IAS 41 - Nông nghiệp và những vấn đề đặt ra cho kế toán nông nghiệp của Việt Nam hiện nay
IAS 41 - NÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
CHO KẾ TOÁN NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
Đoàn Vân Anh
Trường Đại học Thương mại
Email: doanvananhtm@gmail.com
Ngày nhận: 19/03/2019
Ngày nhận lại: 05/04/2019
Ngày duyêt đăng: 14/04/2019
iệt Nam là đất nước nông nghiệp với đa dạng các loại hoạt động nông nghiệp, tuy nhiên những
khuôn mẫu kế toán hiện nay của Việt Nam chỉ đặt trọng tâm cho các doanh nghiệp hoạt động sản
V
xuất kinh doanh trong các lĩnh vực thương mại, sản xuất, dịch vụ, xây lắp nói chung, gần như chưa có những
khuôn mẫu về kế toán trong hoạt động nông nghiệp, những nội dung đã có thì quá sơ sài và không phù hợp
với khuôn mẫu chung của quốc tế về kế toán nông nghiệp. Hệ quả là việc xử lý, ghi nhận và trình bày thông
tin không đảm bảo tính trung thực, đúng đắn, phù hợp với đối tượng kế toán là các tài sản sinh học, sản
phẩm nông nghiệp cũng như tình hình và kết quả của quá trình hoạt động nông nghiệp của các doanh
nghiệp nông nghiệp Việt Nam.
Từ khóa: IAS 41, kế toán nông nghiệp.
1. Tổng quan nghiên cứu về kế toán nông
nghiệp ở Việt Nam
quản lý tài chính. Nghiên cứu của Ngô Chí Giang
“Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
chăn nuôi gia cầm tại Công ty Cổ phẩn Phát triển
Công nghệ Nông thôn”, luận văn đã giải quyết được
vấn đề bất cập trong công tác kế toán chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm chăn nuôi gia cầm tại
Công ty Cổ phẩn Phát triển Công nghệ Nông thôn
bằng các đề xuất liên quan đến những xử lý về kế
toán đối với chi phí sản xuất giai đoạn chăn nuôi đàn
gà bố mẹ trong thời kỳ hậu bị và đàn bố mẹ sau khi
kết thúc giai đoạn hậu bị cũng như kế toán tập hợp
chi phí sản xuất giai đoạn gia công gà thương phẩm.
Các đề xuất này đều dựa trên khuôn mẫu của chuẩn
mực kế toán Việt Nam số 02 “Tồn kho” nên chưa
thực sự giải quyết được vấn đề một cách khoa học.
Nghiên cứu của Thái Thị Thái Nguyên “Kế toán chi
phí sản xuất và giá thành sản phẩm gia súc tại các
doanh nghiệp chăn nuôi ở Miền Bắc”, đây là nghiên
cứu tính thời sự hơn cả vì cũng đã tiếp cận đến quy
định khuôn mẫu của quốc tế IAS 41 “Nông nghiệp”
và được nghiên cứu cụ thể trong hoạt động chăn
nuôi gia súc, tuy nhiên các đề xuất hoàn thiện của
luận án vẫn dựa trên mô hình giá gốc để giải quyết
Về nghiên cứu kế toán trong lĩnh vực nông
nghiệp, đến nay có thể không nhiều các nghiên cứu
đã công bố liên quan đến lĩnh vực này. Các nghiên
cứu đã công bố cũng chỉ tập trung chủ yếu cho chi
phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong nông
nghiệp, có thể hệ thống các nghiên cứu đã công bố
ở Việt Nam về vấn đề này như sau: Nghiên cứu của
Nguyễn Quốc Thái “Hạch toán chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm ở các hợp tác xã nông nghiệp”
nghiên cứu CFSX và giá thành sản phẩm nói chung
ở khách thể nghiên cứu là các HTX nhỏ lẻ áp dụng
theo hình thức khoán hộ thực hiện theo mô hình hợp
tác xã; nghiên cứu của Đoàn Đình Thiêm “Hoàn
thiện hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm chăn nuôi trong các doanh nghiệp nhà nước”
tập trung vào nghiên cứu hoạt động chăn nuôi gia
súc là lợn và bò ở các doanh nghiệp thuộc sở hữu
nhà nước. Các nghiên cứu này được thực hiện dựa
trên nền của chế độ kế toán hiện đã không còn hiệu
lực về pháp lý và khách thể nghiên cứu cũng đã có
quá nhiều thay đổi về cơ chế vận hành cũng như
khoa học
ꢀ
thương mại
63
Sè 128/2019
63
Ý KIẾN TRAO ĐỔI
trong hầu hết các vấn đề. Nghiên cứu của ThS. có thể thấy các nghiên cứu thường chỉ tập trung cho
Hoàng Thụy Diệu Linh “Kế toán trong lĩnh vực hoạt động sản xuất trong nông nghiệp và dựa trên
trồng trọt, khác biệt giữa Việt Nam và Quốc tế”, nền tảng của nguyên tắc kế toán “giá gốc”, các
