Khóa luận Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học cây Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis) tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
VÙI VĂN LONG  
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC LOÀI NGHIẾN  
GÂN BA (Excentrodendron tonkinensis) TẠI HUYỆN ĐỊNH HÓA,  
TỈNH THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
: Chính quy  
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng  
Khoa  
: Lâm Nghiệp  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Thái Nguyên - 2019  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
VÙI VĂN LONG  
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC LOÀI NGHIẾN  
GÂN BA (Excentrodendron tonkinensis) TẠI HUYỆN ĐỊNH HÓA,  
TỈNH THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Quản lý tài nguyên rừng  
: K47 QLTNR N01  
: Lâm Nghiệp  
Khoa  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Giảng viên hướng dẫn : TS. NGUYỄN THANH TIẾN  
Thái Nguyên - 2019  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân  
tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn  
toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai sót tôi xin hoàn  
toàn chịu trách nhiệm.  
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2019  
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn  
Người viết cam đoan  
TS. Nguyễn Thanh Tiến  
Vùi Văn Long  
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN  
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót  
sau khi hội đồng chấm yêu cầu!  
(Ký, ghi rõ họ tên)  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Trong suốt 4 năm được học tập tại trường Đại học Nông Lâm Thái  
Nguyên bản thân tôi cũng như bao bạn sinh viên khác được sự quan tâm dạy  
bảo của thầy cô giáo.  
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa  
Lâm Nghiệp trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi thực hiện xong đề  
tài nghiên cứu của mình.  
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến  
thầy cô trong khoa lâm nghiệp đã tận tình giúp đỡ em, nhất là giáo viên  
hướng dẫn Thầy TS. Nguyễn Thanh Tiến và Thầy La Quang Độ đã dành  
nhiều thời gian, tâm huyết tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực  
hiện báo cáo này.  
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô giáo  
trong khoa Lâm Nghiệp, những người đã truyền đạt cho em những kiến thức  
không chỉ là nền tảng cho quá trình thực hiện khóa luận mà còn là hành trang  
qúy báu để em bước vào đời một cách tự tin và vững chắc.  
Em xin chân thành cám ơn toàn thể cán bộ hạt kiểm lâm, và các cán bộ  
công chức tại UBND xã Linh Thông, Lam Vỹ, Tân Thịnh và người dân đã tận  
tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để em hoàn thành tốt đợt thực tập của mình.  
Mặc dù em đã cố gắng trong suốt quá trình thực hiện ,nhưng do chưa  
có kinh nghiệm thực tiễn cũng như thời gian thực tập còn hạn chế nên không  
tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý  
thầy cô và các bạn để khóa luận này được hoàn thiện hơn.  
Em xin chân thành cảm ơn !  
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2019  
Sinh viên  
Vùi Văn Long  
 
iii  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
 
v
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT  
D1.3  
Dt  
Đường kính ngang ngực  
Diện tích tán  
Chiều cao dưới cành  
Chiều cao vút ngọn  
Số cây  
Hdc  
Hvn  
N
N/ha  
ODB  
OTC  
T
Số cây trên ha  
Ô dạng bảng  
Ô tiêu chuẩn  
Tốt  
TB  
X
Trung bình  
Xấu  
 
vi  
MỤC LỤC  
vii  
1
Phần 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Rừng là lá phổi xanh của nhân loại bảo vệ trái đất, rừng có vai trò hết  
sức quan trọng đối với đời sống con người, rừng còn là tài nguyên quý giá và  
có khả năng tái tạo. Rừng không chỉ giữ vai trò là cơ sở phát triển kinh tế mà  
nó còn giữ chức năng sinh thái quan trọng. Rừng là thành phần quan trọng  
nhất của sinh quyển, là nguồn vật chất và tinh thần cơ bản thoả mãn nhu cầu  
của con người. Rừng và đời sống là hai mặt của một vấn đề, chúng có mối  
quan hệ với nhau rất chặt chẽ và nếu so sánh với những cái chung thì có  
những đặc điểm riêng của nó. Tất cả mọi đời sống xã hội, các quá trình hoạt  
động sản xuất kinh doanh của con người đều liên quan đến rừng. Nếu không  
