Khảo sát nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nội trú ban ngày (Daycare) của người cao tuổi tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng

vietnam medical journal n01 - june - 2021  
Disease Study 2013", The Lancet. 386(9995),  
page. 743-800.  
4. Elizabeth  
Nghiên cứu khuyến nghị cần tăng cường có  
các biện pháp cụ thể để nâng cao kiến thức về  
phòng ngừa ĐNN cho NLĐ, hướng dẫn sử dụng  
các thiết bị bảo hộ lao động cho công nhân chặt  
chẽ đảm bảo NLĐ luôn luôn sử dụng khi tiếp xúc  
với nguồn ồn và sử dụng đúng, hiệu quả. Cần  
thường xuyên đôn đốc, kiểm tra giám sát việc sử  
dụng thiết bị bảo hộ của NLĐ tự ý không sử  
dụng do chủ quan hoặc thiếu kiến thức hoặc sử  
dụng không đúng như yêu cầu.  
A
Masterson (2016), "Hearing  
impairment among noise-exposed Workers—  
United States, 2003–2012", MMWR. Morbidity and  
mortality weekly report. 65.  
5. GV Prasanna Kumar  
& et al (2008),  
"Occupational noise in rice mills", Noise and  
Health. 10(39), page. 55.  
6. Đỗ Văn Hàm (2007), "Tiếng ồn trong sản xuất và  
điếc nghề nghiệp", trong Đỗ Văn Hàm, chủ biên,  
Sức khỏe nghề nghiệp, Nhà xuất bản Y học Hà  
Nội, Hà Nội  
7. Nguyễn Đăng Quốc Chấn và Bùi Đại Lịch  
(2008), "Kiến thức, thái độ, hành vi phòng chống  
ô nhiễm tiếng ồn và điếc nghề nghiệp của công  
nhân một số nhà máy, xí nghiệp có tiếng ồn cao  
(> 85dBA) tại thành phố Hồ Chí Minh", Y học  
thành phố Hồ Chí Minh. 12(4), tr. 226-228  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. World Health Organization (2016), WHO global  
estimates on prevalence of hearing loss, http://www.  
who. int/pbd/deafness/WHO GE HL. pdf.  
2. World Health Organization (2017), WHO  
methods and data sources for global burden of  
disease estimates 2000-2015, Department of  
Information, Evidence and Research WHO,  
Geneva.  
8. Emmanuel  
D Kitcher & et alc (2014),  
"Occupational hearing loss of market mill workers  
in the city of Accra, Ghana", Noise and Health.  
16(70), page. 183  
3. Theo Vos & et al (2015), "Global, regional, and  
national incidence, prevalence, and years lived  
with disability for 301 acute and chronic diseases  
9. Tim Robinson & et al (2015), "Prevalence of  
noise-induced hearing loss among woodworkers in  
Nepal: a pilot study", International journal of  
occupational and environmental health. 21(1),  
page. 14-22  
and injuries in 188 countries, 1990–2013:  
systematic analysis for the Global Burden of  
a
KHẢO SÁT NHU CẦU SỬ DỤNG DỊCH VỤ  
CHĂM SÓC SỨC KHỎE NỘI TRÚ BAN NGÀY (DAYCARE)  
CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI QUẬN SƠN TRÀ, TP.ĐÀ NẴNG  
Quách Hữu Trung*, Võ Thị Hồng Hướng*  
pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có  
phân tích được thực hiện từ tháng 15/4/2021 đến  
TÓM TẮT37  
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định nhu cầu về dịch  
vụ chăm sóc sức khỏe nội trú ban ngày của người cao  
tuổi tại quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng và mô tả  
một số yếu tố liên quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ  
nêu trên. Đối tượng nghiên cứu: Người cao tuổi  
đang sinh sống tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.  