trong nghiên cứu này đã tổng hợp các khái niệm của nghiên cứu hoặc đã quá lỗi thời hoặc ít có tính kế
chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) về nông nghiệp thừa trong nghiên cứu này vì không tập trung giải
(NN), tổng hợp một số các hướng dẫn kế toán của quyết vấn đề khuôn mẫu nhằm hội nhập, hội tụ cao
Việt Nam trong lĩnh vực trồng trọt, so sánh các quy với quốc tế trong kế toán nông nghiệp hoặc nghiên
định hiện hành với khuôn mẫu quốc tế và đưa ra các cứu mới chỉ dừng lại ở việc nêu vấn đề. Việc nghiên
giải pháp cho kế toán hoạt động trồng trọt ở Việt cứu chuẩn mực kế toán IAS 41 “Nông nghiệp”,
Nam trên cơ sở đề xuất Việt Nam cần ban hành đồng thời nghiên cứu những quy định hiện hành của
chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” và cần phải sửa Việt Nam về kế toán nông nghiệp nói chung, từ đó
đổi quy định của Thông tư 200/2014 phù hợp với xu thấy được những tồn tại trong kế toán Việt Nam hiện
hướng quốc tế. Tuy nhiên nghiên cứu này được thực nay, hiểu được những vấn đề đặt ra, cần hoàn thiện
hiện ở cấp độ cần phân loại cây trồng thành cây cho kế toán nông nghiệp ở Việt Nam là hoàn toàn
mang sản phẩm (bao gồm cây lâu năm và cây trồng cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
một lần thu hoạch nhiều lần) và cây để tiêu thụ (cây
2. Khái quát về chuẩn mực kế toán quốc tế số
ngắn ngày), bài viết chưa rõ những giải pháp cụ thể 41 “Nông nghiệp”
gì cho kế toán nông nghiệp Việt Nam.
Chuẩn mực kế toán Quốc tế số 41 “Nông
Nghiên cứu trên góc độ tổ chức thì có nghiên cứu nghiệp” (IAS 41) được ban hành lần đầu bởi Ủy ban
của NCS Nguyễn Quốc Thắng, ĐHKTQT-2011 “Tổ chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) vào năm 2000,
chức kế toán quản trị chi phí, giá thành sản phẩm chuẩn mực kế toán này được đưa vào áp dụng tháng
trong doanh nghiệp thuộc ngành giống cây trồng 1 năm 2003. Mục đích của chuẩn mực này là đưa ra
Việt Nam”, đây là nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực các quy định phương pháp kế toán và trình bày
cây trồng, dưới góc độ tổ chức kế toán quản trị nên thông tin liên quan đến hoạt động nông nghiệp.
cũng không gắn với việc nghiên cứu khuôn mẫu Chuẩn mực này áp dụng để hạch toán các khoản liên
chung của kế toán nông nghiệp.
quan đến hoạt động nông nghiệp là tài sản sinh học,
Trong chương trình hội thảo về chủ đề “Thực sản phẩm nông nghiệp vào thời điểm thu hoạch và
trạng, kinh nghiệm quốc tế và lộ trình áp dụng IFRS trợ cấp của Chính phủ liên quan đến tài sản sinh học.
tại Việt Nam” do Bộ Tài chính tổ chức vào
Chuẩn mực này áp dụng cho các khoản mục liên
22/2/2019 tại Hà Nội, Cục Quản lý giám sát Kế toán quan đến hoạt động nông nghiệp gồm tài sản sinh
kiểm toán của Bộ tài chính trong “Báo cáo tổng hợp học; nông sản tại thời điểm thu hoạch; và trợ cấp
sự khác biệt cơ bản giữa chuẩn mực kế toán Việt chính phủ. Chuẩn mực này áp dụng cho sản phẩm
Nam, cơ chế tài chính và chuẩn mực báo cáo tài nông nghiệp được thu hoạch từ tài sản sinh học của
chính quốc tế IFRS” đã tóm tắt sự khác biệt về doanh nghiệp và chỉ tại thời điểm thu hoạch.
phương pháp ghi nhận đối với
(1) Taøi saûn sinh hoïc
(2) Saûn phaåm sinh hoïc
Söõa
(3) SF cheá bieán
Phomai
tài sản sinh học giữa Việt Nam
và quốc tế, từ đó nêu ra sự cần
thiết Việt Nam phải ban hành
chuẩn kế toán này để giúp các
doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực nông nghiệp phản
Boø
Heo
Caây cao su
Caây nho
Thòt heo
Muû cao su
Traùi nho
Xuùc xích
Goã
Röôïu nho
ánh đầy đủ, trung thực tài sản của mình theo thông
Phạm vi của IAS 41 điều chỉnh cho các đối
lệ quốc tế. Tuy nhiên, báo cáo này cũng chỉ dừng lại tượng thuộc (1) và (2); còn (3) thuộc đối tượng điều
ở việc nêu vấn đề có tính định hướng mở đường cho chỉnh của chuẩn mực kế toán khác liên quan như
Việt Nam ban hành chuẩn mực kế toán “Nông chuẩn mực tồn kho,…
nghiệp” trong tương lai.