có rừng thì xã hội loài người sẽ không tồn tại được. Song để tách rời giữa  
rừng và đời sống xã hội không đơn bởi thực tế cho ta thấy rừng là một hệ sinh  
thái vô cùng phong phú và phức tạp bao gồm nhiều thành phần và các quy  
luật sắp xếp khác nhau theo không gian và thời gian. Rừng là yếu tố cơ bản  
của môi trường, giữ vai trò quan trọng trong việc phòng hộ, duy trì cân bằng  
sinh thái, bảo vệ đa dạng sinh học bảo tồn nguồn gen, các nguồn lâm đặc sản  
khác, phục vụ nhu cầu của con người tuy nhiên rừng trên thế giới cũng như ở  
Viêt Nam đang bị suy thoái nghiêm trọng, Rừng bị giảm sút nhanh chóng cả  
về số lượng và chất lượng. Nhiều loài cây quý hiếm có giá trị đã bị biến mất,  
nhiều khu rừng lớn đã bị biến mất, nhiều khu rừng lớn đã bị chia cắt thành  
nhiều mảng nhỏ hay bị khai thác quá mức làm mất cấu trúc rừng. Nghiến là  
một loài cây lớn, cho gỗ tốt, có giá trị kinh tế và giá trị sử dụng cao. Chính vì  
vậy cây gỗ nghiến là cây gỗ có giá trị quý hiếm cho nên trong nhưng năm qua  
đã bị khai thác với số lượng rất lớn, nên hiện nay chỉ có một số vùng còn rất ít  
và ở rừng núi đá vôi sự tái sinh các loài cây trên núi đá vôi rất khó và sự sinh  
   
2
trưởng của chúng rất chậm chạp, loài Nghiến trên núi đá vôi mất hàng trăm,  
nghìn năm sau mới có được cây Nghiến cổ thụ, việc khôi phục loài này là hết  
sức khó khăn. Những năm qua, tại một số khu rừng đặc dụng, Vườn quốc gia  
vẫn còn tình trạng khai thác trái phép Nghiến, chủ yếu là khai thác Nghiến  
dưới dạng thớt mang tiêu thụ. Chính vì vậy số lượng diện tích rừng Nghiến  
giảm rất mạnh và đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao.  
Để bảo tồn và phát triển cây Nghiến nguồn gen thực vật quý, hiếm tôi  
tiến hành nghiên cứu khóa luận: “Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học cây  
Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis) tại huyện Định Hóa, tỉnh  
Thái Nguyên’’.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
- Xác định được thực trạng phân bố và một số đặc điểm lâm học của  
cây Nghiến gân ba tại khu vực nghiên cứu.  
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm bảo tồn loài cây Nghiến gân ba  
cho khu vực nghiên cứu.  
1.3. Ý nghĩa khoa học của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học  
Giúp tôi hiểu thêm về sự phân bố và sinh trưởng của cây Nghiến gân  
ba; Ứng dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn; Biết được tầm  
quan trọng của loài thực vật quý hiếm như cây Nghiến gân ba nói riêng, và  
các loài cây quý hiếm sống kèm cây Ngiến gân ba nói chung;  
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn  
Việc nghiên cứu và đánh giá đặc điểm sinh thái, tình trạng phân bố của  
loài Nghiến nhằm đề xuất một số giải pháp bảo tồn.  
       
3
Phần 2  
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU  
2.1. Cơ sở khoa học  
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội thì vấn đề bảo tồn đa dạng  
sinh học ngày càng được quan tâm và chú trọng. Quá trình đô thị hóa, ô  
nhiễm môi trường, chặt phá rừng là những nguyên nhân gây suy giảm diện  
tích rừng, suy giảm đa dạng sinh học, nhiều loài động thực vật quý đứng  
trước nguy cơ tuyệt chủng. Vì vậy cần có những hành động cụ thể của cộng  
đồng đó là các chương trình, dự án để bảo tồn một cách kịp thời. Trong đó  
Nghiến là loài gỗ quý có giá trị kinh tế cao, đã và đang bị khai thác mạnh dẫn  
đến nguy cơ tuyệt chủng chính trong tương lai gần vì thế chúng ta cần có  
những nghiên cứu cụ thể về đặc tính sinh học của loài này từ đó đề xuất các  
biện pháp bảo tồn  
Về cơ sở sinh học  
Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng  
cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài. Việc hiểu rõ hơn về đặc tính  
sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử  
dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực  
vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật  
Về cơ sở bảo tồn  
Biến đổi khí hậu, chặt phá rừng làm cho nhiều loài động, thực vật đứng  
trước nguy cơ tuyệt chủng chính vì vậy công tác bảo tồn loài, bảo tồn đa dạng  
sinh học ngày càng được quan tâm và chú trọng  
Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính  
phủ Việt Nam cũng công bố Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công  
tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên.  
