Khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích ra rễ IBA (Axit Indolbutylic) đến sự hình thành cây hom Dây thìa canh (Gymnema sylvestre (retz.) R. Br. Ex schult) tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
MÙA A CHANG  
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ CHẤT KÍCH THÍCH  
RA RỄ IBA (Axit Indolbutylic) ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH CÂY  
HOM DÂY THÌA CANH (Gymnema sylvestre (retz.) R. Br. Ex schult)  
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
: Quản lý tài nguyên rừng  
: Lâm nghiệp  
Khoá học  
: 2016 - 2020  
Thái Nguyên, năm 2020  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
MÙA A CHANG  
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ CHẤT KÍCH THÍCH  
RA RỄ IBA (Axit Indolbutylic) ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH CÂY  
HOM DÂY THÌA CANH (Gymnema sylvestre (retz.) R. Br. Ex schult)  
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Quản lý tài nguyên rừng  
: K48 - QLTNR  
: Lâm nghiệp  
Khoa  
Khoá học  
: 2016 - 2020  
Giảng viên hướng dẫn  
: TS. Lê Sỹ Hồng  
Thái Nguyên, năm 2020  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu và  
kết quả trong khóa luận tốt nghiệp này là hoàn toàn trung thực, chưa hề được  
sử dụng để bảo vệ một học vị nào.  
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các  
thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc.  
Thái Nguyên, ngày 07 tháng 07 năm 2020  
Xác nhận của GVHD  
Người viết cam đoan  
Mùa A Chang  
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN  
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên  
đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu!  
(Ký và ghi rõ họ tên)  
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Được sự phân công của khoa Lâm Nghiệp Trường Đại Học Nông Lâm  
Thái Nguyên và được sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn TS. Lê Sỹ Hồng em đã  
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích ra rễ IBA  
(Axit Indolbutylic) đến sự hình thành cây hom Dây thìa canh (Gymnema  
sylvestre (retz.) R. Br. Ex schult) tại trường Đại học nông lâm Thái Nguyên”.  
Để hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp này, em xin gửi lời cảm ơn chân  
thành đến Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp Trường Đại học Nông  
Lâm Thái Nguyên. Cảm ơn sự nhiệt tình giảng dạy của các thầy cô là giảng viên  
tại trường đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm thực tế để em chuẩn bị  
tốt tâm lý cho đợt thực tập này. Em đặc biệt gửi lời cảm ơn đến TS. Lê Sỹ Hồng  
là thầy hướng dẫn khoa học đã nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập  
và hoàn thành khóa luận.  
Em xin gửi lời cảm ơn đến tập thể lớp K48 - Quản lý tài nguyên rừng đã  
quan tâm, giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại  
trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.  
Xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày 07 tháng 07 năm 2020  
Sinh viên  
Mùa A Chang  
 
iv  
DANH MỤC CÁC HÌNH  
 
v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
CTTN  
CHLB  
ĐH  
Công thức thí nghiệm  
Cộng hòa liên bang  
Đại học  
ĐTĐ  
ĐC  
Đái tháo đường  
Đối chứng  
GACP  
GAP  
GCP  
IBA  
Good Agricultural and Collection Practices  
Good Agriculture Practices  
Good Collection Practices  
Indol butiric acid  
IAA  
Indol acetic acid  
IPA  
Indol propionic acid  
Kích thích sinh trưởng  
Lâm sản ngoài gỗ  
KTST  
LSNG  
NAA  
Napthalen acetic acid  
 
vi  
MỤC LỤC  
 
vii  
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Hiện nay nhu cầu của con người về nguồn dược liệu ngày càng tăng, nguồn  
dược liệu con người đang sử dụng có thể được tổng hợp bằng nhiều con đường  
khác nhau như tổng hợp từ hóa học, tổng hợp từ vi sinh vật, song nguồn dược  
liệu từ thực vật đã được con người sử dụng từ rất lâu và nhu cầu ngày càng lớn.  
