Khảo sát khả năng ức chế ăn mòn thép CT3 trong môi trường trung tính của các loại “ức chế xanh”

Tạp chí Khoa học và Công nghệ 51 (1) (2013) 123-130  
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG ỨC CHẾ ĂN MÒN THÉP CT3 TRONG  
MÔI TRƯỜNG TRUNG TÍNH CỦA CÁC LOẠI “ỨC CHẾ XANH”  
Trương Thị Thảo1, *, Ngô Thị Hồng Nga1, Vũ Thị Thu Hà2, Lê Quốc Hùng2  
1Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên  
2Viện Hóa học, Viện Hàn lâm KHCNVN, 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội  
Đến Tòa soạn: 12/12/2011; Chấp nhận đăng: 15/3/2013  
TÓM TẮT  
Bài báo này trình bày một số kết quả nghiên cứu khả năng ức chế ăn mòn kim loại cho  
thép CT3 trong môi trường trung tính của dịch chiết lá chè xanh và lá thuốc lá bằng một số  
phương pháp: phương pháp tổn hao khối lượng,đo điện trở phân cực, đo tổng trở điện hóa và  
khảo sát hình thái bề mặt qua chụp ảnh vi mô SEM. Kết quả nghiên cứu bằng các phương pháp  
khác nhau khá phù hợp với nhau. Trong điều kiện thử nghiệm, dịch chiết thuốc lá ở nồng độ 2g/l  
có khả năng bảo vệ ăn mòn tốt nhất, hiệu quả bảo vệ đạt tới 56,90% sau 03 ngày ngâm mẫu  
trong dung dịch nghiên cứu. Phép đo phổ tổng trở và đặc trưng hình thái bề mặt mẫu trên ảnh  
SEM cho thấy có sự hình thành một màng mỏng chất ức chế trên bề mặt kim loại.  
Từ khóa: chất ức chế ăn mòn, dịch chiết chè xanh, dịch chiết thuốc lá, môi trường trung tính,  
thép CT3.  
1. MỞ ĐẦU  
Ăn mòn kim loại là một vấn đề được quan tâm không chỉ bởi các nhà khoa học nghiên cứu  
về điện hoá và vật liệu mà còn là vấn đề rất được quan tâm bởi các nhà sản xuất vật liệu và  
người sử dụng vật liệu. Có nhiều phương pháp được sử dụng để bảo vệ kim loại khỏi bị ăn mòn,  
trong đó sử dụng chất ức chế đã và đang tỏ ra là một phương pháp hữu hiệu. Rất nhiều nghiên  
cứu gần đây trên thế giới đang tập trung vào việc tìm kiếm và thử nghiệm các chất ức chế xanh,  
thân thiện môi trường [1 - 4] cho một số kim loại. Các nghiên cứu của cùng nhóm tác giả cũng  
đã chỉ ra khả năng ức chế ăn mòn thép trong các môi trường khác nhau của dịch chiết một số  
loại cây như chè, cà phê, thuốc lá, bồ kết, đước, ổi, sơn trẩu [5 - 9].  
Tiếp tục các nghiên cứu trong môi trường HCl 1M đã công bố [9], trong nghiên cứu này,  
chúng tôi trình bày một số kết quả thu được khi nghiên cứu khả năng ức chế ăn mòn cho CT3  
trong môi trường điện li trung tính NaCl 3,5 % khi có và không có mặt các loại dịch chiết chè,  
thuốc lá. Một chất ức chế hóa học truyền thống ở các nồng độ khác nhau cũng được khảo sát  
123  
Trương Thị Thảo, Ngô Thị Hồng Nga, Vũ Thị Thu Hà, Lê Quốc Hùng  
nhằm đối chứng với các chất ức chế xanh. Ảnh hưởng của thời gian ngâm mẫu trong môi trường  
có chất ức chế cũng được tiến hành khảo sát bằng một số phương pháp khác nhau.  
2. THỰC NGHIỆM  
2.1. Điều chế dịch chiết và chuẩn bị dung dịch thử nghiệm  
Hình 1. Hình ảnh cây thuốc lá và chè xanh được thu làm mẫu thử nghiệm.  