Trong đó:
Từ những nghiên cứu tổng quan về các nghiên
Hoạt động nông nghiệp là hoạt động quản lý bởi
cứu đã công bố liên quan đến kế toán nông nghiệp, một doanh nghiệp trong lĩnh vực biến đổi sinh học
khoa học
ꢀ
thương mại
64
Sè 128/2019
Ý KIẾN TRAO ĐỔI
và thu hoạch tài sản sinh học để bán hoặc chuyển tài sản sinh học được đánh giá theo giá trị hợp lý trừ
đổi thành sản phẩm nông nghiệp hoặc chuyển thành chi phí để bán. Lãi hoặc lỗ phát sinh tại thời điểm ghi
tài sản sinh học phụ
nhận ban đầu và sau ghi nhận ban đầu được ghi nhận
Sản phẩm nông nghiệp là sản phẩm được thu vào Báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ.
hoạch từ tài sản sinh học của doanh nghiệp.
- Sản phẩm nông nghiệp được ghi nhận ban đầu
Thu hoạch là việc tách sản phẩm khỏi tài sản theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí để bán. Sau thời
sinh học hoặc chấm dứt chu trình sống của sản phẩm điểm thu hoạch, sản phẩm nông nghiệp sẽ được xác
sinh học.
định theo các chuẩn mực kế toán liên quan tùy thuộc
Tài sản sinh học là vật nuôi và cây trồng còn sống. vào việc phân loại chúng như thế nào. Lãi hoặc lỗ
Nhóm tài sản sinh học là một tập hợp các cây phát sinh tại thời điểm ghi nhận ban đầu của sản
trồng và vật nuôi tương tự nhau và còn sống
phẩm nông nghiệp được ghi nhận vào Báo cáo kết
Biến đổi sinh học bao gồm các quá trình tăng quả kinh doanh trong kỳ.
trưởng, suy thoái, sản xuất và sinh sản mà tạo ra các
Trong đó, Chi phí bán hàng là chi phí phát sinh
thay đổi về chất lượng hoặc số lượng trong tài sản liên quan trực tiếp đến việc đưa sản phẩm đến tay
sinh học.
người mua, không bao gồm chi phí tài chính và thuế
Hoạt động nông nghiệp bao gồm nhiều hoạt động thu nhập. Giá trị hợp lý là giá sẽ nhận được khi bán
khác nhau, như chăn nuôi, trồng rừng, trồng cây một tài sản hoặc được thanh toán một khoản nợ
hàng năm hay lâu năm, trồng cây ăn quả và cây công phải trả trong một giao dịch có trật tự giữa các
nghiệp, trồng hoa, nuôi trồng thủy sản. Các hoạt thành phần tham gia thị trường tại ngày xác định.
động nông nghiệp này có 3 đặc điểm cơ bản, đó là:
Thứ ba, về đo lường giá trị hợp lý của tài sản
Khả năng thay đổi: Động vật sống và thực vật có sinh học và sản phẩm nông nghiệp
khả năng biến đổi về mặt sinh học như lớn lên, sản
sinh ra động vật hay cây trái
Việc xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học
hay sản phẩm nông nghiệp có thể được thực hiện
Quản lý sự thay đổi: Doanh nghiệp phải chủ bằng cách gộp những tài sản sinh học hay sản phẩm
động quản lý được sự thay đổi của các tài sản sinh nông nghiệp theo nhóm căn cứ vào các thuộc tính
học. Việc quản lý tạo ra sự biến đổi về mặt sinh học, quan trọng của tài sản sinh học hay sản phẩm nông
ổn định và tạo các điều kiện cần thiết cho quá trình nghiệp đó; ví dụ như, căn cứ vào tuổi hay chất
biến đổi sinh học diễn ra.
lượng. Doanh nghiệp lựa chọn các thuộc tính phù
Đo lường được sự thay đổi: Doanh nghiệp phải hợp với các thuộc tính được sử dụng trên thị trường
giám sát và đo lường được sự thay đổi về chất lượng làm cơ sở định giá. Các hợp đồng bán các tài sản
hoặc số lượng phát sinh do quá trình biến đổi sinh sinh học hoặc sản phẩm nông nghiệp tại một ngày
học hoặc hoạt động thu hoạch diễn ra trong kì.
Nội dung cốt lõi của chuẩn mực kế toán này quy xác định giá trị hợp lý bởi giá trị hợp lý phản ánh các
định 5 vấn đề cơ bản sau:
điều kiện thị trường hiện tại. Nếu tồn tại thị trường
Thứ nhất, về điều kiện ghi nhận tài sản sinh học hoạt động của các tài sản sinh học và sản phẩm nông
và sản phẩm nông nghiệp
nghiệp, tại địa điểm và điều kiện hiện tại, giá niêm
Việc ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông yết trên thị trường là căn cứ thích hợp để xác định
nghiệp khi thỏa mãn đồng thời 3 tiêu chuẩn sau:
giá trị hợp lý cho loại tài sản này. Nếu thị trường
- Doanh nghiệp phải có quyền kiểm soát tài sản hoạt động không tồn tại, doanh nghiệp sử dụng giá
từ một kết quả của sự kiện trong quá khứ
giao dịch gần nhất hoặc giá thị trường của tài sản
- Doanh nghiệp có khả năng thu được lợi ích tương tự với điều chỉnh phù hợp để xác định giá trị
trong tương lai thì giá hợp đồng không là căn cứ để
kinh tế trong tương lai liên quan đến tài sản
- Xác định giá trị hợp lý hoặc nguyên giá của tài
sản một cách tin cậy.
hợp lý.