   
4
Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH có rất nhiều loài động thực  
vật được xếp vào cấp bảo tồn CR, EN và VU cần được bảo tồn, nhằm gìn giữ  
nguồn gen quý giá cho thành phần đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và  
thế giới nói chung. Cây Nghiến gân ba tuy có khu phân bố rộng, nhưng bị khai  
thác rất mạnh (trước đây để lấy gỗ dùng trong xây dựng và làm tà vẹt, hiện nay  
dùng làm thớt chủ yếu xuất khẩu trái phép qua biên giới). Số cá thể trưởng  
thành đã bị chặt phá > 50%. Tuy có ở các Vườn quốc gia: Ba Bể, Vườn quốc  
gia Phia Đén – Phia oắc, Vườn quốc gia Xuân Sơn, Vườn quốc gia Phong Nha-  
Kẻ Bàng,… và các Khu bảo tồn thiên nhiên Pà Cò - Hang Kia, Hữu Liên, Na  
Hang, Bắc Mê, Bát Đại Sơn, Phong Quang, Tây Côn Lĩnh, Kim Hỷ, Nam  
Xuân Lạc, Thần Sa- Phượng Hoàng,… nhưng tại những nơi đó vẫn bị khai thác  
trộm. Loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao ngoài thiên nhiên. Đây  
là cơ sở khoa học giúp tôi tiến hành khoá luận tốt nghiệp này.  
2.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước  
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới  
*Cấu trúc rừng  
Quy luật về cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh thái  
học. Trong nghiên cứu cấu trúc rừng người ta chia ra làm 3 dạng cấu trúc là:  
cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian.  
Cấu trúc của thảm thực vật là kết quả của quá trình đấu tranh sinh tồn  
giữa thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống. Trên quan  
điểm sinh thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội  
dung bên trong của hệ sinh thái rừng, thực tế cấu trúc rừng nó có tính quy luật  
và theo trật tự của quần xã. Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của  
rừng mưa nhiệt đới đã được P. W. Richards (1952) [13], G. N. Baur (1964)  
[1], E. P. Odum (1971) [18] tiến hành. Những nghiên cứu này đã nêu lên quan  
   
5
điểm, các khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến  
của rừng.  
G. N. Baur (1964) [1] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái nói  
chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng nói riêng, trong đó đi  
sâu nghiên cứu cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho  
rừng mưa tự nhiên. Từ đó tác giả đưa ra các nguyên lý tác động xử lý lâm  
sinh cải thiện rừng.  
P. Odum (1971) [18] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ  
sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley (1935). Khái niệm sinh thái  
được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm  
sinh thái học. Công trình nghiên cứu của R. Catinot (1965) [4], J. Plaudy  
(1987) [12] đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng,  
nghiên cứu các cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái  
niệm dạng sống, tầng phiến.  
Cây Nghiến Tên khoa học:  
Excentrodendron tonkinense (Gagnep.)  
) là loài thực vật có hoa trong chi Nghiến-  
Chang & Miau, 1978.  
Excentrodendron, ho Đay - Tiliaceae. Bộ Bông - Malvales, lớp (nhóm): cây  
gỗ lớn. Ngành Ngọc lan-Magnoliophyta. Loài này được Chang & Miau mô tả  
khoa học chi tiết năm 1978.  
Tên đồng nghĩa:  
Pentace tonkinensis A. Chev, nom. Nud 1918; P  
arapentace tonkinensis Gagnep, nom. Inval 1943; Excentrodendron hsienmu  
auct, non (Chun & How) Chang & Miau 1956. Burretiodendron tonkinensis  
(Gagnep.) Kosterm 1960; Burretiodendron hsienmu Chun & How  
Theo Xian Mu (1978) [19] loài cây Nghiến Excentrodendron tonkinense (A.  