Quy trình điều chế dịch chiết từ các mẫu thuốc lá, chè xanh được thực hiện như mô tả  
trong [9] của cùng nhóm tác giả. Lá thuốc lá, chè (hình 1) được rửa sạch, phơi khô dưới ánh  
nắng mặt trời rồi xay nhỏ, đem ngâm trong nước cất tại nhiệt độ phòng, sau 15 giờ đem lọc chiết  
lần 1, phần bã đem ngâm tiếp 15 giờ rồi lọc lần 2, phần bã sau đó được ngâm tiếp 15 giờ rồi đem  
lọc. Gom cả 3 phần dịch lọc, đem cô cách thuỷ trên bếp điện đến khi thu được cao chiết đặc sánh  
lại. Cao chiết này được hoà tan trong dung dịch NaCl 3,5 % với nồng độ 20 g/l làm dung dịch  
gốc (hình 2a). Để đảm bảo dịch chiết được tan hoàn toàn, toàn bộ bình dung dịch gốc được đặt  
trong bể rung siêu âm trong 60 phút. Dung dịch nghiên cứu được chuẩn bị từ dung dịch gốc, pha  
bằng dung dịch nền NaCl 3,5 % tới nồng độ nghiên cứu (2 g/l) (hình 2b).  
a
B
Hình 2. Dịch chiết thuốc lá và chè xanh gốc (a) và sau khi pha thành dung dịch làm việc  
trong môi trường khảo sát (b).  
2.2. Chuẩn bị mẫu  
Mẫu thép CT3 có thành phần 97,5 % Fe; 0,021 % C; 0,652 % Si; 1,630 % Mn; 0,197 %  
(P, S, Co, Cu, Al, Nb, Sn) được chế tạo thành hai dạng mẫu (hình 3).  
124  
Khảo sát khả năng ức chế ăn mòn thép CT38 …  
a
b
Hình 3. Mẫu thử nghiệm ăn mòn: a) dùng cho đo điện hóa;  
b) dùng cho phương pháp khối lượng và phân tích bề mặt.  
Một là mẫu tròn đường kính 1cm được chế thành điện cực làm việc trong các phép thử  
nghiệm điện hoá (hình 3a). Các điện cực trước khi làm việc được mài bằng giấy nhám từ thô đến  
mịn, rửa sạch, tẩy dầu mỡ, thấm ướt hoàn toàn rồi làm khô trước khi đặt vào dung dịch nghiên  
cứu.  
Hai là mẫu vuông 50 mm × 50 mm × 2 mm (hình 3b) dùng trong thử nghiệm theo phương  
pháp trọng lượng và phân tích bề mặt sau thời gian thử nghiệm. Các mẫu này được tẩy dầu mỡ,  
tẩy gỉ hoá học, rửa sạch, làm khô, bảo quản trong bình hút ẩm 24 giờ trước khi làm việc.  
2.3. Đo đạc  
Thử nghiệm trọng lượng được bắt đầu bằng việc đo lại chính xác kích thước mẫu (tính  
diện tích S) và cân mẫu bằng cân 04 số xác định khối lượng mẫu trước thử nghiệm (mt) trước  
khi đặt vào dung dịch thử nghiệm. Sau một thời gian thử nghiệm (t) mẫu lấy ra rửa sạch, tẩy gỉ  
hoá học, làm khô và bảo quản trong bình hút ẩm 24 giờ trước khi cân lại xác định khối lượng  
mẫu còn lại sau thời gian thử nghiệm (ms). Tốc độ ăn mòn được xác định theo công thức:  
mt − ms  
v =  
(g/cm2.ngày)  
S.t  
Các phép đo điện hoá được thực hiện trên máy PGS-HH5 chế tạo tại Viện Hoá học, Viện  
KH&CN Việt Nam với hệ 3 điện cực: Điện cực làm việc WE là điện cực chế tạo từ vật liệu  
nghiên cứu, điện cực đối là điện cực Ag/AgCl trong KCl bão hoà, điện cực đối là thép không gỉ  
có diện tích lớn. Các phép đo bao gồm đo điện thế mạch hở (Ur), đo điện trở phân cực (xung  
quanh khoảng thế Ur 25 mV, tốc độ quét 1mV/s), đo đường cong phân cực (khoảng thế -630  
mV đến -320 mV, tốc độ quét 5 mV/s).  