Tuy nhiên các loài cây trong tự nhiên đang bị giảm về số lượng và chất lượng  
bởi sự khai thác quá mức, các điều kiện ngày càng bất lợi của môi trường tự  
nhiên... dẫn đến nhiều loại cây dược liệu quý hiếm bị tuyệt chủng, ảnh hưởng  
đến nguồn cung cấp dược liệu bền vững cho con người.  
Dây Thìa canh (Gymnema sylvestre (Retz.) R. Br. ex Schult) là một loại  
dược liệu quý cho bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường. Dược liệu này có thể sử  
dụng trong phòng và điều trị cho cả đối tượng tiền đái tháo đường và người đã  
bị đái tháo đường, người bị mỡ máu cao. Tác dụng hạ đường huyết của dây  
Thìa canh có những điểm tương đồng như insulin nhanh: Đỉnh tác dụng là hạ  
đường huyết ở 2h và duy trì đến 4h; mức độ hạ đường huyết tương đương ở  
thời điểm 2h và 4h. Ngoài ra trên một số nghiên cứu khác cho thấy tác dụng  
giảm Cholesterol máu giảm béo phì cũng rất hiệu quả. [8]  
Như vậy việc bào tồn và phát triển các loài dược liệu không những có giá  
trị về mặt kinh tế mà còn mang ý nghĩa lớn trong khoa học. Để có cơ sở khoa  
học cho việc phát triển các loài dược liệu, cần thiết phải nghiên cứu khả năng  
nhân giống và gây trồng các loài cây dược liệu. Xuất phát từ yêu câu thực tiến  
trên, được sự đồng ý của khoa - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tôi  
tiến hành thực hiện để tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất kích  
thích ra rễ IBA (Axit Indolbutylic) đến sự hình thành cây hom Dây thìa canh  
(Gymnema sylvestre (retz.) R. Br. Ex schult) tại trường Đại học Nông Lâm Thái  
     
2
Nguyên”. Việc nghiên cứu đề tài này là rất quan trọng nhằm tìm ra phương  
pháp cách thức gieo ươm trồng cây Thìa canh đại trà đáp ứng việc nhân giống  
và cung cấp giống cây trồng có giá trị nhằm bảo tồn và phát triển cây Thìa canh.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
1.2.1. Mục tiêu tổng quát  
Sản xuất giống cây Thìa canh bằng phương pháp giâm hom với chất lượng  
và tỷ lệ xuất vườn cao, phục vụ phát triển trồng cây Thìa canh có hiệu quả cao,  
trồng trên diện tích rộng.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
- Biết được ảnh hưởng của thuốc kích thích và loại hom đến khả năng  
hình thành cây hom dây thìa canh.  
- Đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống bằng hom và  
giai đoạn vườn ươm.  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học  
- Là tài liệu trong học tập, là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu trong  
các lĩnh vực có liên quan.  
- Giúp cho học viên nắm vững hơn những kiến thức đã được học cũng  
như được trải nghiệm giữa lý thuyết và thực hành, đặc biệt là những kiến thức  
về kỹ thuật lâm sinh & trồng rừng: Cách chọn hom giâm, cách xử lý hom giâm,  
kỹ thuật cắt hom, kỹ thuật giâm hom… cách pha chế thuốc, tìm hiểu quá trình  
sinh trưởng của cây hom từ đó áp dụng vào thực tế sản xuất.  
- Học viên làm quen, tìm hiểu kiến thức ngoài thực tế giúp cho học viên  
hoàn thiện hơn không những về mặt lý thuyết mà cả về thực hành, từ đó nâng  
cao hiệu quả và chất lượng học tập.  
- Là cơ hội tốt để học viên hoàn thiện bản thân cả về kiến thức, kỹ năng  
và thái độ vững vàng trong công việc và cuộc sống sau này.  
         
3
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất  
- Đề tài nghiên cứu góp phần trong việc bảo tồn, duy trì loài dược liệu  
quý đồng thời cung cấp nguồn giống cây dược liệu cho y học.  
- Có ý nghĩa lớn về kinh tế: Cây Thìa canh hiện là 1 loại dược liệu quý  
có giá trị kinh tế rất cao. Nên việc nghiên cứu nhân giống, tạo giống có chất  
lượng về dược liệu là rất cần thiết.  