Tiêu chuẩn chọn: Người cao tuổi (≥ 60 tuổi) đang  
sinh sống tại Quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Với  
người cao tuổi không đủ minh mẫn để hoàn thiện bộ  
câu hỏi thì người nhà/người thân là người tham gia  
nghiên cứu. Không có các dấu hiệu của tổn thương về  
tinh thần và nhận thức ảnh hưởng đến việc trả lời  
hoàn thiện bộ câu hỏi. Đồng ý tham gia nghiên cứu  
này. Tiêu chuẩn loại trừ: Những người không đồng  
ý tham gia vào nghiên cứu sau khi được giải thích rõ  
mục đích và mục tiêu của nghiên cứu. Các đối tượng  
không đáp ứng được các tiêu chuẩn nói trên. Phương  
tháng 25/04/2021 trên 188 người cao tuổi đang cư trú  
tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng bằng hình thức  
phỏng vấn trực tiếp. Bộ câu hỏi được thiết kế sẵn sử  
dụng các câu hỏi đóng để thuận tiện cho đối tượng  
nghiên cứu trả lời. Kết quả: Với 188 người cao tuổi  
tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham gia khảo  
sát nghiên cứu, cho thấy rằng người cao tuổi có nhu  
cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc ban ngày tuy nhiên  
mức độ nhu cầu không cao; có 03 yếu tố có mối liên  
quan có ý nghĩa thống kê (với p<0,05), bao gồm: mức  
kinh tế gia đình; nghề nghiệp và từng nghe về dịch vụ  
chăm sóc ban ngày. Kết luận: Nghiên cứu chỉ ra nhu  
cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc nội trú ban ngày sẽ  
được chú ý và quan tâm hơn khi người dân hiểu rõ  
hơn về dịch vụ này, đồng thời dịch vụ này cũng sẽ có  
nhiều khả năng được quan tâm hơn ở những đối  
tượng có điều kiện về kinh tế. Do vậy, để phát triển  
các dịch vụ y tế mới trong đó có dịch vụ chăm sóc nội  
trú ban ngày cho người cao tuổi, cần tăng cường công  
tác tuyên truyền, quảng bá về loại hình dịch vụ này  
đến đông đảo người dân và cộng đồng, tập trung ưu  
tiên nhóm đối tượng có mức kinh tế cao.  
*Bệnh viện 199 thành phố Đà Nẵng  
Chịu trách nhiệm chính: Võ Thị Hồng Hướng  
Ngày nhận bài: 15.3.2021  
Ngày phản biện khoa học: 10.5.2021  
Ngày duyệt bài: 18.5.2021  
Từ khóa: Chăm sóc nội trú ban ngày, người cao  
tuổi.  
158  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
nuôi dưỡng... Trong khi đó, hệ thống chăm sóc  
sức khỏe người cao tuổi chưa đáp ứng.  
SUMMARY  
SURVEY OF THE NEED TO USE DAYCARE  
HEALTH SERVICES OF ELDERLY IN SON  
Ngoài ra, cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã  
và đang thay đổi cuộc sống của con người về  
nhiều mặt, có nhiều dịch vụ y tế mới ra đời,  
song song với dịch vụ chăm sóc ban ngày trong  
đó dịch vụ khám chữa bệnh từ xa (Telemedicine)  
được coi là một cuộc đại cách mạng trong cách  
thức cung cấp dịch vụ y tế [2]. Dịch vụ chăm sóc  
ban ngày hay y tế từ xa giúp người dân chủ  
động sắp xếp thời gian chăm sóc sức khỏe, kiểm  
soát tốt hơn tình trạng bệnh, được chăm sóc  
sinh hoạt hằng ngày tốt hơn, đặc biệt thay  
những người con, người cháu chăm sóc tốt cho  
người cha, người mẹ của họ...  
Tại Đà Nẵng, Bệnh viện 199 là một trong  
những cơ sở y tế đầu tiên trên địa bàn quận Sơn  
Trà, thành phố Đà Nẵng có cung ứng dịch vụ  
chăm sóc sức khỏe ban ngày cho người cao tuổi,  
chăm sóc người cao tuổi tại nhà ...Vì vậy, để góp  
phần có kế hoạch phát triển mô hình dịch vụ  
chăm sóc ban ngày được phát huy hết lợi thế và  
tăng khả năng tiếp cận của người cao tuổi đối  
với dịch vụ này, nhóm nghiên cứu Bệnh viện 199  
Đà Nẵng tiến hành khảo sát “Nhu cầu sử dụng  
dịch vụ chăm sóc sức khỏe nội trú ban ngày của  
Người cao tuổi tại Quận Sơn Trà, thành phố Đà  
Nẵng” với 02 mục tiêu cụ thể:  
TRA DISTRICT, DA NANG  
Objective: (1) Identify the elderly's needs for  
using daycare health services in Son Tra district, Da  
Nang city; (2) Describe some factors related to the  
need to use the above services. Subjects: The elderly  
are living in Son Tra district, Da Nang city. Criteria to  
choose: Elderly people (≥ 60 years old) are living in  
Son Tra District, Da Nang City. For the elderly who  
could not be complete the questionnaire, family  
members / relatives are the participants in the study.  
