Khảo sát nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nội trú ban ngày (Daycare) của người cao tuổi tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
vietnam medical journal n01 - june - 2021
Disease Study 2013", The Lancet. 386(9995),
page. 743-800.
4. Elizabeth
Nghiên cứu khuyến nghị cần tăng cường có
các biện pháp cụ thể để nâng cao kiến thức về
phòng ngừa ĐNN cho NLĐ, hướng dẫn sử dụng
các thiết bị bảo hộ lao động cho công nhân chặt
chẽ đảm bảo NLĐ luôn luôn sử dụng khi tiếp xúc
với nguồn ồn và sử dụng đúng, hiệu quả. Cần
thường xuyên đôn đốc, kiểm tra giám sát việc sử
dụng thiết bị bảo hộ của NLĐ tự ý không sử
dụng do chủ quan hoặc thiếu kiến thức hoặc sử
dụng không đúng như yêu cầu.
A
Masterson (2016), "Hearing
impairment among noise-exposed Workers—
United States, 2003–2012", MMWR. Morbidity and
mortality weekly report. 65.
5. GV Prasanna Kumar
& et al (2008),
"Occupational noise in rice mills", Noise and
Health. 10(39), page. 55.
6. Đỗ Văn Hàm (2007), "Tiếng ồn trong sản xuất và
điếc nghề nghiệp", trong Đỗ Văn Hàm, chủ biên,
Sức khỏe nghề nghiệp, Nhà xuất bản Y học Hà
Nội, Hà Nội
7. Nguyễn Đăng Quốc Chấn và Bùi Đại Lịch
(2008), "Kiến thức, thái độ, hành vi phòng chống
ô nhiễm tiếng ồn và điếc nghề nghiệp của công
nhân một số nhà máy, xí nghiệp có tiếng ồn cao
(> 85dBA) tại thành phố Hồ Chí Minh", Y học
thành phố Hồ Chí Minh. 12(4), tr. 226-228
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. World Health Organization (2016), WHO global
estimates on prevalence of hearing loss, http://www.
who. int/pbd/deafness/WHO GE HL. pdf.
2. World Health Organization (2017), WHO
methods and data sources for global burden of
disease estimates 2000-2015, Department of
Information, Evidence and Research WHO,
Geneva.
8. Emmanuel
D Kitcher & et alc (2014),
"Occupational hearing loss of market mill workers
in the city of Accra, Ghana", Noise and Health.
16(70), page. 183
3. Theo Vos & et al (2015), "Global, regional, and
national incidence, prevalence, and years lived
with disability for 301 acute and chronic diseases
9. Tim Robinson & et al (2015), "Prevalence of
noise-induced hearing loss among woodworkers in
Nepal: a pilot study", International journal of
occupational and environmental health. 21(1),
page. 14-22
and injuries in 188 countries, 1990–2013:
systematic analysis for the Global Burden of
a
KHẢO SÁT NHU CẦU SỬ DỤNG DỊCH VỤ
CHĂM SÓC SỨC KHỎE NỘI TRÚ BAN NGÀY (DAYCARE)
CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI QUẬN SƠN TRÀ, TP.ĐÀ NẴNG
Quách Hữu Trung*, Võ Thị Hồng Hướng*
pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có
phân tích được thực hiện từ tháng 15/4/2021 đến
TÓM TẮT37
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định nhu cầu về dịch
vụ chăm sóc sức khỏe nội trú ban ngày của người cao
tuổi tại quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng và mô tả
một số yếu tố liên quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ
nêu trên. Đối tượng nghiên cứu: Người cao tuổi
đang sinh sống tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Tiêu chuẩn chọn: Người cao tuổi (≥ 60 tuổi) đang
sinh sống tại Quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Với
người cao tuổi không đủ minh mẫn để hoàn thiện bộ
câu hỏi thì người nhà/người thân là người tham gia
nghiên cứu. Không có các dấu hiệu của tổn thương về
tinh thần và nhận thức ảnh hưởng đến việc trả lời
hoàn thiện bộ câu hỏi. Đồng ý tham gia nghiên cứu
này. Tiêu chuẩn loại trừ: Những người không đồng