- Đề tài thực hiện giúp chúng ta đi sâu vào công tác tạo giống cây Thìa  
canh nhằm cung cấp giống cây dược liệu cho các hộ dân ở các khu vực miền  
núi trung du phía bắc hiện nay đang được thực hiện và có hiệu quả.  
 
4
PHẦN 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu  
Cây Dây thìa canh (Gymnema sylvestre (Retz.) R.Br. ex Schult) là một  
trong số những cây có tiềm năng phát triển thành sản phẩm điều trị ĐTĐ ở Việt  
Nam. Cây đã được nghiên cứu chứng minh tác dụng (cả trên thực nghiệm và  
lâm sàng), được ứng dụng rộng rãi trên thế giới (như trà, viên nang, bột,…),  
chưa phát hiện tác dụng phụ, độc tính thấp với khoảng an toàn rất lớn, dễ trồng,  
khai thác bền vững do bộ phận sử dụng là thân lá có thể thu hái nhiều lần trong  
một vòng đời.  
Dây thìa canh là một cây thuốc quý cần được nhân giống và bảo tồn. Tại  
Việt Nam, dây thìa canh đã có các vùng trồng dược liệu đạt tiêu chuẩn GACP-  
WHO được kiểm soát rất chặt chẽ từ khâu chọn giống, trồng trọt, thu hái, bảo  
quản. Các loại chế phẩm dây thìa canh phổ biến hiện nay bao gồm dược liệu  
thô, cao dược liệu, trà túi lọc, viên nang.  
2.1.1. Tổng quan về cây dược liệu  
Cây dược liệu là những loài thực vật có tác dụng dùng để chữa bệnh hoặc  
bồi bổ cơ thể khi con người sử dụng. Việc dùng thuốc trong nhân dân ta đã có  
từ lâu đời. Từ thời nguyên thuỷ, tổ tiên chúng ta trong lúc tìm kiếm thức ăn, có  
khi ăn phải chất độc phát sinh nôn mửa hoặc rối loạn tiêu hoá, hoặc hôn mê có  
khi chết người, do đó cần có nhận thức phân biệt được loại nào ăn được, loại  
nào có độc không ăn được.  
Theo sự phát triển của con người, việc khám khá và khai thác, sử dụng các  
loại dược liệu ngày càng phát triển. Thực tế người ta có thể tổng hợp nhân tạo  
được những hợp chất dùng trong y học nhưng việc làm này nhiều khi chưa hiệu  
quả và giá thành cao. Bởi vậy việc khai thác các cây dược liệu đóng một vai trò  
       
5
quan trọng. Hơn thế, việc khai thác này và việc chiết xuất các loại cây để làm  
thuốc có tác dụng mạnh và ít độc hơn.  
Cây dược liệu dùng để chữa bệnh có thể là các loại cây cỏ dùng trực tiếp  
để chữa bệnh như cây gừng, cây tía tô, cây ngải cứu…  
Cây dược liệu làm nguyên liệu để từ đó bào chế như: đại hoàng phơi khô  
là sinh địa, đun sấy là thục địa, hoặc các loại cây như: Hà thủ ô đỏ, sâm, quy,  
ba kích, hồi, quế, cam thảo, ý dĩ, sa nhân, tam thất, củ mài, bình vôi…  
Các cây dược liệu làm nguyên liệu chiết xuất các hoạt chất trung gian để  
tổng hợp thành thuốc như: Hoa hòe chiết xuất rutin, Cỏ ngọt chiết xuất steviozit,  
Mã tiền chiết xuất strychnin bruxin, Anh túc chiết xuất moocphin.  
2.2. Một số nghiên cứu về nhân giống  
2.2.1. Gieo hạt  
2.2.1.1. Cơ sở khoa học  
Nhân giống là bước cuối cùng của một chương trình cải thiện giống để  
cung cấp hạt hoặc hom cành cho trồng rừng trên quy mô lớn và cho các bước  
cải thiện giống theo các phương thức sinh sản thích hợp.  
Nhân giống bằng hạt là phương pháp nhân giống đem lại hiệu quả cao và  
đã được áp dụng phổ biến cả trong và ngoài nước trong suốt thời gian qua.  