Tổng trở điện hoá EIS được tiến hành trên máy PAR START 2273 tại Viện Khoa học vật  
liệu, Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam với hệ 3 điện cực như đo điện hóa ở trên. Chế độ đo: thời  
gian ổn định 10 phút, đo trong dải tần số 10 kHz đến 5 mHz, 7 điểm /decade.  
Kĩ thuật chụp SEM được hành trên máy JEOL 6490 của Trung tâm Đánh giá hư hỏng Vật  
liệu, Viện Khoa học vật liệu, Viện KH&CN Việt Nam.  
Các thử nghiệm được tiến hành theo thời gian ngâm mẫu trong dung dịch 1 giờ, 5 giờ, 1  
ngày, 3 ngày, 6 ngày và 10 ngày. Mỗi phép thử nghiệm gồm 3 mẫu và lấy kết quả trung bình.  
125  
Trương Thị Thảo, Ngô Thị Hồng Nga, Vũ Thị Thu Hà, Lê Quốc Hùng  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Kết quả thử nghiệm ăn mòn theo phương pháp trọng lượng  
Bảng 1. Tốc độ ăn mòn thép CT3 trong môi trường muối NaCl 3,5 %  
có và không có mặt chất ức chế theo thời gian ngâm.  
Thời gian  
1 ngày  
Vtb  
(g/cm2.ngày)  
3 ngày  
Vtb  
6 ngày  
Vtb  
10 ngày  
Vtb  
Môi trường  
Hiệu  
suất  
(%)  
Hiệu  
suất  
(%)  
Hiệu  
suất  
(%)  
Hiệu  
suất  
(%)  
(g/cm2.ngày)  
(g/cm2.ngày)  
(g/cm2.ngày)  
NaCl 3,5 % (nền) 1.6983.10-4  
-
1.4793.10-4  
1.0264.10-4  
-
1.1045.10-4  
Nền + DCC  
1.4721.10-4 13,32 8.1516.10-5 44,90 5.2914.10-5 48,45 7.5240.10-5 31,88  
1.2238.10-4 27,94 2.5304.10-5 82,89 4.7162.10-5 54,05 3.9728.10-5 64,03  
Nền + DCTla  
Nền + KNO2  
0,1%  
39,82  
38,91  
11,42  
10,07  
1.0221.10-4  
9.0373.10-5  
9.0921.10-5  
9.8637.10-5  
Từ bảng 1 ta thấy, theo thời gian, tốc độ ăn mòn thép nói chung giảm dần, tuy nhiên trong  
môi trường NaCl 3,5 % khi có mặt chất ức chế (Dịch chiết chè Thái Nguyên 2g/l(DCC), dịch  
chiết thuốc lá 2 g/l (DCTla) hoặc KNO2 0,1 % (K)) thì tốc độ ăn mòn giảm đi, hiệu suất bảo vệ  
của dịch chiết chè và thuốc lá khá cao ở khoảng thời gian ngâm 3 dến 10 ngày, trong đó hiệu  
suất bảo vệ của DCTla cao nhất đạt được ở thời gian ngâm 3 ngày đạt 82,89 %, KNO2 đạt hiệu  
quả bảo vệ gần 40 % ở thời gian đầu nhưng giảm khi thời gian kéo dài tới 6 và 10 ngày. Khả  
năng bảo vệ thép của DCTla nói chung tốt hơn.  
3.2. Kết quả thử nghiệm theo phương pháp đo điện hóa  
Bảng 2. Kết quả thử nghiệm ăn mòn thép CT3 theo thời gian  
trong các môi trường khác nhau theo phương pháp điện trở phân cực.  