There are no signs of mental or cognitive injury  
affecting a complete questionnaire response. Agree to  
participate in this study. Exclusion criteria: People  
who do not agree to participate in the study after  
being clearly explained to the purpose and objectives  
of the study. Subjects that do not meet the above  
standards. Methods: A descriptive cross-sectional  
study was conducted in April 15-25, 2021, on 188  
elderly people are residing in Son Tra district, Da Nang  
city by directly interviews. The pre-designed  
questionnaire uses closed-ended questions for the  
study subjects that can answer easily. Results: In  
total 188 respondents completed the questionaire who  
living in Son Tra district, Da Nang city participating in  
a research survey, it shows that elderly people also  
have a need to use daycare services, however, the  
level of demand is not high with mean values; there  
are 03 factors that have a statistically significant  
relationship (with p<0.05), including: economic level;  
occupation and have heard about daycare before.  
Conclusions: The study showed that the need for  
using day care services will be more attentive and  
concerned when people better understand this  
service, and this service will also be more interested in  
those with hight economic conditions. Therefore, in  
order to develop new medical services, including  
daycare service for the elderly, it is necessary to  
strengthen the propaganda and promotion of this type  
of service to community, focus on priority groups with  
high economic level.  
1. Xác định nhu cầu về dịch vụ chăm sóc  
sức khỏe nội trú ban ngày của người cao tuổi tại  
quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.  
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến nhu  
cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc ban ngày của  
người cao tuổi tại quận Sơn Trà, thành phố Đà  
Nẵng.  
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
+ Đối tượng nghiên cứu: Người cao tuổi  
đang sinh sống tại quận Sơn Trà, thành phố Đà  
Nẵng.  
+ Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu  
mô tả cắt ngang có phân tích được thực hiện  
trên 188 người cao tuổi đang cư trú tại quận Sơn  
Trà, thành phố Đà Nẵng bằng hình thức phỏng  
vấn trực tiếp. Hệ số tin cậy của thang đo đánh  
giá nhu cầu và các biến nhân tố liên quan  
Cronbach Anpha = 0,80 (có độ tin cậy cao).  
Keywords: Daycare, elderly.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Hiện nay, tuổi thọ trung bình của người dân  
tại thành phố Đà Nẵng đạt 76 tuổi [1], cao hơn  
tuổi thọ trung bình chung của cả nước. Quá trình  
già hóa dân số diễn ra với tốc độ nhanh chóng  
đã tạo nên thách thức lớn về sự cần thiết phải  
có những giải pháp thích ứng, phù hợp về các  
dịch vụ an sinh xã hội, lao động việc làm, giao  
thông, khu vui chơi giải trí… đặc biệt là hệ thống  
chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Người cao  