Mặt khác trong công tác gieo ươm việc xử lý hạt giống là một khâu quan  
trọng, tùy vào đặc điểm sinh lý, cấu tạo vỏ hạt của mỗi hạt giống khác nhau thì  
việc xử lý hạt cũng khác nhau. Xử lý kích thích hạt giống là tác động đồng loạt  
lên lượng hạt giống cần gieo nhằm diệt mầm mống sâu bệnh có trong lô hạt,  
giảm thiệt hại quá trình gieo ươm. Có nhiều phương pháp xử lý kích thích hạt  
giống khác nhau như là xử lý bằng nhiệt độ, bằng thuốc hóa học, bằng tia phóng  
xạ. bằng cơ giới,… Nhưng hiện nay người ta thường sử dụng phương pháp  
nhiệt độ. Phương pháp này vừa đơn giản mà lại an toàn có hiệu quả cao.  
Quá trình nảy mầm của hạt giống chia ra làm 3 giai đoạn gối nhau:  
   
6
+ Giai đoạn vật lý: Hạt hút nước và trương lên làm cho vỏ hạt nứt ra, dấu  
hiệu đầu tiên của nảy mầm (tất cả các hạt lép, hạt chết đều hút nước).  
+ Giai đoạn sinh hóa: Dưới tác dụng của nhiệt và ẩm hoạt tính men, hô  
hấp và đồng hóa tăng lên, các chất dự trữ được sử dụng và chuyển đến vùng  
sinh trưởng.  
+ Giai đoạn sinh lý: Sự phân chia và lớn lên của các tế bào làm cho rễ  
mầm và chồi mầm đâm ra ngoài hạt thành cây mầm. (Mai Quang Trường và  
Lương Thị Anh, 2007). [7]  
Các loại hạt khác nhau thì phương pháp xử lý kích thích hạt nảy mầm  
khác nhau căn cứ vào độ dày của vỏ hạt, tinh dầu trong hạt để lựa chọn phương  
pháp xử lý.  
Dây thìa canh là cây có vỏ hạt mềm, có dầu nên khi xử lý hạt cần có  
phương pháp xử lý thích hợp.  
Theo bộ Lâm nghiệp cây con được tạo ra từ các vườn ươm phải đảm bảo  
cây giống được lựa chọn có những phẩm chất tốt phù hợp với điều kiện tự  
nhiên, khí hậu, đất đai để giảm bớt sự cạnh tranh của các loài cây khác với  
chúng. Việc chăm sóc cây con sẽ đảm bảo cho sự phát triển của cây con trong  
tương lai. Đặc biệt các loài phân bón rất cần thiết với cây con chúng có vai trò  
quan trọng giúp cây sinh trưởng phát triển nhanh và cho năng suất cao.  
Có hai cách bón phân cho cây trồng: Bón phân qua rễ và bón phân qua lá.  
+ Bón phân qua rễ: Lượng phân bón trực tiếp vào đất, chất dinh dưỡng  
được ngấm vào đất. Bộ rễ của cây hút chất dinh dưỡng từ đất chuyển lên các  
bộ phận lên trên mặt đất của cây (thân, lá, hoa, quả) cây trồng phát triển bình  
thường.  
+ Bón phân qua lá: (Lá, thân, cành, quả, cây) lượng phân hòa tan vào  
nước ở một nồng độ cho phép. Phun ướt đẫm lá và thân cây quả, chất dinh  
dưỡng được ngấm qua lá.  
7
Bón phân vào đất cây hấp thụ thường không hết nên giữ lại trong đất  
hoặc tự rửa trôi. Còn bón phân qua lá nồng độ bón phân qua lá thường nhỏ.  
Nếu bón nồng độ cao thì cây có thể chết. Nếu bón nồng độ quá thấp thì hiệu  
quả không rõ. Vì vậy trong một đời cây phải bón nhiều lần ở những nồng độ  
thích hợp. Trong vườn ươm hầu hết phân bón được trộn với đất trong hỗn hợp  
ruột bầu, tùy theo tính chất đất, đặc tính sinh thái học của cây con mà tỉ lệ pha  
trộn hỗn hợp ruột bầu cho phù hợp. Bón phân cần kết hợp với các biện pháp  
lâm sinh như: Nhổ cỏ, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh thường xuyên để phát huy  
tối đa hiệu lực của phân bón.  