Thời  
gian  
Môi trường  
Ur(V)  
R(Ω)  
V
Hiệu suất bảo  
vệ (R) %  
(mm/năm)  
1 giờ NaCl 3,5% (nền)  
Nền+DCC 2g/l  
-0,7675  
-0,7781  
-0,7532  
-0,4879  
-0,7972  
-0,7890  
-0,6431  
-0,4175  
-0,7137  
-0,7589  
951,1862  
7,0680  
2,4023  
5,2340  
3,2126  
5,2720  
5,0837  
4,4598  
4,1259  
5,9043  
4,8398  
1323,8322  
1291,9724  
2089,0760  
1277,8660  
1325,9300  
1507,8177  
1633,3713  
1141,3247  
1387,0094  
28,15  
26,38  
54,45  
-
Nền+DCTla 2g/l  
Nền+KNO2 0,1%  
5 giờ NaCl 3,5% (nền)  
Nền+ DCC 2g/l  
3,62  
15,25  
21,77  
Nền+ DCTla 2g/l  
Nền+KNO2 0,1%  
1
ngày  
NaCl 3,5% (nền)  
Nền+ DCC 2g/l  
17,71  
126  
Khảo sát khả năng ức chế ăn mòn thép CT38 …  
Nền + DCTla 2 g/l  
Nền + KNO2 0,1 %  
NaCl 3,5 % (nền)  
Nền + DCC 2 g/l  
Nền + DCTla 2 g/l  
Nền + KNO2 0,1 %  
NaCl 3,5 % (nền)  
Nền + DCC 2 g/l  
Nền + DCTla 2 g/l  
Nền + KNO2 0,1 %  
NaCl 3,5 % (nền)  
Nền + DCC 2 g/l  
Nền + DCTla 2 g/l  
Nền + KNO2 0,1 %  
-0,7475  
-0,6182  
-0,7452  
-0,7339  
-0,7640  
-0,6367  
-0,7213  
-0,7547  
-0,7704  
-0,4543  
-0,7010  
-0,7361  
-0,7534  
-0,4512  
2097,9805  
1722,0327  
1142,0179  
1903,2922  
2649,3964  
1311,9882  
1066,0339  
1559,0091  
1666,9370  
1319,8407  
1007,5058  
1487,6825  
1266,1915  
1454,9050  
3,2034  
3,8954  
6,1987  
1,0912  
2,5506  
5,1447  
6,3030  
4,3038  
4,0239  
5,1317  
6,6592  
4,5393  
5,3013  
4,6103  
45,60  
33,72  
-
3
ngày  
40,00  
56,90  
12,96  
-
6
ngày  
31,62  
36,05  
19,23  
-
10  
ngày  
32,28  
20,43  
30,78  
Từ bảng 2 có thể thấy rằng, theo phương pháp điện trở phân cực, khi không có mặt chất ức  
chế thì điện trở tăng dần từ 1 giờ ngâm đến 5 giờ ngâm rồi giảm dần theo thời gian ngâm đến 10  
ngày, từ ngày ngâm thứ 1 đến ngày thứ 10 điện trở thay đổi không đáng kể chứng tỏ tốc độ ăn  
mòn cũng ổn định dần theo thời gian, điện trở nhỏ nhất là sau 1 giờ ngâm chứng tỏ tốc độ ăn  
mòn mạnh nhất là ngay sau khi ngâm mẫu. Khi có mặt chất ức chế thì điện trở điện cực tăng  
đáng kể. Với DCC, điện trở tăng mạnh từ 1 giờ ngâm đến 3 ngày rồi giảm dần, từ ngày ngâm  
thứ 3 đến ngày thứ 10, điện trở điện cực cũng thay đổi không đáng kể, hiệu suất bảo vệ thấp nhất  
là 3,62 % (5 giờ), cao nhất là 40 % (sau 3 ngày). Với DCTla thì điện trở điện cực tăng mạnh  
hơn khi có mặt DCC, hiệu suất bảo vệ cao nhất đạt được cũng sau 3 ngày ngâm mẫu (56,90 %).  
