923. Trong những năm 1960, Phạm Quang Độ đã nghiên cứu về kỹ thuật  
trồng và khai thác tre trúc ở Việt Nam (Phạm Quang Độ 1963). Cũng từ thời  
gian này, các nghiên cứu về phân loại, kỹ thuật nhân giống, kỹ thuật trồng,  
chăm sóc, bảo vệ rừng tre trúc, kỹ thuật bảo quản, chế biến tre trúc cũng được  
thực hiện. Ví dụ như: kinh nghiệm trồng luồng (Phạm Văn Tích 1963),  
Nghiên cứu đất trồng luồng (Nguyễn Ngọc Bình 1964), Phân loại tre trúc theo  
hình thái (Trần Đình Đại 1967), Bệnh hại tre (Trần Văn Mão 1972), tính đến  
năm 2007, đã có trên 100 ấn phẩm nghiên cứu về tre trúc hoặc liên quan tới  
tre trúc đã được phát hành trên khắp cả nước [6].  
Từ năm 1971 đến 2007 đã có trên 18 công trình liên quan lớn nhỏ đến  
phân loại, đặc điểm nhận biết và phân bố của các loài tre trúc, các loại và cấu  
trúc rừng của tre trúc ở Việt Nam. Các nghiên cứu này phần lớn là nghiên cứu  
độc lập về hình thái, giải phẫu, nhận biết, phân bố và công dụng của một số  
loài tre trúc. Ví dụ như cuốn sách “Tên cây rừng Việt Nam” do tác giả  
Nguyễn Tích và Trần Hợp thực hiện được xuất bản năm 1971 đã lập lên bảng  
tra cứu tên cây theo tiếng Việt Nam và bảng tên cây theo họ thực vật. Đây tuy  
là những cuốn sách giúp tra cứu tên các loài cây rừng Việt Nam đầu tiên  
nhưng đã đề cập đến một số loài tre hữu ích mà nhân dân quen sử dụng, bao  
gồm 23 loài tre trúc, đó là Bương, Dang, Diễn, Diễn trứng, Hóp, Luồng  
Thanh Hóa, Mai, Nứa, Trúc đùi gà, Vầu, Vầu trồng... Xuất phát từ kết quả  
nghiên cứu quy luật sinh măng của nứa lá nhỏ, thông qua việc khảo sát hệ  
thống thân ngầm các tác giả đã xác định được tuổi và lập bảng tra tuổi cho  
lâm trường Tân Phong. Các kết quả được các tác giả Hải Âu đăng trên tập san  
11  
Lâm nghiệp số 7 năm 1976 với bài viết “Cách nhận biết nứa lá nhỏ”. Có thể  
nói bảng tra này được lập cho lâm trường Tân Phong, nhưng có thể là tài liệu  
tham khảo cho nhiều vùng khác có điều tương đồng. Nghiên cứu này hết sức  
quan trọng làm cở sở để tham khảo và cho nghiên cứu sau này.[6]  
Theo kết quả nghiên cứu của bộ Trường Đại học Lâm nghiệp cho thấy  
Tre gai (Bambusa Bambos) được lấy tại Đông Triều – Quảng Ninh có sự biến  
động về tính chất cơ học, cụ thể độ bền kéo, nén của tre gai tăng dần từ gốc  
đến ngọn, về độ bền uốn tĩnh của tre gai thì biến động theo hướng ngược lại là  
từ gốc đến ngọn ứng suất giảm dần (gốc: 440×105 N/m2) (Lê Xuân Tình,  
1998). [14]  
Theo kết quả tài liệu giáo trình khoa học gỗ 2016 cho thấy chiều cao  
thân khí sinh của trúc sao (Phyllostachise edulis) có ảnh hưởng đến tính chất  
cơ học. Cụ thể, các tính chất cơ học của trúc sào đều biến đổi theo quy luật  
tăng từ gốc đến ngọn, độ bền nén dọc (60,9 – 71,1 MPa) độ bền uốn tĩnh  
(138,7 – 170,1 MPa) độ bền trượt dọc (16,7 – 20,7 MPa) ( Vũ Huy Đại và  
cộng sự, 2016) [5]  
Nguyễn Hồng Thịnh (2009) đã nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo, tính  
chất cơ vật lý và thành phần hóa học của luồng. Kết quả nghiên cứu cho thấy  
Luồng là nguyên liệu có cường độ nén dọc thớ, uốn tĩnh modul đàn hồi cao.  