2.2.1.2. Những nghiên cứu trên thế giới  
Tốc độ phát triển nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu và khu vực đã  
làm cho môi trường ô nhiễm, rừng suy giảm về diện tích và chất lượng, đặc biệt  
ảnh hưởng trực tiếp dến đời sống sức khoẻ con người. Đứng trước tình hình đó  
các nhà khoa học về lĩnh vực nông lâm nghiệp đặc biệt là sự đóng góp của các  
nhà khoa học lâm nghiệp đã và đang lỗ lực để tìm ra những phương pháp tạo  
giống cây mới đóng góp vào ngân hàng giống ngày càng chất lượng.  
Từ thế kỉ XVIII - XIX đã có những ý tưởng về nghiên cứu giống cây lâm  
nghiệp và sản xuất giống cây rừng cũng như nhân giống sinh dưỡng. Đầu thế  
kỉ XX các nước ở Bắc Âu như Đức, Thuỵ Điển, Đan Mạch là những nước có  
nền Lâm Nghiệp phát triển mạnh cũng đã xuất hiện những công trình nghiên  
cứu về khảo nghiệm xuất xứ, chọn giống, lai giống, xây dựng vườn giống bằng  
cây ghép cho các loại Thông, Dương và Sồi, Dẻ. [10], [11]  
Trong những năm 1980 nhiều lớp tập huấn về cải thiện giống cây rừng  
dưới sự bảo trợ của tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới (FAO) đã được  
mở cho các nước đang phát triển. Năm 1925 ở Placervile thuộc bang California  
đã thành lập trạm chọn giống cây rừng Edly. [1]  
Trong những năm 1950 có hàng loạt cuốn sách về chọn giống cây rừng  
8
đã được xuất bản ở nhiều nước trên thế giới trong đó có cuốn “Chọn giống cây  
rừng đại cương” 1951 của Syrach Lasen được đánh giá là công trình có giá trị  
nhất lúc đó( Lê Đình Khả, 2001). [11]  
Khi nghiên cứu về sinh thái của hạt giống và sinh trưởng của cây gỗ non,  
Ekta và Singh (2000) [7] đã nhận thấy rằng, cường độ ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt  
tới sự nảy mầm, sự sống sót và quá trình sinh trưởng của cây con.  
Gallardo và đồng nghiệp đã bắt đầu một phân tích proteomic của quá  
trình nảy mầm hạt giống cây Arabidopsis bằng cách sử dụng ecotype Landsberg  
erecta.  
Nghiên cứu về số lượng và kích cỡ hạt trái cây nảy mầm của cây Tếch  
(Tectona grandis L.) được tổ chức tại Mae Tha vườn giống, Mae Tha quận, của  
Lampang tỉnh và phòng thí nghiệm hạt giống, Cục Lâm nghiệp Hoàng gia,  
Bangkok. [10]  
Nghiên cứu về ảnh hưởng của presowing phương pháp điều trị hạt giống nảy  
mầm của 10 loài cây lâm nghiệp, sau khi lưu trữ cho 1 năm, được thực hiện nhằm  
tăng tỷ lệ nảy mầm của những hạt giống bằng cách xem xét giá trị nảy mầm. Năm  
presowing phương pháp điều trị khác nhau được sử dụng, bao gồm cả cắt hạt  
giống vào cuối đối diện để rễ nhỏ, ngâm hạt giống trong dung dịch Axit sulfuric  
trong 15 phút, ngâm hạt trong nước sôi ở 980C và để lại cho tự nguội trong 24  
giờ và kiểmsoát. [10]  
Bên cạnh đó trên thế giới nhiều nhà khoa học cũng công nhận phân bón  
giúp cho cây sinh trưởng phát triển nhanh hơn, phân bón còn giúp cây chống  
chịu được với hạn hán, sâu bệnh. Phân bón sinh học trở thành phân bón phổ  
biến và không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp.  