Còn KNO2 đạt hiệu quả bảo vệ cao nhất ngay sau 1 giờ ngâm, khi thời gian kéo dài thì hiệu quả  
giảm. Như vậy, kết quả của hai phương pháp này có sự tương thích và đều cho thấy một dấu  
hiệu chung là DCC và DCTla có khả năng ức chế ăn mòn cho CT3 trong môi trường NaCl 3,5  
%, trong đó DCTla tốt hơn, hiệu quả bảo vệ có những thời điểm còn cao hơn so KNO2 0,1 %.  
Phép đo theo phương pháp phổ tổng trở thu được kết quả thể hiện trên hình 4 cũng cho  
thấy, theo phương pháp này điện trở điện cực CT3 trong môi trường NaCl 3,5 % có mặt DCC,  
DCTla và muối KNO2 tăng mạnh so với khi không có chất ức chế.  
Từ hình 4a ta thấy: Giá trị tổng trở đo được tăng đáng kể sau 1 giờ ngâm, phổ tổng trở gần  
như không thay đổi ở 5 giờ, 1 ngày và 3 ngày ngâm sau đó giảm nhiều và cũng gần như không  
khác nhau ở 6 và 10 ngày ngâm, điều này cho thấy tốc độ ăn mòn mạnh nhất ở giai đoạn đầu khi  
cho mẫu vào môi trường còn sau đó khá ổn định.  
127  
Trương Thị Thảo, Ngô Thị Hồng Nga, Vũ Thị Thu Hà, Lê Quốc Hùng  
Nyquis
EISM58NaClche1h  
Nyquist (Def)  
EIS-M69-NaClnen-1h  
(Ovl) EISM58NaClche5h  
(Ovl) EIS-M69-NaClnen-5h  
(Ovl) EISM58NaClche1ng  
(Ovl) EIS-M69-NaClnen-1ng  
(Ovl) EIS-M10-NaCl+DCChe-3ng  
(Ovl) EIS-M68-NaClnen-3ng  
4000  
3000  
2000  
1000  
0
(Ovl) EIS-M10-NaCl+DCChe-7ng  
(Ovl) EIS-M10-NaCl+DCChe-10ng  
700  
600  
500  
400  
300  
200  
100  
0
(Ovl) EIS-M69-NaClnen-7ng  
(Ovl) EIS-M56-NaClnen-10ng  
0
1000  
2000  
3000  
4000  
5000  
6000  
7000  
0
100 200 300 400 500 600 700 800 900 1000 1100 1200  
Zre (ohms)  
Zre (ohms)  
a - NaCl 3,5 %  
b - NaCl 3,5 % + DCC 2 g/l  
Nyquist (Def)  
EIS-M61-NaCl+KNO2-1h  
Nyquist
EISM99NaClTla1h  
(Ovl) EIS-M61-NaCl+KNO2-5h  
(Ovl) EISM99NaClTla5h  
(Ovl) EIS-M61-NaCl+KNO2-1ng  
(Ovl) EIS-M61-NaCl+KNO2-3ng  
(Ovl) EIS-M61-NaCl+KNO2-7ng  
(Ovl) EIS-M61-NaCl+KNO2-10ng  
(Ovl) EISM99NaClTla1ng  
(Ovl) EISM99NaClTla3ng  
(Ovl) EISM99NaClTla6ng  
(Ovl) EIS-M75-NaCl+DCTla-10ng  
6000  
5000  
4000  
3000  
2000  
1000  
0
3000  
2000  
1000  
0
0
1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000 8000 9000 10000  
Zre (ohms)  
0
1000  
2000  
3000  
4000  
5000  
Zre (ohms)  
c - NaCl 3,5% + DCTla 2g/l  
d - NaCl 3,5% + KNO2 0,1%  
Hình 4. Phổ tổng trở của CT3 trong môi trường NaCl 3,5 % có và không có mặt các chất ức  
chế theo thời gian thử nghiệm.  