Chevalier) Hung T. Chang & RH Miao với các tên đồng nghĩa (cynonym):  
Pentace tonkinensis A. Chevalier, Bull. Écon, Indochine, ns, 20: 803.  
1918; Burretiodendron hsienmu Chun & FC Làm thế nào; B. tonkinense (A.  
6
Chevalier) Kostermans; Excentrodendron hsienmu (Chun & FC How) Hung  
T. Chang & RH Miao; E. rhombifolium Hung T. Chang & RH Miao.  
Cây cao tới 40 m. Cuống lá 3,5-6,5 (-10) cm; phiến lá màu xanh lá cây,  
hình trứng hoặc hình bầu dục hoặc hình elip, 8-14 (-18) × 5-8 (-12) cm, có  
lông, bóng, có lông màu nâu vàng có lông ở rìa tĩnh mạch, gân bên đến 1/2  
dài như lưỡi kiếm, cách mép 10-15 mm, mỗi cạnh có 4 hoặc 5 gân phụ, gốc  
tròn, đỉnh nhọn hoặc tù. Cụm hoa đực có hoa 7-13, 5-9 cm; hoa mầu hồng  
nhạt, 1-3 hoa. Hoa đơn tính. Cuống nhỏ không khớp nối. Nhũ hoa thuôn dài,  
1-1,5 cm, hoa chương màu nâu nhợt nhạt, nhẵn nhụi, không có tuyến hoặc  
một vài cánh hoa bên trong có 2 tuyến. Cánh hoa rộng 8-9 × 5-6 mm, cơ sở rõ  
ràng có vuốt. Xuất hiện 25-35; sợi tơ 4 - 6 mm; bao phấn ca. 3 mm. Hoa cái  
chưa biết.  
Excentrodendron tonkinense mọc ở rừng thường xanh trên đá vôi.  
Tỉnh Quảng Tây, Đông Nam tỉnh Vân Nam giáp [Việt Nam].  
Excentrodendron tonkinense (như Burretiodendron hsienmu ) được đưa  
vào Danh sách đỏ của IUCN là cây "Dễ bị tổn thương (B1 + 2c)." Gỗ rất cứng  
và được đánh giá cao để làm thớt.  
2.2.2. Nghiên cứu ở Việt Nam  
Cây Nghiến hay còn có tên khác: Nghiến đỏ; Nghiến trứng; Kiêng mật;  
Kiêng đỏ Cây Nghiến CâyTên khoa học là;  
,
Excentrodendron tonkinense.  
Việt nam có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với 4 mùa xuân, hạ, thu,  
đông chính vì thế hệ động thực vật tại việt nam vô cùng phong phú và đa  
dạng. Hiện nay, các nhà khoa học đã thống kê được 11.373 loài thuộc 2.524  
chi, 378 họ trong 7 ngành thực vật khác nhau (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997)  
[10]. Với hơn 19 triệu hecta rừng và đất rừng, hệ động thực vật phong phú và  
đa dạng với nhiều loài động thực vật quý hiếm được phát hiện và bảo tồn  
trong số đó cây Nghiến (Excentrodendron tonkinensis) là một trong những  
 
7
cây quý hiếm thường phân bố trên vùng núi đá vôi, có giá trị cao đang được  
nghiên cứu và bảo tồn trước nguy cơ suy thoái đa dạng sinh học.  
*Các nghiên cứu về bảo tồn  
Sách đỏ Việt Nam 1996 [2] lần đầu tiên được soạn thảo và chính thức  
công bố và sách đỏ năm 2007 [3] đã thực sự phát huy tác dụng, được sử dụng  
có hiệu quả trong các hoạt động nghiên cứu giảng dạy, quản lý, bảo vệ nguồn  
tài nguyên động thực vật ở nước ta, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học công  
nghệ, bảo tồn đa dạng sinh học, tài nguyên sinh vật, môi trường thiên nhiên  
nước ta trong giai đoạn vừa qua.  
