Hoạt tính bảo vệ gan của các hợp chất phân lập từ cây an xoa (Helicteres hirsuta) thu hái ở Gia Lai

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 2 (2021)  
HOẠT TÍNH BẢO VỆ GAN CỦA CÁC HỢP CHẤT PHÂN LẬP TỪ CÂY AN XOA  
(HELICTERES HIRSUTA) THU HÁI Ở GIA LAI  
Huỳnh Lê Nhật Tiến, Phan Huỳnh Xuân Win, Lương Văn Tri*  
Trường THPT Lê Lợi, Gia Lai  
Ngày nhận bài: 17/12/2020; ngày hoàn thành phản biện: 5/01/2020; ngày duyệt đăng: 15/4/2021  
TÓM TẮT  
Bằng cách sử dụng kết hợp các phương pháp sắc ký, năm hợp chất gồm, 4,5-  
dihydroblumenol A (1), kaempferol-3-β-D-(6-O-trans-p-coumaroyl)glucopyranoside  
(2), 3,4ʹ,7,8-tetrahydroxyflavone (3), 2-O-β-D-glucopyranosyl methyl salicylate (4), 3-  
O-methylquercetin (5) đã được phân lập từ phần trên mặt đất của cây an xoa  
(Herlicteres hirsuta) thu hái tại tỉnh Gia Lai. Cấu trúc hóa học của chúng được xác  
định dựa vào phổ cộng hưởng từ hạt nhân (1D-NMR và 2D-NMR) và so sánh với  
các tài liệu đã công bố. Cả năm hợp chất (1-5) được đánh giá tác dụng bảo vệ gan  
trên dòng tế bào HepG2 được gây nhiễm độc bởi CCl4. Hợp chất 3 có tác dụng mạnh  
nhất với giá trị nồng độ bảo vệ 50% tế bào, EC50 = 90,20 µg/mL.  
Từ khóa: An xoa, Helicteres hirsuta, hoạt tính bảo vệ gan.  
1. MỞ ĐẦU  
Cây an xoa (Helicteres hirsuta Lour.) hay còn gọi là cây tổ kén cái, dó lông thuộc  
họ Trôm (Sterculiaceae). Trên thế giới, an xoa có mặt ở Campuchia, China, India,  
Indonesia, Laos, Malaysia, Mianma, Philippine và Thailand [1]. Ở Việt Nam, cây an xoa  
phân bố từ Bắc chí Nam. Theo Từ điển cây thuốc Việt Nam, an xoa được dùng làm thuốc  
chữa ung nhọt, kiết lị, đậu sởi, cảm cúm, đái dắt, ... [2]. Các nghiên cứu về hoạt tính sinh  
học của cao chiết và các hợp chất phân lập từ loài an xoa cho thấy có nhiều hoạt tính  
đáng quan tâm như gây độc tế bào ung thư, chống oxi hóa, chống vi sinh vật, [3-9]... Tuy  
nhiên, đến nay có rất ít công trình công bố về tác dụng bảo vệ gan của loài an xoa ở Việt  
Nam. Để góp phần làm sáng tỏ tác dụng bảo vệ gan của loài dược liệu này, bài báo trình  
bày kết quả phân lập, xác định cấu trúc hóa học và tác dụng bảo vệ gan của các hợp chất  
phân lập được.  
65  
Hoạt tính bảo vệ gan của các hợp chất phân lập từ cây an xoa (Helicteres Hirsuta) thu hái ở Gia Lai  
2. THỰC NGHIỆM  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
Phần trên mặt đất cây an xoa được thu hái ở xã Pơ Lang, huyện Mang Yang, tỉnh  
Gia Lai vào tháng 10 năm 2020. Mẫu được cán bộ của Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam,  
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam xác định tên khoa học theo phương  
pháp hình thái [10]. Mẫu tiêu bản (AX-GL1) được lưu giữ tại Bảo tàng Thiên nhiên Việt  
Nam, VAST.  