Theo Thomas (1985), chất lượng cây con có mối quan hệ logic với tình  
trạng chất khoáng. Nitơ và phốt pho cung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưởng  
và phát triển của cây con. Tình trạng dinh dưỡng của cây con thể hiện rõ qua  
9
màu sắc của lá. Phân tích thành phần hóa học của mô là một cách duy nhất để  
đo lường mức độ thiếu hụt dinh dưỡng của cây con. [11]  
Ở Mỹ, Canada, Braxin… những cánh đồng rau nhờ áp dụng phương pháp  
bón phân đã tăng năng xuất từ 6,5 tấn/ha lên 25tấn/ha. Do đó tính ưu việt của  
chế phẩm sinh học có khả năng nhanh chóng cung cấp cho cây dưỡng chất phát  
huy hiệu lực phân đa lượng giữ cân bằng sinh thái và đạt hiệu quả cao. Nên trên  
thế giới đặc biệt là các nước phát triển việc nghiên cứu, sử dụng các chế phẩm  
sinh học rất được chú trọng đầu tư. Phân bón sinh học trở thành loại phân phổ  
biến và không thể thiếu trong sản xuất, nông lâm nghiệp hiện đại.  
2.2.1.3. Những nghiên cứu ở Việt Nam  
Nước ta, rừng trồng chải dài trên diện tích rộng lớn, cây rừng sống lâu  
năm, trình độ cơ giới hoá trong sản xuất, nhân lực, vốn đầu tư có hạn. Rừng sau  
khi trồng ít có điều kiện chăm sóc, do đó công tác giống có tầm quan trọng đặc  
biệt. Có thể nói giống là một những khâu quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết  
định đến sản lượng chất lượng rừng trồng.  
Những năm trước thời kì đổi mới chúng ta chưa đánh giá đúng tầm quan  
trọng và vai trò to lớn của công tác giống trong sản xuất lâm nghiệp. Sự quan  
tâm của công tác giống lúc bấy giờ chủ yếu là làm sao có đủ số lượng giống  
cho rừng trồng, hầu như chưa coi trọng đến chất lượng giống. Sử dụng giống  
không rõ nguồn gốc xuất sứ, thu hái sô bồ, dẫn đến rừng trồng có chất lượng  
kém, năng xuất thấp phổ biến chỉ đạt 5 - 10m3/ha/năm. Đến những năm gần  
đây chúng ta mới bắt đầu chú trọng đến khâu sản xuất giống Năng xuất, chất  
lượng rừng đã tăng lên 30 - 70m3/ha/năm. Năm 1998 Bộ Lâm nghiệp (cũ) đã  
cho quyết định ban hành: quy phạm xây dựng rừng giống và vườn giống.  
Trong đó có quy định rõ các tiêu chuẩn về chọn lọc giống xuất xứ giống và cây  
giống cũng như các phương thức khảo nghiệm giống và xây dựng rừng giống,  
vườn giống. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã có chương trình tăng  
10  
cường năng lực giống cây trồng, vật nuôi và lâm nghiệp. Công tác tuyển chọn,  
lai tạo, nhân giống bằng mô hom được phát triển giảm dần việc trồng rừng bằng  
giống sô bồ, không rõ nguồn gốc, tăng tỉ lệ giống có chất lượng cao.  
Từ năm 1980 - 1985, Nguyễn Minh Đường và nhiều tác giả khác cũng có  
những nghiên cứu chi tiết về gieo ươm và trồng rừng sao dầu ở rừng ở miền  
Đông Nam Bộ.  
Khi nghiên cứu gieo ươm thông nhựa (Pinus merkusii), Nguyễn Xuân  
Quát (1985) cũng đã tập trung xem xét ảnh hưởng của thành phần hỗn hợp ruột  
bầu.  
Những nghiên cứu như thế cũng đã được Hoàng Công Đãng (2000) thực  
hiện với loài Bần chua ở giai đoạn vườn ươm. [9], [10]  
Từ những năm 2000 trở về đây nước ta đẩy mạnh các công trình nghiên  
cứu về kĩ thuật lâm sinh nhằm mang lại hiệu quả vốn rừng cùng các chính sách  
hợp lý của nhà nước.  