Việt Nam đã có những cam kết và hành động cụ thể để quản lý, bảo tồn  
và phát triển nguồn tài nguyên động thực vật hoang dã. Điều này được thể  
hiện bằng một loạt các văn bản, chính sách đã ra đời. Ba mốc quan trọng nhất  
trong lĩnh vực bảo tồn của Việt Nam là sự ra đời của Nghị định 18/HĐBT  
(1992) [9], Nghị định 48/2002/NĐ-CP (2002) [6] và Nghị Định 32-CP/2006  
[7] Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 30 tháng 3 năm 2006. Nghị định  
160/2013 NĐ-CP [8] về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc  
danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Luật đa dạng sinh  
học (2008) [10]. Nhằm quy định các loài động thực vật nguy cấp, quý, hiếm  
đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ.  
*Nghiên cứu về sinh thái  
Ý nghĩa của nghiên cứu sinh thái loài hết sức cần thiết và quan trọng,  
đây là cơ sở cho việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên,  
Ngăn ngừa suy thoái các loài nhất là những loài động, thực vật quý hiếm,  
ngăn ngừa ô nhiễm môi trường...  
Khi nghiên cứu sinh thái các loài thực vật, (Lê Mộng Chân và Cs  
(2000) [5] đã nêu tóm tắt khái niệm và ý nghĩa của việc nghiên cứu. Sinh thái  
thực vật nghiên cứu tác động qua lại giữa thực vật với ngoại cảnh. Mỗi loài  
8
cây sống trên mặt đất đều trải qua quá trình thích ứng và tiến hoá lâu dài, ở  
hoàn cảnh sống khác nhau các loài thực vật thích ứng và hình thành những  
đặc tính sinh thái riêng, dần dần những đặc tính được di truyền và trở thành  
nhu cầu của cây đối với hoàn cảnh.  
Con người tìm hiểu đặc tính sinh thái của loài cây để gây trồng, chăm  
sóc, nuôi dưỡng, sử dụng và bảo tồn các loài cây đúng lúc, đúng chỗ đồng  
thời lợi dụng các đặc tính ấy để cải tạo tự nhiên và môi trường Lê Mộng Chân  
(2000) [5].  
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [14], đã thống kê thành phần loài của VQG  
có khoảng 2.000 loài thực vật, trong đó có 904 cây có ích thuộc 478 chi, 213  
họ thuộc ngành: Dương xỉ, Hạt trần, Hạt kín, các loài này được xếp thành 8  
nhóm có giá trị khác nhau.  
* Nghiên cứu về cây Nghiến gân ba  
Sách đỏ Việt Nam năm (2007), phần II thực vật [3], mô tả đặc điểm  
cây Nghiến:  
Hình thái: Cây gỗ lớn, cao 30 - 35m, đường kính tới 80 - 90cm. Cành  
non không có lông. Lá hình trứng rộng, cỡ 10 - 12 x 7 - 10cm; mép nguyên;  
gân bên 5 - 7 đôi, trong đó có 3 gân gốc; cuống lá dài 3 - 5cm. Hoa đơn tính.  
Hoa đực có đường kính 1,5cm. Đài hình chuông, ở đầu xẻ 5 thuỳ sâu, dài  
1,5cm. Cánh hoa 5, dài 1,3cm. Nhị khoảng 25, xếp thành 5 bó; chỉ nhị dài 1 -  
1,3cm; bao phấn hình bầu dục, dài 3 mm. Quả khô hình 5 cạnh (giống quả  
Khế), tự mở, đường kính 1,8cm.  
Sinh học, sinh thái: Ra hoa tháng 3 - 4, có quả tháng 8 - 10. Cây ưa  
sáng, mọc rải rác trong rừng thường xanh mưa mùa ẩm ở vùng núi đá vôi, ở  
độ cao dưới 800 m, tái sinh bằng hạt, cây mạ và cây con gặp khá phổ biến  
dưới tán rừng.  
9
Phân bố:  
Trong nước: Sơn La (Thuận Châu, Sông Mã, Mộc Châu), Hà  
Giang, Tuyên Quang (Chiêm Hoá), Cao Bằng (Quảng Hoà, Trùng Khánh, Hạ  
Lang, Thạch An), Bắc Kạn (Chợ Đồn, Ba Bể), Lạng Sơn (Hữu Liên, Bắc  
Sơn), Quảng Ninh, Bắc Giang, Hoà Bình (Mai Châu, Pà Cò).  
Thế giới: Trung Quốc.  