Ngoài ra, chi phí trong một vài trường hợp có thể
dùng để xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học
Thứ hai, về nguyên tắc ghi nhận ban đầu tài sản hoặc sản phẩm nông nghiệp, cụ thể khi:
sinh học và sản phẩm nông nghiệp
(a) Khi có sự biến đổi sinh học rất ít kể từ khi
- Tài sản sinh học được ghi nhận ban đầu theo giá phát sinh chi phí ban đầu - như cây ăn quả được
trị hợp lý trừ đi chi phí để bán. Sau ghi nhận ban đầu, trồng ngay trước thời điểm kết thúc kỳ báo cáo.
khoa học
ꢀ
thương mại
65
Sè 128/2019
Ý KIẾN TRAO ĐỔI
(b) Khi tác động của biến đổi sinh học đến giá trên BCĐKT, thông tin về tổng lãi, lỗ phát sinh trong
được coi là không trọng yếu - như thời kỳ tăng trưởng kỳ hiện hành khi ghi nhận ban đầu của các tài sản
đầu của những cây được trồng có vòng đời dài.
sinh học và sản phẩm nông nghiệp và khi có sự thay
Đối với các tài sản sinh học gắn liền với đất, ví đổi trong giá trị hợp lý trừ chi phí để bán của tài sản
dụ như cây trồng sinh trưởng trên cánh đồng, khi sinh học.
không có thị trường riêng biệt cho tài sản sinh học
3. Khuôn mẫu kế toán và những bất cập
gắn liền với đất, có thể tồn tại một thị trường năng hiện nay trong lĩnh vực kế toán nông nghiệp
động cho nhóm tài sản, tức là cho tài sản sinh học, của Việt Nam
đất và công tác cải tạo đất. Trong trường hợp này,
Nghiên cứu những quy định mang tính khuôn
doanh nghiệp có thể sử dụng thông tin về nhóm tài mẫu của Việt Nam trong lĩnh vực kế toán nông
sản để xác định giá trị hợp lý cho tài sản sinh học. nghiệp, có thể nói những quy định hiện hành quá sơ
Theo đó, giá trị hợp lý của tài sản sinh học có thể sài, đơn giản và thiếu những cơ sở đo lường cần
bằng giá trị hợp lý của nhóm tài sản trừ đi giá trị hợp thiết cho những ghi nhận của kế toán nông nghiệp.
lý của đất và công tác cải tạo đất.
Cụ thể như sau:
Khi không thể xác định được giá trị hợp lý của
Thứ nhất, về chuẩn mực kế toán nông nghiệp:
các tài sản sinh học thì tài sản sinh học được đo Việt Nam chưa ban hành
lường bằng giá gốc trừ hao mòn lũy kế và giá trị suy
Thứ hai, về hướng dẫn kế toán trong lĩnh vực
giảm lũy kế. Sau đó khi giá trị hợp lý có thể được nông nghiệp:
xác định một cách đáng tin cậy, doanh nghiệp phải
Chưa có chế độ kế toán hướng dẫn riêng trong
xác định giá trị tài sản sinh học bằng giá trị hợp lý lĩnh vực nông nghiệp, hiện kế toán nông nghiệp chỉ
trừ đi chi phí bán hàng. Khi xác định giá gốc, hao được hướng dẫn lồng ghép trong các hướng dẫn của
mòn lũy kế và giá trị suy giảm lũy kế, doanh nghiệp chế độ kế toán doanh nghiệp nói chung. Cụ thể :
cần xem xét những yêu cầu của IAS 2, IAS 16 và
IAS 36 - Suy giảm giá trị tài sản.
Trong chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo
Thông tư 200/2014/TT-BTC, hiện chỉ có 2 nội dung
quy định liên quan đến vấn đề nông nghiệp, đó là:
- TK 154 “Chi phí sản xuất, kinh doanh dở
Thứ tư, về ghi nhận lãi lỗ:
Các khoản lãi/lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận
ban đầu đối với tài sản sinh học xác định bằng giá dang” áp dụng trong ngành nông nghiệp, quy định
trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng và phát sinh từ việc về một số nguyên tắc hạch toán trong ngành nông
thay đổi giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng phải nghiệp cần chú ý như:
được trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động kinh
+ Tài khoản 154 áp dụng trong ngành nông
doanh trong kỳ kế toán mà khoản lãi/lỗ này phát nghiệp dùng để tập hợp tổng chi phí sản xuất và
sinh. Một khoản lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận tính giá thành sản phẩm của các hoạt động nuôi
ban đầu có thể xảy ra vì chi phí bán hàng đã được trồng, chế biến sản phẩm hoặc dịch vụ nông
trừ đi khi xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học. nghiệp. tài khoản này phải được hạch toán chi tiết
Ngược lại, một khoản lãi cũng có thể phát sinh tại theo ngành kinh doanh nông nghiệp (trồng trọt,
thời điểm ghi nhận ban đầu (ví dụ khi một con bê chăn nuôi, chế biến,...), theo địa điểm phát sinh chi
được sinh ra).