Trên hình 4b, khi môi trường NaCl 3,5 % có mặt DCC thì giá trị tổng trở tăng mạnh so với  
khi không có mặt dịch chiết, giá trị tổng trở cũng tăng từ 1h ngâm đến khi ổn định ở 5h, 1 ngày  
và 3 ngày ngâm, khi thời gian ngâm lên tới 6 và 10 ngày thì dạng phổ thay đổi rõ rệt, phổ có giá  
trị tổng trở tăng mạnh nhưng phổ đồ có dạng bị nén chứng tỏ lớp màng đã mất tính ổn định làm  
cho dung dịch khuếch tán xuống dưới lớp màng gây ra ăn mòn dưới lớp phủ và có thể tạo ra các  
lớp sản phẩm ăn mòn, do đó phổ đồ có dạng nhiều cung chồng lên nhau.  
Đối với mẫu trong dung dịch NaCl 3,5 % có mặt DCTla 2 g/l (hình 4c), phổ đồ đều chỉ có  
một cung bán nguyệt lí tưởng, tổng trở tăng dần từ 1h ngâm đến 3 ngày rồi giảm nhẹ tới 10 ngày  
chứng tỏ dịch chiết thuốc lá có thể đã hấp phụ tạo dần một lớp màng vững chắc trên bề mặt thép  
mà dung dịch không thấm qua được. Tuy nhiên sau thời điểm ngâm 3 ngày có thể do nồng độ  
dung dịch đã thay đổi theo thời gian (giảm đi), giá trị tổng trở thu được cao hơn so với mẫu đo  
trong dung dịch có mặt DCC.  
Trên hình 4d, dung dịch NaCl 3,5 % có mặt KNO2 0,1 % thì phổ đồ lại cho thấy giá trị  
tổng trở tăng rất mạnh so với dung dịch nền và nền có dịch chiết, dạng phồ đồ cho thấy khả năng  
ngăn cách bề mặt thép với môi trường là rất tốt. Tuy nhiên, kết quả này không hoàn toàn đồng  
nhất với các phương pháp trọng lượng và đo điện trở phân cực.  
128  
Khảo sát khả năng ức chế ăn mòn thép CT38 …  
Kết hợp các phương pháp trên với các phép phân tích hình thái và thành phần hoá học bề  
mặt thép. Quan sát trên các ảnh SEM với đội phóng đại lớn (200 lần) (hình 5) ta thấy: trong  
dung dịch không có chất ức chế, bề mặt thép được phủ một lớp sản phẩm ăn mòn nhưng bị nứt  
lớn, gồ ghề và nhiều điểm bị sùi lên (Các trung tâm ăn mòn mạnh, hình 5a), khi môi trường có  
dịch chiết chè (hình 5b) thì lớp phủ đồng đều hơn và không có các điểm sùi, khi có mặt dịch  
chiết thuốc lá (hình 5c) thì bề mặt ráp nhưng đồng đều và không có các tâm ăn mòn.  
a
b
c
Hình 5. Bề mặt CT3 trong môi trường NaCl 3,5 % sau khi ngâm 3 ngày không có chất ức chế(a),  
có mặt dịch chè 2 g/l (b), thuốc lá 2 g/l (c).  
4. KẾT LUẬN  
Các kết quả thu được từ các phương pháp khảo sát khác nhau như phương pháp khối lượng,  
đo đường điện trở phân cực, phương pháp tổng trở và SEM chứng tỏ dịch chiết chè và thuốc lá  
ở Thái Nguyên có khả năng tạo màng che chắn bảo vệ hạn chế ăn mòn cho bề mặt thép CT3  
trong môi trường NaCl 3,5%.  
Các kết quả đo đạc cho thấy hiệu quả ức chế ăn mòn thép CT3 trong môi trường này của  
dịch chiết thuốc lá là tốt nhất, kết quả thu được từ các phương pháp khảo sát khác nhau đều cho  
hiệu quả bảo vệ của các loại ức chế nghiên cứu đạt cao nhất sau 3 ngày ngâm.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Abdel-Gaber A. M., Abd-El Nabey B. A, Khamis E., and Abd El-khalek D. E. - Novel  
Environmentally Friendly Plant Extract as Anti-scale and Corrosion, The 24th Annual  
Conference Corrosion Problems In Industry Egyp, 5-8 December 2005.  