tuổi Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng  
nói riêng đang phải đối diện với gánh nặng bệnh  
tật và thường mắc nhiều bệnh mãn tính, đối diện  
với nguy cơ tàn phế do quá trình lão hóa và  
ngày càng gia tăng chi phí, chăm sóc, điều trị,  
•
Biến số nghiên cứu:  
Công  
cụ  
Kỹ  
thuật  
thu  
Biến số  
thu  
thập thập  
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu  
Tuổi Phỏng  
159  
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
Giới  
Bộ câu vấn  
hỏi  
Tình trạng sức khỏe hiện tại  
Trình độ học vấn  
Nghề nghiệp  
Thu nhập cá nhân và gia đình  
Số thành viên trong gia đình  
Tình trạng sức khỏe  
Mụctiêu1: Xácđịnh nhucầusử dụng dịch vụ  
Nhu cầu khám chữa bệnh ban  
ngày (0 – 5  
điểm, 0 = Rất không có nhu  
cầu, 5 = Nhu cầu rất cao)  
Mục tiêu 2: Tìm hiểu các yếu tố liên quan  
• Một số khái niệm:  
- Chăm sóc ban ngày: Chăm sóc ban ngày  
cung cấp các dịch vụ hỗ trợ y tế, phục hồi chức  
năng và hỗ trợ nhận thức vài giờ một ngày trong  
vài ngày một tuần. [3]  
Nặng  
Vừa  
Nhẹ  
7
53  
128  
3,7  
28,2  
68,1  
Thành viên trong gia đình  
Từ 1-2 người  
Trên 2 người  
18  
170  
9,6  
90,4  
Nghề nghiệp trước khi hết tuổi lao động  
Bộ câu Phỏng  
hỏi vấn  
Cán bộ công chức  
52  
136  
27,7  
72,9  
Khác  
Trình độ học vấn  
Dưới tiểu học  
THCS-THPT  
Đại học trở lên  
67  
99  
22  
35,6  
52,7  
11,7  
Thuận tiện khi đến cơ sở y tế  
Dễ dàng  
Khó khăn  
161  
27  
85,6  
14,4  
Nghe về dịch vụ chăm sóc ban ngày  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
(daycare)  
1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu  
Bảng 1. Đặc điểm nhân khẩu học của đối  
tượng nghiên cứu (n=188)  
Có  
20  
168  
10,6  
89,4  
Chưa từng  
Được diễn giải bằng tỷ lệ %hoặc giá trịtrung  
bình ± độ lệch chuẩn.  
Đặc điểm  
Số lượng n  
Tuổi (năm)  
Trung bình Mean±SD: 70,68±7,611  
Tỷ lệ %  
Nhận xét: Độ tuổi trung bình là 70,68 ±  
7,611; tỷ lệ người cao tuổi là nữ chiếm gấp đôi  
so với người cao tuổi nam lần lượt tỷ lệ là  
62,2%, 37,8%; có 27,2% là cán bộ công chức  
về hưu còn lại là các ngành nghề khác như lao  
động tự do, buôn bán... Đặc biệt trong số các  
thông tin ghi nhận chỉ có 10,6% đối tượng  
nghiên cứu đã từng nghe về dịch vụ chăm sóc  
sức khỏe nội trú ban ngày.  
Từ 60-70 tuổi  
Trên 70 tuổi  
Giới  
107  
81  
56,9  
43,1  
Nam  
71  
37,8  
62,2  
Nữ  
117  
Mức kinh tế gia đình  
Trung bình  
Khá giả, giàu  
143  
30  
76,1  
15,9  
8,0  
Nghèo  
15  
2. Nhu cầu của người cao tuổi trong các dịch vụ chăm sóc ban ngày  
Bảng 2. Nhu cầu của từng loại hình dịch vụ  
Loại dịch vụ  
Chăm sóc nội trú ban ngày vào  
các ngày thường  
Có nhu cầu  
Không có nhu cầu  
Điểm TB±SD  
110(58,5%)  
78(41,5%)  
1,4±1,557/4  
Nhận xét: người cao tuổi cũng cho rằng cũng có nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc ban ngày  
vào các ngày thường tuy nhiên mức độ nhu cầu không cao với các giá trị trung bình là 1,4±1,557/4.  