phí (phân xưởng, đội sản xuất,...), chi tiết theo từng
Các khoản lãi/lỗ phát sinh tại thời điểm ghi nhận loại cây con và từng loại sản phẩm, từng sản phẩm
ban đầu đối với sản phẩm nông nghiệp được xác hoặc dịch vụ.
định bằng giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng phải
+ Chi phí sản xuất ngành trồng trọt được tập hợp
được trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động kinh vào TK 154 theo từng đối tượng như Cây ngắn ngày
doanh trong kỳ kế toán mà khoản lãi/lỗ này phát (lúa, khoai, sắn, cà chua, ngô,...); Cây trồng một lần
sinh. Các khoản lãi/lỗ phát sinh tại thời điểm ghi thu hoạch nhiều lần (nho, đu đủ...); Cây lâu năm
nhận ban đầu đối với nông sản có thể phát sinh từ (chè, cà phê, cao su, hồ tiêu, cây ăn quả,...).
việc thu hoạch.
+ Chi phí liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp
chi phí thì phải phân bổ vào giá thành của các loại
Thứ năm, về trình bày thông tin
Doanh nghiệp phải trình bày và công bố thông sản phẩm liên quan như chi phí tưới tiêu nước, chi
tin trên các BCTC theo từng nhóm tài sản sinh học phí chuẩn bị đất và trồng mới năm đầu của những
khoa học
ꢀ
thương mại
66
Sè 128/2019
Ý KIẾN TRAO ĐỔI
cây trồng một lần, thu hoạch nhiều lần (chi phí này đối tượng kế toán là TSCĐ Cây lâu năm, súc vật làm
không thuộc vốn đầu tư XDCB).
việc và súc vật cho sản phẩm trong nông nghiệp.
Trong chế độ kế toán áp dụng cho hợp tác xã
Trên cùng một diện tích canh tác, nếu trồng xen
từ hai loại cây nông nghiệp ngắn ngày trở lên thì nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và chăn nuôi
những chi phí phát sinh có liên quan trực tiếp đến ban hành theo Thông tư 24/2017/TT-BTC. Hệ thống
loại cây nào thì tập hợp riêng cho loại cây đó (như: kế toán áp dụng cho các Hợp tác xã Nông nghiệp
hạt giống, chi phí gieo trồng, thu hoạch,...), chi phí được hướng dẫn trong Thông tư này trên cơ sở Chế
phát sinh chung cho nhiều loại cây (chi phí cày bừa, độ kế toán doanh nghiệp Nhỏ và Vừa ban hành kèm
tưới tiêu nước,...) thì được tập hợp riêng và phân bổ theo Thông tư 133/2016/TT-BTC và có sửa đổi bổ
cho từng loại cây theo diện tích gieo trồng, hoặc sung một vài tên gọi của TK để phù hợp với đặc thù
theo một tiêu thức phù hợp.
hoạt động của HTX. Thông tư có hướng dẫn kế toán
Giá thành sản xuất thực tế của sản phẩm nông một số nội dung đặc thù của hợp tác xã như giao
nghiệp được xác định vào cuối vụ thu hoạch, hoặc dịch giữa HTX với xã viên, giữa HTX với doanh
cuối năm. Sản phẩm thu hoạch năm nào thì tính giá nghiệp thuộc HTX, nội dung chi phí sản xuất của
thành trong năm đó nghĩa là chi phí chi ra trong năm một số ngành nghề nông nghiệp, trong đó có sản
nay nhưng năm sau mới thu hoạch sản phẩm thì năm xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy
sau mới tính giá thành.
sản. Đối với các HTX có quy mô lớn, có nhiều giao
Riêng đối với cây lâu năm thì ghi nhận như quá dịch mà Thông tư này không có quy định thì được
trình đầu tư xây dựng cơ bản và phản ánh vào TK lựa chọn áp dụng Chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ
241 “Xây dựng cơ bản dở dang”. Tuy nhiên, nội và vừa ban hành theo Thông tư số Thông tư
dung của TK 241 không đề cập gì đến vấn đề này.