Giá trị: Gỗ quý, màu nâu đỏ, cứng, thớ thẳng, vân đẹp, ít co rút, dùng  
đóng thuyền, làm bệ máy và để xây dựng; cũng thường được dùng làm thớt,  
làm bệ các tượng mỹ nghệ cao cấp.  
Tình trạng: Tuy có khu phân bố rộng, nhưng bị khai thác rất mạnh  
(trước đây để lấy gỗ dùng trong xây dựng và làm tà vẹt, hiện nay dùng làm  
thớt chủ yếu xuất khẩu trái phép qua biên giới). Số cá thể trưởng thành đã bị  
chặt phá > 50%. Tuy có ở các Khu bảo tồn thiên nhiên Pà Cò - Hang Kia,  
Hữu Liên và Vườn quốc gia Ba Bể, nhưng tại những nơi đó vẫn bị chặt trộm.  
Loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên.  
Phân hạng: EN A1a - d+2c,d.  
*Nghiên cứu liên quan về cây Nghiến gân ba  
Dự án “Điều tra đánh giá tình trạng bảo tồn các loài thực vật rừng nguy  
cấp, quý, hiếm thuộc danh mục nghị định 32/2006/NĐ-CP theo vùng sinh  
thái” (2010) [16]. Đã điều tra đánh giá tình trạng bảo tồn loài các loài thưc vật  
quý, hiếm, cung cấp những thông tin về sự phân bố của loài Nghiến trong  
nước, số lượng còn sót lại, tình hình bảo vệ quản lý loài Nghiến, dự án cũng  
cho thấy mức độ tác động của người dân đến loài Nghiến là rất lớn dẫn tới có  
nguy cơ tuyệt chủng cao trong tương lai gần. Những thông tin được dự án  
cung cấp giúp cho công tác quản lý, bảo vệ một cách hợp lý, kịp thời, và đề  
xuất những giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững loài Nghiến.  
Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2003), Tập II [15] mô tả dạng  
sống và sinh thái cây Nghiến: Gỗ lớn, cao 30 - 35m, đường kính tới 80 -  
10  
90cm. đường kính tới 80 - 90cm. Quả khô hình 5 cạnh (giống quả Khế). Cây  
ưa sáng, mọc rải rác trong rừng thường xanh mưa mùa ẩm ở vùng núi đá vôi,  
ở độ cao dưới 800 m, Ra hoa tháng 3 - 4, có quả tháng 8 - 10.  
2.3. Tổng quan về khu vực nghiên cứu huyện Định Hóa  
2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu  
2.3.1.1. Vị trí địa lý, địa hình  
Định Hóa là một huyện miền núi phía tây bắc tỉnh Thái Nguyên, được  
biết đến với di tích quốc gia đặc biệt An Toàn Khu Định Hóa.nằm cách thành  
phố thái nghuyên 50,7 km qua QL3 và QL3C.  
Diện tích tự nhiên: 52.075,4 ha.  
Dân số 90.086 người (năm 2005).  
Theo cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009, trong 10 năm  
(1999-2009), dân số huyện Định Hóa giảm 3.200 người do tỷ lệ xuất cư cao.  
- Định Hóa giáp tỉnh Bắc Kạn về phía bắc và phía đông.  
- Giáp tỉnh Tuyên Quang về phía tây.  
- Giáp huyện Đại Từ và huyện Phú Lương về phía nam.  
Địa hình, cấu trúc địa hình chạy theo hướng Tấy Bắc – Đông Nam nên  
tạo ra diện mạo địa hình vùng lãnh thổ chủ yếu là vùng đồi núi cao, đồi và núi  
đan xen, địa hình phức tạp, có độ dốc lớn, độ chia cắt mạnh. Căn cứ và đặc  
điểm tự nhiên có thể chia huyện Định Hóa thành 4 tiểu vùng:  
+ Tiểu cùng núi trung bình và núi thấp  
+ Tiểu vùng núi đá  
+ Tiểu vùng đồi cao  
+ Tiểu vùng đồi thấp và thung lũng  
2.3.1.2. Điều kiện khí hậu, thủy văn  
- Đặc điểm khí hậu  
Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 79 trang yennguyen 12380 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học cây Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis) tại huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_mot_so_dac_diem_lam_hoc_cay_nghien_gan.pdf