2.2. Hóa chất và thiết bị  
Sử dụng sắc ký cột với chất hấp phụ pha thường (silica gel 240-430 mesh, Merck),  
pha đảo C-18 (150 µm, Fujisilica Chemical Ltd). Sắc ký lớp mỏng được tiến hành trên  
bản mỏng tráng sẵn DC-Alufolien 60 F254RP-18 F254s (hãng Merck); phát hiện chất bằng  
đèn tử ngoại ở hai bước sóng 254 và 365 nm hoặc dùng thuốc thử là dung dịch H  
2
SO  
4
10% phun đều lên bản mỏng, sấy khô rồi hơ nóng từ từ đến khi hiện màu. Phổ cộng  
hưởng từ hạt nhân (NMR): Đo trên máy Bruker AM500 của Viện Hóa học, Viện Hàn lâm  
Khoa học và Công nghệ Việt Nam.  
2.3. Phương pháp phân lập và xác định cấu trúc  
Phương pháp phân lập: Quá trình chiết xuất lấy cao chiết toàn phần sử dụng  
phương pháp ngâm bột dược liệu với methanol với sự hỗ trợ của thiết bị siêu âm. Cao  
methanol được phân tán trong nước sau đó chiết phân bố với các dung môi có độ phân  
cực khác nhau để thu được các phân đoạn tương ứng. Các hợp chất được phân lập dựa  
vào các kỹ thuật sắc ký cột pha thường, pha đảo, sephadex, diaion.  
Phương pháp xác định cấu trúc: Cấu trúc hóa học của các hợp chất được xác định  
dựa vào phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều (1D-NMR), hai chiều (2D-NMR) kết hợp  
so sánh đối chiếu với các tài liệu đã công bố.  
2.4. Phương pháp đánh giá hoạt tính bảo vệ gan  
- Phương pháp nuôi cấy tế bào  
Dòng tế bào HepG2 được nuôi cấy trong môi trường nuôi cấy DMEM với thành  
phần kèm theo gồm 2 mM L-glutamine, 10 mM HEPES, và 1,0 mM sodium pyruvate,  
ngoài ra bổ sung 10% fetal bovine serum – FBS (GIBCO) và nuôi trong tủ ấm CO  
2
ở điều  
o
kiện 37 C, 5% CO  
2
. [11]  
- Phương pháp xác định khả năng bảo vệ tế bào gan  
4
Tế bào HepG2 được nuôi trong đĩa 96 giếng với nồng độ tế bào 3 x 10 tế  
o
bào/giếng và ủ 24 h ở tủ ấm 37 C, 5% CO  
2
. Mẫu thí nghiệm hoặc đối chứng Trolox được  
40mM. Sau  
được xác định  
đưa vào các giếng nuôi cấy ở các nồng độ khác nhau với sự có mặt của CCl  
đó ủ đĩa thêm 2h. Khả năng sống sót của tế bào dưới tác động của CCl  
4
4
66  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 2 (2021)  
thông qua phép thử MTT. Sau khi loại bỏ môi trường nuôi cấy, thêm 50 µl MTT (1  
o
mg/ml) vào mỗi giếng. Ủ đĩa ở nhiệt độ 37 C trong 4 h. Màu formazan hình thành được  
hòa tan bằng DMSO. Đo giá trị OD ở bước sóng 540 nm. [9]  
Tỉ lệ tế bào sống sót được tính theo công thức:  
% HQ bảo vệ = [(ODmẫu thử+CCl4 – OD+CCl4)/(OD-CCl4 – OD+CCl4)] x 100  
Phép thử được lặp lại ba lần để đảm bảo tính chính xác. Các số liệu được xử lí  
trên Excel. Giá trị EC50 (Effective concentration to protect 50%/ nồng độ bảo vệ được 50%  
tế bào) được xác định bằng phần mềm TableCurve2Dv4.  