133/2016/TT-BTC và các văn bản sửa đổi, bổ sung
+ Chi phí sản xuất ngành chăn nuôi được tập hợp hoặc thay thế (nếu có).
vào TK 154 theo từng đối tượng chăn nuôi như trâu,
Từ nghiên cứu về những khuôn mẫu kế toán nông
bò, lợn… súc vật con của đàn súc vật cơ bản sau khi nghiệp đã hệ thống ở trên, có thể thấy được những
tách mẹ phải mở sổ chi tiết theo dõi riêng theo giá khác biệt trong kế toán sản phẩm nông nghiệp của
thành thực tế; đối với súc vật cơ bản khi đào thải Việt Nam so với khuôn mẫu của quốc tế. Những
chuyển thành súc vật nuôi lớn, nuôi béo được ghi khác biệt có tính trọng yếu này thể hiện những bất
nhận vào TK 154 theo giá trị còn lại của súc vật cơ cập trong kế toán của Việt Nam về kế toán nông
bản. Đối tượng tính giá thành trong ngành chăn nuôi nghiệp, được thể hiện trên các nội dung sau:
là 1kg sữa tươi, 1 con bò tiêu chuẩn, giá thành của
1kg thịt tăng, giá thành của 1kg thịt hơi…
Thứ nhất, về chuẩn mực kế toán:
Việt Nam hiện chưa ban hành chuẩn mực kế toán
- TK 211 “Tài sản cố định” quy định TK 2115 “Nông nghiệp” và chuẩn mực liên quan đến giá trị
phản ánh “Cây lâu năm, súc vật làm việc và súc vật hợp lý như chuẩn mực về “Giá trị hợp lý”, “Suy
cho sản phẩm”. Tài khoản này phản ánh giá trị các giảm giá trị tài sản”, “Trợ cấp của Chính phủ và
loại TSCĐ là các loại cây lâu năm, súc vật làm việc, thuyết minh thông tin về trợ cấp của Chính phủ”.
súc vật nuôi để lấy sản phẩm. Đối với súc vật làm Bất cập này dẫn đến chưa có khuôn mẫu pháp lý cao
việc hoặc cho sản phẩm, nếu từng con súc vật thỏa nhất cho kế toán các giao dịch và sự kiện liên quan
mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn của tài sản cố định đến hoạt động nông nghiệp cũng như thiếu những cơ
đều được coi là một tài sản cố định hữu hình.
sở đo lường giá trị hợp lý của các tài sản sinh học và
Về xác định giá trị đối với TSCĐ là súc vật làm sản phẩm nông nghiệp; thiếu những khuôn mẫu
việc và súc vật cho sản phẩm thì nguyên giá là toàn pháp lý để xử lý trong các trường hợp khi không thể
bộ các chi phí thực tế đã chi ra cho con súc vật từ lúc xác định được thông tin giá trị hợp lý và khi được
hình thành đến khi đưa vào khai thác, sử dụng và hưởng những trợ cấp của chính phủ trong hoạt động
các chi phí khác trực tiếp có liên quan.
nông nghiệp.
Thứ hai, về nguyên tắc ghi nhận:
Sử dụng nguyên tắc kế toán “Giá gốc” để ghi
Trong chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa
ban hành theo Thông tư 133/2016/TT-BTC quy định
hoàn toàn tương tự như trong TT 200/2014/TT-BTC. nhận ban đầu đối với tài sản sinh học và sản phẩm
Tuy nhiên, TK 211 không quy định mở chi tiết cho nông nghiệp tại thời điểm thu hoạch cũng như sau
khoa học
ꢀ
thương mại
67
Sè 128/2019
Ý KIẾN TRAO ĐỔI
ghi nhận ban đầu khi đã có sự biến đổi sinh học của chung cho tất cả các hoạt động sản xuất nông
vật nuôi, cây trồng diễn ra trong quá trình hoạt động nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản mà không
nông nghiệp. Việc sử dụng nguyên tắc kế toán “Giá có những hướng dẫn cụ thể thể hiện được tính đặc
gốc” là không thích hợp đối với đối tượng kế toán thù trong từng loại hoạt động cụ thể. Trên TK 154
trong hoạt động nông nghiệp bởi các thay đổi về mặt quy định không rõ ràng, không phân biệt các hoạt
vật lý, những biến đổi sinh học đã có thể ảnh hưởng động trong hoạt động chăn nuôi, các hoạt động trong
trực tiếp tới lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, đã tạo hoạt động lâm nghiệp… hình thành nên những loại
ra những thu nhập hay chi phí (lãi/lỗ) cho doanh tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp khác
nghiệp. Việc áp dụng nguyên tắc kế toán “Giá gốc” nhau, cách phân bổ những chi phí chung, chi phí nào
khiến cho một doanh nghiệp nông nghiệp có thể được vốn hóa và chi phí nào không được vốn hóa
không có bất cứ một khoản thu nhập nào được trình vào tài sản sinh học. Hệ quả làm cho việc tính toán,
bày trên báo cáo cho đến khi thu hoạch sản phẩm (ví đo lường, ghi nhận không phù hợp với bản chất của
dụ như doanh nghiệp trồng rừng thu hoạch gỗ sau giao dịch, làm sai lệch thông tin về giá trị tài sản
30-40 năm).
Thứ ba, về thông tư hướng dẫn kế toán trong
nông nghiệp
sinh học và sản phẩm nông nghiệp.