2. El-Etry A. Y., Dallah M. Ab., l-Tantawy Z. E.- Corrosion inhibition of some metals using  
lawsonia extract, Corrosion Science 47 (2005) 385-395.  
3. Orubite K. O., Oforka N. C. - Inhibition of the corrosion of mild steel in hydrochloric acid  
so lutions by the extracts of leaves of Nypa fruticans Wurb 58 (2004) 1768-1772.  
4. Okafor P.C., Ikpi M.I., Uwah I.E., Ebenso E.E., Ekpe U.J., Umoren S.A. – Inhibitory  
action of Phyllanthus amarus on the corrosion of mild steel in acidic medium, Corrosion  
Science 50 (8) (2008) 2310-2317  
129  
Trương Thị Thảo, Ngô Thị Hồng Nga, Vũ Thị Thu Hà, Lê Quốc Hùng  
5. Giang P. T., Ha V. T. T. and Hung L. Q. - Screening Vietnamese natural products for new  
environmentally friendly materials for corrosion protection, International scientific  
conference on ‘Chemistry for Developmant and Integration’, Hanoi, 2008, pp. 977-985.  
6. Phong P. H., Ha V. T. T. and Hung L. Q. - Investigation of Rhizophora xtract-a nem  
natural product used for corrosion inhibition of carbon steel, International scientific  
conference on ‘Chemistry for Developmant and Integration’, Hanoi, 2008, pp. 895-901.  
7. Vu Thi Thu Ha, Giang P. T., Phong P. H., and Hung L. Q. - Electrochemical behaviour of  
Artemisia as corrosion inhibitor of iron in aqueous media, Journal of chemistry 47 (6B)  
(2009) 62-72.  
8. Thao T. T., Tuan D. T., Ha V. T. T., and Hung L. Q. - Evaluation of Extracts of Thai  
Nguyen Green Tea as Environmentally Friendly Corrosion Inhibitors for metal,  
International scientific conference on ‘Chemistry for Developmant and Integration’,  
Hanoi, 2008, pp. 859-866.  
9. Trương Thị Thảo, Vũ Thị Thu Hà, Lê Quốc Hùng - Đánh giá khả năng ức chế ăn mòn  
thép CT3 bằng dịch chiết chè xanh Thái Nguyên trong môi trường HCl 1 M, Tạp chí Hóa  
học 49 (2ABC) (2011) 815-820.  
ABSTRACT  
INVESTIGATION OF CORROSION INHIBITION FOR CT3 STEEL IN NEUTRAL  
ENVIRONMENT OF SOME “GREEN INHIBITORS”  
Truong Thi Thao1,*, Ngo Thi Hong Nga1, Vu Thi Thu Ha2, Le Quoc Hung2  
1University of Sciences, ThaiNguyen University  
2Institute of Chemistry, VAST, 18 Hoang Quoc Viet, Cau Giay, Hanoi, Vietnam  
The protective efficiencies of inhibitors extracted from tobacco and green tea leaves on  
CT3 corrosion are presented. Using three different techniques: polarization curves, impedance  
measurement and weight loss, the results showed that extract from tobacco behaves the best  
protective capability for corrosion of CT3 in 3.5 % sodium chloride at concentration of 2.0 g/L.  
It reaches to 56.90 % after 3 days exposured in studied solution. EIS characterization and  
morphological charactrization (SEM) of the sample surface indicated the information of  
inhibitor films created in during the study. There is an agreement between methods used for  
corrosion study in this research.  
Keywords: green corrosion inhibitor, green tea extract, tobacco extract, neutral invenronment,  
CT3 steel.  
130  
pdf 8 trang yennguyen 16200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát khả năng ức chế ăn mòn thép CT3 trong môi trường trung tính của các loại “ức chế xanh”", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_kha_nang_uc_che_an_mon_thep_ct3_trong_moi_truong_tr.pdf