Khi nghiên cứu về gieo ươm Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri Pierre),  
Nguyễn Tuấn Bình (2002) nhận thấy độ tàn che 25% - 50% là thích hợp cho  
sinh trưởng của Dầu song nàng 12 tháng tuổi.  
Những nghiên cứu về ảnh hưởng của kích thước bầu đến sinh trưởng của  
cây gỗ non cũng đã được nhiều tác giả quan tâm. Theo Nguyễn Tuấn Bình  
(2002) [4], kích thước bầu thích hợp cho gieo ươm Dầu song nàng là 20*30  
cm, đục 8 - 10 lỗ.  
Luận án tiến sĩ về đề tài phương pháp nhân giống cây thân gỗ nhiệt đới  
mới tại Đại học Sunshine Coast (USC - Úc) của Cao Đình Hùng [9]. Ông gọi  
đó là những hạt nhân tạo “kiểu mới” và chúng có rất nhiều ưu điểm so với  
những hạt “kiểu cũ”: Cho chất lượng gỗ tốt, sức tăng trưởng nhanh, chịu được  
sâu bệnh và khí hậu lạnh.  
11  
Các chuyên gia thuộc Viện Ứng dụng công nghệ vừa nhân giống thành  
công hai loài lan hài quý: Hài Hằng (đặc hữu VN) và Hài Tam Đảo (đặc hữu  
Đông Dương) bằng phương pháp gieo hạt trong ống nghiệm.  
Trung tâm khoa học sản xuất lâm nghiệp Tây Bắc xây dựng hướng dẫn  
kỹ thuật gieo ươm từ khâu thu hái hạt giống, bảo quản hạt giống, xử lý hạt  
giống, kỹ thuật gieo ươm và chăm sóc cây con.  
Cuốn sách “Giống cây rừng”, “Lâm sinh 1”, “Lâm sinh 2”, “Hướng dẫn  
kĩ thuật trồng cây nông lâm nghiệp cho đồng bào miền núi”, “Tổ chức gieo  
ươm cây bản địa phục vụ mục tiêu phục hồi rừng”… Và hàng loạt các bài luận  
văn, luân án, đề tài, chuyên đề nghiên cứu về nhân giống về gieo ươm. Những  
cuốn sách này có nói về các khâu chính và các kĩ thuật cần thiết trong công tác  
gieo ươm từ khâu xây dựng vườn ươm, khảo nghiệm giống, bảo quản hạt giống  
và hàng loạt các nghiên cứu về cách thức sử lý ở mỗi loại hạt giống khác nhau.  
Nghiên cứu tỉ lệ nảy mầm của mỗi loại hạt, công thức phân phù hợp… [9]  
Hiện nay có một số nghiên cứu mới: Đề tài tốt nghiệp của Lý Thị Minh  
Kết khóa 39 Lâm nghiệp: “Tìm hiểu kỹ thuật gieo ươm cây Lim xanh tại vườn  
ươm Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Đề tài tốt nghiệp của Hoàng  
Văn Lịch Khóa 39 Lâm nghiệp “Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu  
đến sinh trưởng của cây Keo Úc (Acacia mangium) tại vườn ươm Trường Đại  
học Nông Lâm Thái Nguyên”. Nguyễn Thị Huyền Trang “Tìm hiểu kỹ thuật  
nhân giống cây Dâu da xoan (Allospondias lakonensis (Pierre) Stapf ) từ hạt tại  
Lâm trường Chợ Mới - Bắc Kạn”.  
Tất cả đều nhằm mục đích tìm ra phương pháp gieo ươm thích hợp nhất  
cho mỗi loại cây đạt hiệu quả tốt cả về chất lượng, số lượng và thu được lợi  
nhuận cao lại nhanh nhất. Ngoài ra còn đáp ứng cho nhu cầu nghiên cứu, thử  
nghiệm cho công tác nghiên cứu áp dụng khoa học tiên tiến.  
2.2.2. Giâm hom  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 53 trang yennguyen 12160 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích ra rễ IBA (Axit Indolbutylic) đến sự hình thành cây hom Dây thìa canh (Gymnema sylvestre (retz.) R. Br. Ex schult) tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_anh_huong_cua_nong_do_chat_kich_thich_r.pdf