- Các khoản trợ cấp của Chính phủ trong các
hoạt động nông nghiệp không được ghi nhận và
Hiện Việt Nam chưa có những hướng dẫn đủ cần cung cấp thông tin rõ ràng. Hệ quả không đo lường
thiết cho kế toán để ghi nhận các đối tượng kế toán được thực tế kết quả hoạt động của doanh nghiệp do
và các giao dịch phát sinh trong hoạt động nông bản thân doanh nghiệp tạo ra hay từ những khoản
nghiệp, trong khi loại hoạt động này chứa đựng quá trợ cấp của chính phủ trong hoạt động nông nghiệp.
nhiều yếu tố đặc thù, phức tạp và nhiều rủi ro.
- Về trình bày thông tin trên BCTC: Không quy
- Không có khái niệm tài sản sinh học và sản định riêng về trình bày và thuyết minh thông tin đối
phẩm nông nghiệp, hệ quả là sẽ không xác định với tài sản nông nghiệp và hoạt động nông nghiệp.
được các đối tượng kế toán phù hợp phải được xử lý, Hệ quả người đọc báo cáo tài chính không có thông
ghi nhận theo khuôn mẫu của kế toán nông nghiệp.
tin về những chính sách kế toán mà một doanh
- Không quy định về điều kiện ghi nhận tài sản nghiệp nông nghiệp áp dụng đối với tài sản nông
sinh học và sản phẩm nông nghiệp, hệ quả là không nghiệp và hoạt động nông nghiệp, cơ sở của những
phản ánh được kịp thời, đúng đắn và đầy đủ các tài thông tin trình bày, công khai trên báo cáo tài chính
sản của doanh nghiệp nông nghiệp.
nhưng đã không được công khai cho những người
- Đo lường các đối tượng kế toán trong nông sử dụng thông tin.
nghiệp dựa trên chi phí thực tế phát sinh, không ghi
4. Những vấn đề cần hoàn thiện đối với kế
nhận sự thay đổi giá trị do sự thay đổi về mặt vật lý, toán nông nghiệp của Việt Nam hiện nay
những biến đổi sinh học đã phát sinh thu nhập, chi
Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, giá trị
phí. Hệ quả không phản ánh đúng được tình hình thu sản phẩm nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
nhập, chi phí và kết quả kinh doanh trong kỳ của giá trị sản phẩm quốc nội của nền kinh tế, theo số
doanh nghiệp nông nghiệp.
liệu của Tổng cục Thống kê năm 2017, nông nghiệp
- Đối với tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật Việt Nam đóng góp 15,34% vào GDP của cả nước.
làm việc và súc vật cho sản phẩm, hướng dẫn kế Với tính trọng yếu của ngành nông nghiệp, lĩnh vực
toán chỉ đưa ra tên gọi của tài khoản phản ánh cho kế toán nông nghiệp ngày càng trở nên quá quan
đối tượng kế toán là vườn cây, súc vật làm việc và trọng, cùng với những bất cập hiện nay trong kế
súc vật cho sản phẩm, không có hướng dẫn kế toán toán nông nghiệp của Việt Nam, các khuôn mẫu của
về ghi nhận ban đầu, sau ghi nhận ban đầu, phương kế toán nông nghiệp cần phải được sớm hoàn thiện
pháp khấu hao tài sản cố định cho đối tượng kế toán để hội nhập quốc tế và dẫn đến hội tụ với các quy
này. Hệ quả dẫn đến xử lý tùy tiện của kế toán, định khuôn mẫu kế toán nói chung.
không đảm bảo tính thống nhất trong xử lý giao dịch
giữa các doanh nghiệp nông nghiệp cùng loại hình.
Từ những khác biệt có tính trọng yếu của Việt
Nam trong lĩnh vực kế toán nông nghiệp, những vấn
- Đối với hoạt động sản xuất trong nông nghiệp: đề đặt ra cần hoàn thiện đối với kế toán nông nghiệp
Hướng dẫn kế toán chỉ đưa ra những hướng dẫn của Việt Nam hiện nay như sau:
khoa học
ꢀ
thương mại
68
Sè 128/2019
Ý KIẾN TRAO ĐỔI
Thứ nhất, Ban hành chuẩn mực kế toán “Nông sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp, hoạt động
nghiệp” và chuẩn mực kế toán khác liên quan
nông nghiệp, đó là:
Bộ Tài chính Việt Nam cần sớm ban hành
- Tài sản sinh học được ghi nhận theo giá trị hợp
chuẩn mực kế toán cho lĩnh vực nông nghiệp để kế lý trừ chi phí bán áp dụng khi ghi nhận ban đầu và
toán toàn bộ các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi sau ghi nhận ban đầu trong quá trình tăng trưởng,
được thực hiện theo khuôn mẫu từ quá trình ghi suy thoái và sinh sản đến thời điểm thu hoạch sản
nhận, trình bày báo cáo và thuyết minh thông tin, phẩm nông nghiệp (trừ khi giá trị hợp lý không thể
đảm bảo phù hợp và hội tụ với thông lệ quốc tế. xác định một cách đáng tin cậy tại thời điểm ghi
Việc nghiên cứu chuẩn mực kế toán “Nông nhận ban đầu).