ý tham gia vào nghiên cứu sau khi được giải thích rõ
mục đích và mục tiêu của nghiên cứu. Các đối tượng
không đáp ứng được các tiêu chuẩn nói trên. Phương
tháng 25/04/2021 trên 188 người cao tuổi đang cư trú
tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng bằng hình thức
phỏng vấn trực tiếp. Bộ câu hỏi được thiết kế sẵn sử
dụng các câu hỏi đóng để thuận tiện cho đối tượng
nghiên cứu trả lời. Kết quả: Với 188 người cao tuổi
tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham gia khảo
sát nghiên cứu, cho thấy rằng người cao tuổi có nhu
cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc ban ngày tuy nhiên
mức độ nhu cầu không cao; có 03 yếu tố có mối liên
quan có ý nghĩa thống kê (với p<0,05), bao gồm: mức
kinh tế gia đình; nghề nghiệp và từng nghe về dịch vụ
chăm sóc ban ngày. Kết luận: Nghiên cứu chỉ ra nhu
cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc nội trú ban ngày sẽ
được chú ý và quan tâm hơn khi người dân hiểu rõ
hơn về dịch vụ này, đồng thời dịch vụ này cũng sẽ có
nhiều khả năng được quan tâm hơn ở những đối
tượng có điều kiện về kinh tế. Do vậy, để phát triển
các dịch vụ y tế mới trong đó có dịch vụ chăm sóc nội
trú ban ngày cho người cao tuổi, cần tăng cường công
tác tuyên truyền, quảng bá về loại hình dịch vụ này
đến đông đảo người dân và cộng đồng, tập trung ưu
tiên nhóm đối tượng có mức kinh tế cao.
*Bệnh viện 199 thành phố Đà Nẵng
Chịu trách nhiệm chính: Võ Thị Hồng Hướng
Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 15.3.2021
Ngày phản biện khoa học: 10.5.2021
Ngày duyệt bài: 18.5.2021
Từ khóa: Chăm sóc nội trú ban ngày, người cao
tuổi.
158
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021
nuôi dưỡng... Trong khi đó, hệ thống chăm sóc
sức khỏe người cao tuổi chưa đáp ứng.
SUMMARY
SURVEY OF THE NEED TO USE DAYCARE
HEALTH SERVICES OF ELDERLY IN SON
Ngoài ra, cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã
và đang thay đổi cuộc sống của con người về
nhiều mặt, có nhiều dịch vụ y tế mới ra đời,
song song với dịch vụ chăm sóc ban ngày trong
đó dịch vụ khám chữa bệnh từ xa (Telemedicine)
được coi là một cuộc đại cách mạng trong cách
thức cung cấp dịch vụ y tế [2]. Dịch vụ chăm sóc
ban ngày hay y tế từ xa giúp người dân chủ
động sắp xếp thời gian chăm sóc sức khỏe, kiểm
soát tốt hơn tình trạng bệnh, được chăm sóc
sinh hoạt hằng ngày tốt hơn, đặc biệt thay
những người con, người cháu chăm sóc tốt cho
người cha, người mẹ của họ...
Tại Đà Nẵng, Bệnh viện 199 là một trong
những cơ sở y tế đầu tiên trên địa bàn quận Sơn
Trà, thành phố Đà Nẵng có cung ứng dịch vụ
chăm sóc sức khỏe ban ngày cho người cao tuổi,
chăm sóc người cao tuổi tại nhà ...Vì vậy, để góp
phần có kế hoạch phát triển mô hình dịch vụ
chăm sóc ban ngày được phát huy hết lợi thế và
tăng khả năng tiếp cận của người cao tuổi đối
với dịch vụ này, nhóm nghiên cứu Bệnh viện 199
Đà Nẵng tiến hành khảo sát “Nhu cầu sử dụng
dịch vụ chăm sóc sức khỏe nội trú ban ngày của
Người cao tuổi tại Quận Sơn Trà, thành phố Đà
Nẵng” với 02 mục tiêu cụ thể:
TRA DISTRICT, DA NANG
Objective: (1) Identify the elderly's needs for
using daycare health services in Son Tra district, Da
Nang city; (2) Describe some factors related to the
need to use the above services. Subjects: The elderly
are living in Son Tra district, Da Nang city. Criteria to
choose: Elderly people (≥ 60 years old) are living in
Son Tra District, Da Nang City. For the elderly who
could not be complete the questionnaire, family
members / relatives are the participants in the study.