3. Mối liên quan giữa một số yếu tố đến nhu cầu chăm sóc ban ngày  
Bảng 3. Các yếu tố liên quan  
Không có  
nhu cầu  
Có  
Đặc điểm  
Giá trị p  
nhu cầu  
Tuổi (năm) : Từ 60-70 tuổi  
Trên 70 tuổi  
45(42,1%)  
33(40,7%)  
27(38,0%)  
51(43,6%)  
72(45,6%)  
06(20,0%)  
02(28,6%)  
21(39,6%)  
55(43,0%)  
62(57,9%)  
48(59,3%)  
44(62,0%)  
66(56,4%)  
86(54,4%)  
24(80,0%)  
05(71,4%)  
32(60,4%)  
73(57,0%)  
p=0,488>0,05  
p=0,276>0,05  
p=0,007<0,05  
p=0,714>0,05  
Giới  
: Nam  
Nữ  
Mức kinh tế gia đình: Trung bình, nghèo  
Khá giả, giàu  
Tình trạng sức khỏe hiện tại: Nặng  
Vừa  
Nhẹ  
160  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
Thành viên trong gia đình  
Từ 1-2 người  
Trên 2 người  
7(38,9%)  
71(41,8%)  
11(61,1%)  
99(58,2%)  
p=0,511>0,05  
Nghề nghiệp trước khi hết tuổi lao động  
Cán bộ công chức  
16(30,8%)  
62(45,6%)  
29(43,3%)  
40(40,4%)  
09(40,9%)  
67(41,6%)  
11(40,7%)  
36(69,2%)  
74(54,4%)  
38(56,7%)  
59(59,6%)  
13(59,1%)  
94(58,4%)  
16(59,3%)  
p=0,046<0,05  
p=0,761>0,05  
p=0,553>0,05  
p=0,031<0,05  
Khác  
Trình độ học vấn: Dưới tiểu học  
THCS-THPT  
Đại học trở lên  
Thuận tiện khi đến cơ sở y tế: Dễ dàng  
Khó khăn  
Nghe về dịch vụ chăm sóc ban ngày (daycare)  
Có  
04(20,0%)  
74(44,0%)  
16(80,0%)  
94(56,0%)  
Chưa từng  
Nhận xét: có 03 yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (với p<0,05), bao gồm: mức kinh  
tế gia đình; nghề nghiệp và từng nghe về dịch vụ chăm sóc ban ngày.  
thuốc và một số trị liệu, về lâu dài cần có các  
giải pháp hợp lý để họ tự giữ gìn và nâng cao  
IV. BÀN LUẬN  
Quận Sơn Trà là một quận ở khu vực nội  
sức khỏe của mình cũng như nhận được sự hỗ  
thành nên thu nhập kinh tế của người dân nhìn  
trợ thiết thực từ gia đình, cộng đồng và xã hội. [5].  
chung cũng khá cao và ổn định. Đây sẽ là những  
đối tượng có khả năng sử dụng các dịch vụ  
Có thể nói, người cao tuổi là đối tượng cần  
được quan tâm đến vấn đề sức khỏe nhiều hơn  
chăm sóc ban ngày cao chưa kể đến có nhu cầu  
các đối tượng khác do họ thường có nhiều bệnh  
hay không nhưng họ có khả năng chi trả cho các  
lý nền, tuy nhiên sự hỗ trợ này hiện nay chưa  
phí có dịch vụ gia tăng hoặc phí dịch vụ tự chi trả.  
được quan tâm đúng mực. Theo Trần Thị Hạnh  
Hơn ½ đối tượng nghiên cứu đều cho rằng  
(2008) nghiên cứu về thực trạng CSSK cho người  
nên triển khai các dịch vụ y tế CSSK ban ngày,  
cao tuổi cho biết có 16% chưa nhận được sự bổ  
gồm các ngày thường trong tuần là 58,2% khách  
trợ hợp lí của gia đình và cộng đồng, một nửa  
hàng ủng hộ. Mặc dù, mức độ nhu cầu được đánh  
người cao tuổi cảm thấy rằng họ không khỏe.  
giá không cao tuy nhiên có thể thấy nhóm đối  
Điều nay cho thấy nhu cầu kiểm tra sức khỏe  
tượng nghiên cứu tuy chưa từng được nghe và  
biết về dịch vụ chăm sóc ban ngày là như thế nào  
nhưng người dân cũng đã có những nhìn nhận  
quan tâm ban đầu đến loại hình dịch vụ này (chỉ  
có 10,6% đối tượng nghiên cứu đã từng nghe về  
cho NCT là hết sức bức thiết [6].  