nghiệp” của quốc tế để ban hành chuẩn mực kế
- Sản phẩm nông nghiệp thu được từ tài sản sinh
toán “Nông nghiệp” cho Việt Nam sẽ là cơ sở học được ghi nhận theo giá trị hợp lý trừ chi phí bán
khuôn mẫu pháp lý cao nhất cho kế toán các giao tại thời điểm thu hoạch.
dịch và sự kiện liên quan đến hoạt động nông
- Các khoản lãi/lỗ phát sinh tại thời điểm ghi
nghiệp. Và để có đủ các cơ sở pháp lý cho việc áp nhận ban đầu đối với tài sản sinh học xác định bằng
dụng giá trị hợp lý trong kế toán nông nghiệp thì giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng và phát sinh từ
Việt Nam cần nghiên cứu và ban hành chuẩn mực việc thay đổi giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng
kế toán liên quan đến giá trị hợp lý, đó là chuẩn được ghi nhận là thu nhập hoặc chi phí trong kì và
mực về “Xác định giá trị hợp lý” làm căn cứ, cơ sở phản ánh vào báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ
đo lường giá trị hợp lý của các tài sản sinh học và kế toán mà khoản lãi/lỗ này phát sinh.
sản phẩm nông nghiệp. Đồng thời ban hành chuẩn
- Toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình hoạt
mực “Suy giảm giá trị tài sản” tạo khuôn mẫu động trồng trọt, chăn nuôi được ghi nhận vào chi phí
pháp lý để xử lý trong các trường hợp khi không trong kỳ.
thể xác định được thông tin giá trị hợp lý thì tài sản
Việc đo lường giá trị hợp lý trong nông nghiệp
sinh học được xác định theo giá gốc trừ đi hao mòn thường sẽ được thực hiện theo phương pháp tiếp cận
lũy kế và giá trị suy giảm lũy kế; chuẩn mực “Trợ thị trường vì các tài sản sinh học, sản phẩm nông
cấp của Chính phủ và thuyết minh thông tin về nghiệp thông thường sẽ có giá tham chiếu trên thị
trợ cấp của chính phủ” tạo khuôn mẫu pháp lý để trường ở từng thời điểm giao dịch.
xử lý khi doanh nghiệp được hưởng những trợ cấp
của chính phủ trong hoạt động nông nghiệp.
Thứ hai, đề xuất áp dụng nguyên tắc ghi nhận
theo “Giá trị hợp lý” trong kế toán nông nghiệp
Thứ ba, về ban hành thông tư hướng dẫn kế toán
nông nghiệp
Việt Nam cần có những hướng dẫn cần thiết cho
kế toán để phản ánh đầy đủ các đối tượng kế toán và
Việc áp dụng nguyên tắc kế toán “Giá gốc” để ghi nhận các giao dịch phát sinh trong hoạt động
ghi nhận ban đầu đối với tài sản sinh học và sản nông nghiệp. Khi Việt Nam chưa ban hành được
phẩm nông nghiệp tại thời điểm thu hoạch cũng như chuẩn mực kế toán “Nông nghiệp” thì cần có những
sau ghi nhận ban đầu khi đã có sự biến đổi sinh học hướng dẫn chi tiết cụ thể theo hướng tiếp cận với
của vật nuôi, cây trồng diễn ra trong quá trình hoạt khuôn mẫu chung của quốc tế về kế toán trong nông
động nông nghiệp là không phù hợp đối với đối nghiệp. Cụ thể như sau:
tượng kế toán trong hoạt động nông nghiệp. Việt
(1) Về khái niệm và phân loại tài sản sinh học,
Nam sau khi đã ban hành chuẩn mực kế toán cho sản phẩm nông nghiệp
lĩnh vực nông nghiệp thì nguyên tắc kế toán “Giá trị
- Bổ sung trong hướng dẫn kế toán các khái niệm
hợp lý” sẽ được áp dụng trong kế toán nông nghiệp, có liên quan trong nông nghiệp như khái niệm tài
theo đó các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản sinh học, sản phẩm nông nghiệp, hoạt động
nông nghiệp sẽ phản ánh trung thực và đầy đủ tài nông nghiệp, thu hoạch, biến đổi sinh học….từ đó sẽ
sản, quá trình hoạt động kinh doanh theo đúng thông xác định rõ ràng các đối tượng kế toán nào chịu sự
lệ quốc tế.
Khi áp dụng nguyên tắc kế toán “Giá trị hợp lý”
điều chỉnh theo khuôn mẫu của kế toán nông nghiệp.
- Cần phải phân loại các tài sản sinh học, trên cơ
trong kế toán nông nghiệp dẫn đến những thay đổi sở đó xác định được các chuẩn mực kế toán chi phối
căn bản trong ghi nhận và trình bày thông tin về tài phù hợp để đưa ra những quy định về ghi nhận kế
khoa học
ꢀ
thương mại
69
Sè 128/2019
Bạn đang xem tài liệu "IAS 41 - Nông nghiệp và những vấn đề đặt ra cho kế toán nông nghiệp của Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ias_41_nong_nghiep_va_nhung_van_de_dat_ra_cho_ke_toan_nong_n.pdf