There are no signs of mental or cognitive injury
affecting a complete questionnaire response. Agree to
participate in this study. Exclusion criteria: People
who do not agree to participate in the study after
being clearly explained to the purpose and objectives
of the study. Subjects that do not meet the above
standards. Methods: A descriptive cross-sectional
study was conducted in April 15-25, 2021, on 188
elderly people are residing in Son Tra district, Da Nang
city by directly interviews. The pre-designed
questionnaire uses closed-ended questions for the
study subjects that can answer easily. Results: In
total 188 respondents completed the questionaire who
living in Son Tra district, Da Nang city participating in
a research survey, it shows that elderly people also
have a need to use daycare services, however, the
level of demand is not high with mean values; there
are 03 factors that have a statistically significant
relationship (with p<0.05), including: economic level;
occupation and have heard about daycare before.
Conclusions: The study showed that the need for
using day care services will be more attentive and
concerned when people better understand this
service, and this service will also be more interested in
those with hight economic conditions. Therefore, in
order to develop new medical services, including
daycare service for the elderly, it is necessary to
strengthen the propaganda and promotion of this type
of service to community, focus on priority groups with
high economic level.
1. Xác định nhu cầu về dịch vụ chăm sóc
sức khỏe nội trú ban ngày của người cao tuổi tại
quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến nhu
cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc ban ngày của
người cao tuổi tại quận Sơn Trà, thành phố Đà
Nẵng.
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU
+ Đối tượng nghiên cứu: Người cao tuổi
đang sinh sống tại quận Sơn Trà, thành phố Đà
Nẵng.
+ Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu
mô tả cắt ngang có phân tích được thực hiện
trên 188 người cao tuổi đang cư trú tại quận Sơn
Trà, thành phố Đà Nẵng bằng hình thức phỏng
vấn trực tiếp. Hệ số tin cậy của thang đo đánh
giá nhu cầu và các biến nhân tố liên quan
Cronbach Anpha = 0,80 (có độ tin cậy cao).
Keywords: Daycare, elderly.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, tuổi thọ trung bình của người dân
tại thành phố Đà Nẵng đạt 76 tuổi [1], cao hơn
tuổi thọ trung bình chung của cả nước. Quá trình
già hóa dân số diễn ra với tốc độ nhanh chóng
đã tạo nên thách thức lớn về sự cần thiết phải
có những giải pháp thích ứng, phù hợp về các
dịch vụ an sinh xã hội, lao động việc làm, giao
thông, khu vui chơi giải trí… đặc biệt là hệ thống
chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Người cao
tuổi Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng
nói riêng đang phải đối diện với gánh nặng bệnh
tật và thường mắc nhiều bệnh mãn tính, đối diện
với nguy cơ tàn phế do quá trình lão hóa và
ngày càng gia tăng chi phí, chăm sóc, điều trị,
•
Biến số nghiên cứu:
Công
cụ
Kỹ
thuật
thu
Biến số
thu
thập thập
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Tuổi Phỏng
159
vietnam medical journal n01 - june - 2021
Giới
Bộ câu vấn
hỏi
Tình trạng sức khỏe hiện tại
Trình độ học vấn
Nghề nghiệp
Thu nhập cá nhân và gia đình
Số thành viên trong gia đình
Tình trạng sức khỏe
Mụctiêu1: Xácđịnh nhucầusử dụng dịch vụ
Nhu cầu khám chữa bệnh ban
ngày (0 – 5
điểm, 0 = Rất không có nhu
cầu, 5 = Nhu cầu rất cao)
Mục tiêu 2: Tìm hiểu các yếu tố liên quan
• Một số khái niệm:
- Chăm sóc ban ngày: Chăm sóc ban ngày
cung cấp các dịch vụ hỗ trợ y tế, phục hồi chức
năng và hỗ trợ nhận thức vài giờ một ngày trong
vài ngày một tuần. [3]
Nặng
Vừa
Nhẹ
7
53
128
3,7
28,2
68,1
Thành viên trong gia đình
Từ 1-2 người
Trên 2 người
18
170
9,6
90,4
Nghề nghiệp trước khi hết tuổi lao động
Bộ câu Phỏng
hỏi vấn
Cán bộ công chức
52
136
27,7
72,9
Khác
Trình độ học vấn
Dưới tiểu học
THCS-THPT
Đại học trở lên
67
99
22
35,6
52,7
11,7
Thuận tiện khi đến cơ sở y tế
Dễ dàng
Khó khăn
161
27
85,6
14,4
Nghe về dịch vụ chăm sóc ban ngày
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
(daycare)
1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Bảng 1. Đặc điểm nhân khẩu học của đối
tượng nghiên cứu (n=188)
Có
20
168
10,6
89,4
Chưa từng
Được diễn giải bằng tỷ lệ %hoặc giá trịtrung
bình ± độ lệch chuẩn.
Đặc điểm
Số lượng n
Tuổi (năm)
Trung bình Mean±SD: 70,68±7,611
Tỷ lệ %
Nhận xét: Độ tuổi trung bình là 70,68 ±
7,611; tỷ lệ người cao tuổi là nữ chiếm gấp đôi
so với người cao tuổi nam lần lượt tỷ lệ là
62,2%, 37,8%; có 27,2% là cán bộ công chức
về hưu còn lại là các ngành nghề khác như lao
động tự do, buôn bán... Đặc biệt trong số các
thông tin ghi nhận chỉ có 10,6% đối tượng
nghiên cứu đã từng nghe về dịch vụ chăm sóc
sức khỏe nội trú ban ngày.
Từ 60-70 tuổi
Trên 70 tuổi
Giới
107
81
56,9
43,1
Nam
71
37,8
62,2
Nữ
117
Mức kinh tế gia đình
Trung bình
Khá giả, giàu
143
30
76,1
15,9
8,0
Nghèo
15
2. Nhu cầu của người cao tuổi trong các dịch vụ chăm sóc ban ngày
Bảng 2. Nhu cầu của từng loại hình dịch vụ
Loại dịch vụ
Chăm sóc nội trú ban ngày vào
các ngày thường
Có nhu cầu
Không có nhu cầu
Điểm TB±SD
110(58,5%)
78(41,5%)
1,4±1,557/4
Nhận xét: người cao tuổi cũng cho rằng cũng có nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc ban ngày
vào các ngày thường tuy nhiên mức độ nhu cầu không cao với các giá trị trung bình là 1,4±1,557/4.