Qua phân tích các yếu tố liên quan cho thấy  
với dịch vụ chăm sóc ban ngày vào các ngày  
thường trong tuần thì có 03 yếu tố chính ảnh  
hưởng lên nhu cầu sử dụng dịch vụ là mức kinh  
dịch vụ chăm sóc sức khỏe nội trú ban ngày).  
tế gia đình; nghề nghiệp và từng nghe về dịch  
Với tâm lý chung, người cao tuổi vẫn mong  
muốn được ở nhà bên cạnh con cháu, tuy nhiên  
vụ chăm sóc ban ngày. Trong đó, tỷ lệ người cao  
tuổi có nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc ban  
với nhịp sống ngày càng sôi động, hằng ngày  
ngày vào các ngày thường có mức kinh tế gia  
người cao tuổi thường chỉ ở nhà một mình do  
đình khá giả và giàu cao hơn gấp 4 lần so với  
con cháu đều đi làm hoặc đi học, do vậy nhu cầu  
nhóm người cao tuổi còn lại với mức kinh tế  
có bạn bè giao lưu, môi trường giải trí nhưng  
nghèo, trung bình (lần lượt là 80,0% và 20,0%),  
đảm bảo không gian ấm cúng như một gia đình  
sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05.  
là điều mà nhiều người cao tuổi luôn mong đợi.  
Kết quả nghiên cứu này cũng tương tự như  
Ngoài ra, việc có người chăm sóc, trò chuyện sẽ  
nghiên cứu của tác giả Bùi Thùy Dương (2010)  
giúp cho người già không còn cảm thấy tủi thân  
[7], cùng xác định yếu tố về mức kinh tế có liên  
và họ sẽ vui vẻ, yêu đời cũng như khi được  
quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ ngoài giờ, tại  
chăm sóc đầy đủ thì tình trạng sức khỏe cũng sẽ  
nhà tương tự như dịch vụ chăm sóc nội trú ban ngày.  
tốt hơn rất nhiều lần. [4]  
Tại nghiên cứu này cũng ghi nhận rằng tỷ lệ  
Tương tự nghiên cứu tại Hải Dương cho rằng  
người cao tuổi có nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm  
người cao tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao và dễ bị  
sóc ban ngày vào các ngày thường thuộc nhóm  
tổn thương về sức khỏe thể chất, tinh thần và xã  
cán bộ công chức cao hơn gấp 2 lần so với nhóm  
hội hơn các nhóm tuổi khác. Nhu cầu CSSK cho  
người cao tuổi còn lại với các ngành nghề khác  
người cao tuổi rất lớn, không đơn thuần dựa vào  
(lần lượt là 69,2% và 30,8%), sự khác biệt này  
161  
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Điều này có thể khả năng được quan tâm hơn ở những đối tượng  
hiểu rằng, những người cao tuổi trước đây là cán  
bộ công chức thì họ có mối quan hệ xã hội cũng  
như kiến thức nhất định liên quan đến việc cần  
chăm lo sức khỏe cũng như độc lập, tự chủ về  
tài chính do đó họ thường biết tự quyết định các  
giải pháp chăm lo cá nhân của bản thân được tốt  
hơn so với nhóm đối tượng còn lại ở các ngành  
nghề khác.  
Một nội dung được ghi nhận thông qua  
nghiên cứu này nên đáng được quan tâm hơn để  
góp phần có giải pháp phát triển bất kỳ loại hình  
dịch vụ mới nào, không riêng dịch vụ vè y tế, đó 2. European  
là khách hàng cần được nắm các thông tin liên  
quan đến dịch vụ mình sẽ sử dụng, từ đó nhu  
cầu sử dụng sẽ được tăng cao hơn. Do vậy, với  
nghiên cứu này cũng ghi nhận được rằng nhóm  
người cao tuổi đã từng nghe về dịch vụ chăm  
sóc ban ngày có nhu cầu sử dụng dịch vụ này  
cao hơn gấp 4 lần so với nhóm người cao tuổi  
còn lại (lần lượt là 80,0% và 20,0%), sự khác  
biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Tương  
tự, như kết luận của nghiên cứu về nhu cầu sử  
dụng dịch vụ y tế mới - dịch vụ chăm sóc sức  
khỏe từ xa [8].  
có điều kiện về kinh tế. Do vậy, để phát triển các  
dịch vụ y tế mới trong đó có dịch vụ chăm sóc  
nội trú ban ngày cho người cao tuổi, cần tăng  
cường công tác tuyên truyền, quảng bá về loại  
hình dịch vụ này đến đông đảo người dân và  
cộng đồng, tập trung ưu tiên nhóm đối tượng có  
mức kinh tế cao.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Cục thống kê thành phố Đà Nẵng (2020),  
Niên giám thống kê năm 2019 trên địa bàn thành  
phố Đà Nẵng.  