Nghiên cứu này sẽ làm rõ được sự biến động về một số tính chất cơ  
học: độ bền nén dọc thớ, độ bền uốn tĩnh, modul đàn hồi và độ bền trượt dọc  
thớ theo tuổi cây và vị trí trên cây của Luồng.  
Ở nước ta, thí nghiệm để xác định các tính chất vật lý và cơ học của  
tre từ trước đến nay ít được chú ý do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên  
nhân thiếu phương pháp thử chuẩn. Phòng Cơ lý gỗ (Viện Công nghiệp rừng)  
– nay là Phòng Tài nguyên Thực vật rừng (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt  
Nam) cũng đã từng tiến hành một số thí nghiệm xác định đặc tính của tre  
nhưng cũng mới chỉ dừng lại ở bước đầu và chủ yếu sử dụng một số phương  
12  
pháp thử của Trung Quốc do cán bộ nghiên cứu sưu tập được. Năm 2002,  
Phòng Tài nguyên Thực vật rừng đã tiến hành thăm dò đặc tính của một số  
loài tre có áp dụng chọn lọc phương pháp thử của Trung Quốc và của Mạng  
lưới Quốc tế về tre song mây (INBAR) để cho phù hợp với điều kiện thí  
nghiệm sẵn có.  
Nghiên cứu “Bảo tồn một số loài tre trúc quý hiếm ở Việt Nam” do  
Nguyễn Hoàng Nghĩa soạn thảo năm 2002 đã chỉ ra các loài Tre trúc quan  
trọng ở Việt Nam, các loài Tre trúc quý hiếm đang có nguy cơ bị tiêu diệt và  
giá trị kinh tế cũng như tình hình sử dụng tài nguyên nhằm phục vụ cho hoạt  
động quản lý và kinh doanh các loài tre trúc này.  
Tác giả Đặng Xuân Thức và Cs đã “Nghiên cứu biến động khối lượng  
thể tích và độ co rút của Bương lông” kết quả cho thấy khối lượng thể tích  
khô và độ co rút theo các chiều của Bương lông chịu ảnh hưởng rõ rệt của  
tuổi cây.  
Tuy nhiên các nghiên cứu về tre tre trúc của Việt Nam còn khá lẻ tẻ và  
tản mạn trên nhiều cơ sở ở khắp cả nước. Một số đề tài nghiên cứu về cây tre  
vầu chủ yếu nói tới cấu trúc sinh khối, nghiên cứu tính chất cơ học, điều kiện  
phân bố của tre vầu. Cho tới nay chưa có tài liệu nào trong nước công bố về  
ảnh hưởng của vị trí trên thân cây đến cấu tạo và tính chất vật lý của Vầu tuổi  
1, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này là có ý nghĩa thực tiễn và  
cần thiết.  
2.3. Tổng quan về đặc điểm sinh thái của Vầu  
Khí hậu ít nóng, mưa nhiều, độ ẩm cao; Hàng năm nhiệt độ bình quân  
21-220C, lượng mưa trên 1600mm (Bắc Quang - Hà Giang tới 4730mm), độ  
ẩm không khí 85-95% thuận lợi để vầu sinh trưởng phát triển.  
Vầu là loại tre không gai, mọc phân tán đơn độc từng cây. Kích thước  
cây trung bình: Thân tre cao 17m, thẳng đứng, đường kính 10cm, vách thân  
dầy 1cm, thân tre tươi nặng 30kg, thân non màu lục nhạt, phủ lông mềm,  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 89 trang yennguyen 17580 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của vị trí trên cây đến cấu tạo và tính chất vật lý của Vầu tuổi 1 (Bambusa nutans) tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_anh_huong_cua_vi_tri_tren_cay_den_cau_t.pdf