3. Mối liên quan giữa một số yếu tố đến nhu cầu chăm sóc ban ngày
Bảng 3. Các yếu tố liên quan
Không có
nhu cầu
Có
Đặc điểm
Giá trị p
nhu cầu
Tuổi (năm) : Từ 60-70 tuổi
Trên 70 tuổi
45(42,1%)
33(40,7%)
27(38,0%)
51(43,6%)
72(45,6%)
06(20,0%)
02(28,6%)
21(39,6%)
55(43,0%)
62(57,9%)
48(59,3%)
44(62,0%)
66(56,4%)
86(54,4%)
24(80,0%)
05(71,4%)
32(60,4%)
73(57,0%)
p=0,488>0,05
p=0,276>0,05
p=0,007<0,05
p=0,714>0,05
Giới
: Nam
Nữ
Mức kinh tế gia đình: Trung bình, nghèo
Khá giả, giàu
Tình trạng sức khỏe hiện tại: Nặng
Vừa
Nhẹ
160
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021
Thành viên trong gia đình
Từ 1-2 người
Trên 2 người
7(38,9%)
71(41,8%)
11(61,1%)
99(58,2%)
p=0,511>0,05
Nghề nghiệp trước khi hết tuổi lao động
Cán bộ công chức
16(30,8%)
62(45,6%)
29(43,3%)
40(40,4%)
09(40,9%)
67(41,6%)
11(40,7%)
36(69,2%)
74(54,4%)
38(56,7%)
59(59,6%)
13(59,1%)
94(58,4%)
16(59,3%)
p=0,046<0,05
p=0,761>0,05
p=0,553>0,05
p=0,031<0,05
Khác
Trình độ học vấn: Dưới tiểu học
THCS-THPT
Đại học trở lên
Thuận tiện khi đến cơ sở y tế: Dễ dàng
Khó khăn
Nghe về dịch vụ chăm sóc ban ngày (daycare)
Có
04(20,0%)
74(44,0%)
16(80,0%)
94(56,0%)
Chưa từng
Nhận xét: có 03 yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (với p<0,05), bao gồm: mức kinh
tế gia đình; nghề nghiệp và từng nghe về dịch vụ chăm sóc ban ngày.
thuốc và một số trị liệu, về lâu dài cần có các
giải pháp hợp lý để họ tự giữ gìn và nâng cao
IV. BÀN LUẬN
Quận Sơn Trà là một quận ở khu vực nội
sức khỏe của mình cũng như nhận được sự hỗ
thành nên thu nhập kinh tế của người dân nhìn
trợ thiết thực từ gia đình, cộng đồng và xã hội. [5].
chung cũng khá cao và ổn định. Đây sẽ là những
đối tượng có khả năng sử dụng các dịch vụ
Có thể nói, người cao tuổi là đối tượng cần
được quan tâm đến vấn đề sức khỏe nhiều hơn
chăm sóc ban ngày cao chưa kể đến có nhu cầu
các đối tượng khác do họ thường có nhiều bệnh
hay không nhưng họ có khả năng chi trả cho các
lý nền, tuy nhiên sự hỗ trợ này hiện nay chưa
phí có dịch vụ gia tăng hoặc phí dịch vụ tự chi trả.
được quan tâm đúng mực. Theo Trần Thị Hạnh
Hơn ½ đối tượng nghiên cứu đều cho rằng
(2008) nghiên cứu về thực trạng CSSK cho người
nên triển khai các dịch vụ y tế CSSK ban ngày,
cao tuổi cho biết có 16% chưa nhận được sự bổ
gồm các ngày thường trong tuần là 58,2% khách
trợ hợp lí của gia đình và cộng đồng, một nửa
hàng ủng hộ. Mặc dù, mức độ nhu cầu được đánh
người cao tuổi cảm thấy rằng họ không khỏe.
giá không cao tuy nhiên có thể thấy nhóm đối
Điều nay cho thấy nhu cầu kiểm tra sức khỏe
tượng nghiên cứu tuy chưa từng được nghe và
biết về dịch vụ chăm sóc ban ngày là như thế nào
nhưng người dân cũng đã có những nhìn nhận
quan tâm ban đầu đến loại hình dịch vụ này (chỉ
có 10,6% đối tượng nghiên cứu đã từng nghe về
cho NCT là hết sức bức thiết [6].