Lung  
Foundation  
(2019),  
Telemedicine  
3. Định nghĩa về chăm sóc ban ngày – Daycare,  
đăng tải tại link: https://www.msdmanuals.com  
cứu đặc điểm và nhu cầu chăm sóc bệnh mạn tính  
ở người cao tuổi tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh  
Bình Định năm 2020.  
5. Nguyễn văn Sai (2014), Thực trạng sức khỏe và  
nhu cầu chăm sóc y tế của người cao tuổi tại hai  
huyện tỉnh Hải Dương năm 2013.  
6. Trần Thị Hạnh (2008).Thực trạng chăm sóc sức  
khỏe tại nhà cho người cao tuổi quận Ô Môn TP.  
Cần Thơ.  
7. Bùi Thùy Dương (2010), Khảo sát nhu cầu  
chăm sóc sức khở ngoài giờ và tại nhà của bệnh  
nhân và người nhà bệnh nhân đến khám bệnh tại  
Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2010.  
V. KẾT LUẬN  
Nghiên cứu chỉ ra nhu cầu sử dụng dịch vụ  
chăm sóc nội trú ban ngày sẽ được chú ý và  
quan tâm hơn khi người dân hiểu rõ hơn về dịch  
vụ này, đồng thời dịch vụ này cũng sẽ có nhiều  
8. Quách Hữu Trung, Võ Thị Hồng Hướng và  
cộng sự, Kiến thức và nhu cầu về sử dụng dịch vụ  
khám chữa bệnh từ xa của bệnh nhân đái tháo  
đường tại thành phố Đà Nẵng năm 2021.  
YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỬ DỤNG VANCOMYCIN AN TOÀN VÀ  
HIỆU QUẢ TRONG ĐIỀU TRỊ NHIỄM KHUẨN NẶNG TRẺ EM  
Hà Mạnh Tuấn1, Kim Trần Quan2  
dụng trung bình là 55,83 ± 19,34 mg/kg/ngày. Nồng  
TÓM TẮT38  
độ đáy vancomycin trung vị là 11,09 (7,84 – 16,46)  
μg/ml. Độ thanh thải creatinin trung bình là 80,18 ±  
29,14 ml/min. Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng  
vancomycin an toàn và hiệu quả là liều lượng  
vancomycin, cách sử dụng vancomycin và độ thanh  
thải creatinin. Kết luận. Cần xem xét điều chỉnh liều  
lượng vancomycin, cách sử dụng vancomycin theo độ  
thanh thải và nồng độ đáy vancomycin để đảm bảo  
tính an toàn và hiệu quả trong điều trị.  
Mục tiêu: Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến sử  
dụng an toàn và hiệu quả của vancomycin trong điều  
trị nhiễm trùng nặng trẻ em. Phương pháp tiến  
hành: Nghiên cứu cắt ngang mô tả các bệnh nhân trẻ  
em được chỉ định điều trị vancomycin trên 3 ngày. Các  
trường hợp này được đo nồng độ đáy vancomycin và  
độ thanh thải creatinin để theo dõi hiệu quả và an  
toàn của sử dụng vancomycin. Kết quả: Nghiên cứu  
thu nhận 40 trường hợp. Liều lượng vancomycin sử  
SUMMARY  
1Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh  
2Bệnh viện Nhi Đồng 2  
Chịu trách nhiệm chính: Hà Mạnh Tuấn  
Ngày nhận bài: 16.3.2021  
FACTORSAFFECTING THE SAFEAND EFFECTIVE  
USE OF VANCOMYCIN IN TREATMENT OF  
SEVERE INFECTIONS IN CHILDREN  
Objectives: To investigate the factors affecting  
the safe and effective use of vancomycin in the  
treatment of severe infections in children. Methods:  
Ngày phản biện khoa học: 12.5.2021  
Ngày duyệt bài: 21.5.2021  
162  
pdf 5 trang yennguyen 18560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nội trú ban ngày (Daycare) của người cao tuổi tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_nhu_cau_su_dung_dich_vu_cham_soc_suc_khoe_noi_tru_b.pdf