Qua phân tích các yếu tố liên quan cho thấy
với dịch vụ chăm sóc ban ngày vào các ngày
thường trong tuần thì có 03 yếu tố chính ảnh
hưởng lên nhu cầu sử dụng dịch vụ là mức kinh
dịch vụ chăm sóc sức khỏe nội trú ban ngày).
tế gia đình; nghề nghiệp và từng nghe về dịch
Với tâm lý chung, người cao tuổi vẫn mong
muốn được ở nhà bên cạnh con cháu, tuy nhiên
vụ chăm sóc ban ngày. Trong đó, tỷ lệ người cao
tuổi có nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc ban
với nhịp sống ngày càng sôi động, hằng ngày
ngày vào các ngày thường có mức kinh tế gia
người cao tuổi thường chỉ ở nhà một mình do
đình khá giả và giàu cao hơn gấp 4 lần so với
con cháu đều đi làm hoặc đi học, do vậy nhu cầu
nhóm người cao tuổi còn lại với mức kinh tế
có bạn bè giao lưu, môi trường giải trí nhưng
nghèo, trung bình (lần lượt là 80,0% và 20,0%),
đảm bảo không gian ấm cúng như một gia đình
sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
là điều mà nhiều người cao tuổi luôn mong đợi.
Kết quả nghiên cứu này cũng tương tự như
Ngoài ra, việc có người chăm sóc, trò chuyện sẽ
nghiên cứu của tác giả Bùi Thùy Dương (2010)
giúp cho người già không còn cảm thấy tủi thân
[7], cùng xác định yếu tố về mức kinh tế có liên
và họ sẽ vui vẻ, yêu đời cũng như khi được
quan đến nhu cầu sử dụng dịch vụ ngoài giờ, tại
chăm sóc đầy đủ thì tình trạng sức khỏe cũng sẽ
nhà tương tự như dịch vụ chăm sóc nội trú ban ngày.
tốt hơn rất nhiều lần. [4]
Tại nghiên cứu này cũng ghi nhận rằng tỷ lệ
Tương tự nghiên cứu tại Hải Dương cho rằng
người cao tuổi có nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm
người cao tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao và dễ bị
sóc ban ngày vào các ngày thường thuộc nhóm
tổn thương về sức khỏe thể chất, tinh thần và xã
cán bộ công chức cao hơn gấp 2 lần so với nhóm
hội hơn các nhóm tuổi khác. Nhu cầu CSSK cho
người cao tuổi còn lại với các ngành nghề khác
người cao tuổi rất lớn, không đơn thuần dựa vào
(lần lượt là 69,2% và 30,8%), sự khác biệt này
161
vietnam medical journal n01 - june - 2021
có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Điều này có thể khả năng được quan tâm hơn ở những đối tượng
hiểu rằng, những người cao tuổi trước đây là cán
bộ công chức thì họ có mối quan hệ xã hội cũng
như kiến thức nhất định liên quan đến việc cần
chăm lo sức khỏe cũng như độc lập, tự chủ về
tài chính do đó họ thường biết tự quyết định các
giải pháp chăm lo cá nhân của bản thân được tốt
hơn so với nhóm đối tượng còn lại ở các ngành
nghề khác.
Một nội dung được ghi nhận thông qua
nghiên cứu này nên đáng được quan tâm hơn để
góp phần có giải pháp phát triển bất kỳ loại hình
dịch vụ mới nào, không riêng dịch vụ vè y tế, đó 2. European
là khách hàng cần được nắm các thông tin liên
quan đến dịch vụ mình sẽ sử dụng, từ đó nhu
cầu sử dụng sẽ được tăng cao hơn. Do vậy, với
nghiên cứu này cũng ghi nhận được rằng nhóm
người cao tuổi đã từng nghe về dịch vụ chăm
sóc ban ngày có nhu cầu sử dụng dịch vụ này
cao hơn gấp 4 lần so với nhóm người cao tuổi
còn lại (lần lượt là 80,0% và 20,0%), sự khác
biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05. Tương
tự, như kết luận của nghiên cứu về nhu cầu sử
dụng dịch vụ y tế mới - dịch vụ chăm sóc sức
khỏe từ xa [8].
có điều kiện về kinh tế. Do vậy, để phát triển các
dịch vụ y tế mới trong đó có dịch vụ chăm sóc
nội trú ban ngày cho người cao tuổi, cần tăng
cường công tác tuyên truyền, quảng bá về loại
hình dịch vụ này đến đông đảo người dân và
cộng đồng, tập trung ưu tiên nhóm đối tượng có
mức kinh tế cao.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cục thống kê thành phố Đà Nẵng (2020),
Niên giám thống kê năm 2019 trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng.
Lung
Foundation
(2019),
Telemedicine
3. Định nghĩa về chăm sóc ban ngày – Daycare,
cứu đặc điểm và nhu cầu chăm sóc bệnh mạn tính
ở người cao tuổi tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh
Bình Định năm 2020.
5. Nguyễn văn Sai (2014), Thực trạng sức khỏe và
nhu cầu chăm sóc y tế của người cao tuổi tại hai
huyện tỉnh Hải Dương năm 2013.
6. Trần Thị Hạnh (2008).Thực trạng chăm sóc sức
khỏe tại nhà cho người cao tuổi quận Ô Môn TP.
Cần Thơ.
7. Bùi Thùy Dương (2010), Khảo sát nhu cầu
chăm sóc sức khở ngoài giờ và tại nhà của bệnh
nhân và người nhà bệnh nhân đến khám bệnh tại
Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2010.
V. KẾT LUẬN
Nghiên cứu chỉ ra nhu cầu sử dụng dịch vụ
chăm sóc nội trú ban ngày sẽ được chú ý và
quan tâm hơn khi người dân hiểu rõ hơn về dịch
vụ này, đồng thời dịch vụ này cũng sẽ có nhiều
8. Quách Hữu Trung, Võ Thị Hồng Hướng và
cộng sự, Kiến thức và nhu cầu về sử dụng dịch vụ
khám chữa bệnh từ xa của bệnh nhân đái tháo
đường tại thành phố Đà Nẵng năm 2021.
YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỬ DỤNG VANCOMYCIN AN TOÀN VÀ
HIỆU QUẢ TRONG ĐIỀU TRỊ NHIỄM KHUẨN NẶNG TRẺ EM
Hà Mạnh Tuấn1, Kim Trần Quan2
dụng trung bình là 55,83 ± 19,34 mg/kg/ngày. Nồng
TÓM TẮT38
độ đáy vancomycin trung vị là 11,09 (7,84 – 16,46)
μg/ml. Độ thanh thải creatinin trung bình là 80,18 ±
29,14 ml/min. Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng
vancomycin an toàn và hiệu quả là liều lượng
vancomycin, cách sử dụng vancomycin và độ thanh
thải creatinin. Kết luận. Cần xem xét điều chỉnh liều
lượng vancomycin, cách sử dụng vancomycin theo độ
thanh thải và nồng độ đáy vancomycin để đảm bảo
tính an toàn và hiệu quả trong điều trị.
Mục tiêu: Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến sử
dụng an toàn và hiệu quả của vancomycin trong điều
trị nhiễm trùng nặng trẻ em. Phương pháp tiến
hành: Nghiên cứu cắt ngang mô tả các bệnh nhân trẻ
em được chỉ định điều trị vancomycin trên 3 ngày. Các
trường hợp này được đo nồng độ đáy vancomycin và
độ thanh thải creatinin để theo dõi hiệu quả và an
toàn của sử dụng vancomycin. Kết quả: Nghiên cứu
thu nhận 40 trường hợp. Liều lượng vancomycin sử
SUMMARY
1Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
2Bệnh viện Nhi Đồng 2
Chịu trách nhiệm chính: Hà Mạnh Tuấn
Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 16.3.2021
FACTORSAFFECTING THE SAFEAND EFFECTIVE
USE OF VANCOMYCIN IN TREATMENT OF
SEVERE INFECTIONS IN CHILDREN
Objectives: To investigate the factors affecting
the safe and effective use of vancomycin in the
treatment of severe infections in children. Methods:
Ngày phản biện khoa học: 12.5.2021
Ngày duyệt bài: 21.5.2021
162
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nội trú ban ngày (Daycare) của người cao tuổi tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
khao_sat_nhu_cau_su_dung_dich_vu_cham_soc_suc_khoe_noi_tru_b.pdf