2.5. Chiết xuất và phân lập các hợp chất  
0
Mẫu nguyên liệu khô (2,5 kg) được chiết với methanol (3 lần, 5 lít, 50 C) với sự  
hỗ trợ của thiết bị siêu âm gia nhiệt Ultrasona-HD Selecta 3000867 (40 kHz), cất loại dung  
môi thu được 180 gam cặn chiết methanol. Cặn này được phân bố vào 2 lít nước cất rồi  
đem chiết lần lượt với n-hexane, dichloromethane và ethyl acetate (3 lần x 2 lít, môi loại  
dung môi). Sau khi loại dung môi dưới áp xuất giảm thu được cặn n-hexane (AXH, 68,0  
g), cặn dichloromethane (AXD, 52,3 g), cặn ethyl acetate (AXE, 12,5 g) và lớp nước (AXW,  
47,2 g). Cặn ethyl acetate (AXE, 12,5 g) được phân tách trên sắc ký cột pha thường silica  
gel và rửa giải bằng hệ dung môi dichloromethane/methanol (20/1, v/v) thu được bốn  
phân đoạn, (AXE1- AXE4). Tiếp tục phân tách phân đoạn AXE2 trên cột sắc ký pha đảo  
RP-18 với hệ dung môi rửa giải methanol/nước (1/1, v/v) thu được ba phân đoạn nhỏ  
hơn (AXE2.1-AXE2.3). Hợp chất 1 (10 mg) thu được khi tinh chế phân đoạn AXE2.1 trên  
sắc ký cột pha thường silica gel với hệ dung môi ethyl acetate/methanol/nước (20/1/0,1,  
v/v/v). Tiếp tục phân tách phân đoạn AXE2.3 trên sắc ký cột rây phân tử (sephadex, LH-  
20) sử dụng methanol/nước (1/1, v/v) làm dung môi rửa giải thu được hợp chất 2 (6 mg).  
Phân đoạn AXE4 được phân tách làm hai phân đoạn nhỏ hơn, (AXE4.1 và AXE4.2) trên  
cột sắc ký pha đảo RP-18 sử dụng hệ dung môi methanol/nước (1/1, v/v) làm pha động.  
Hợp chất 3 (5 mg) thu được khi tinh chế phân đoạn AXE4.2 trên sắc ký cột pha thường  
silica gel với hệ dung môi rửa giải dichloromethane/methanol/nước (10/1/0,01, v/v/v).  
67  
Hoạt tính bảo vệ gan của các hợp chất phân lập từ cây an xoa (Helicteres Hirsuta) thu hái ở Gia Lai  
Hình 1. Cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được  
Lớp nước (AXW, 47,2 g) được đưa lên cột diaion HP-20, rồi dùng nước cất rửa  
giải để loại các đường đơn và muối khoáng. Tiếp đó, lần lượt sử dụng các hệ dung môi  
methanol/nước (25/75, 50/50, 75/25, 100% methanol) để rửa giải thu được bốn phân đoạn,  
AXW1-AXW4. Phân đoạn AXW2 tiếp tục được phân tách thành bốn phân đoạn nhỏ hơn,  
AXW2.1-AXW2.4 trên sắc ký cột pha thường silica gel sử dụng dichloromethane/  
methanol/nước (10/1/0,01, v/v/v) làm pha động. Sau đó, tiếp tục phân tách phân đoạn  
AXW2.2 trên sắc ký cột pha đảo RP-18 với hệ dung môi rửa giải methanol/nước (1/1,2,  
v/v) thu được ba phân đoạn, AXW2.2.1-AXW2.2.3. Hợp chất 4 ( 7 mg) thu được khi tiếp  
tục tinh chế phân đoạn AXW2.2.1 trên cột sắc ký pha thường silica gel sử dụng  
dichloromethane/methanol/nước (8/1/0,01, v/v/v). Tương tự, hợp chất 5 (4 mg) thu được  
khi tinh chế phân đoạn AXW2.2.3 trên cột sắc ký pha thường silica gel sử dụng  
dichloromethane/methanol/nước (10/1/0,01, v/v/v).  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Xác định cấu trúc hóa học các hợp chất  
1
Hợp chất 1 được tách ra dưới dạng chất bột, màu trắng. Phổ H-NMR của hợp  
chất 1 cho tín hiệu đặc trưng của ba nhóm methyl singlet tại  
methyl doublet tại 0,86 (J = 6,5 Hz), hai olefinic proton của một liên kết đôi cấu hình  
trans tại 6,68 (dd, J = 10,5, 16,0 Hz, H-7), 6,10 (d, J = 16,0 Hz, H-8) và tín hiệu của các  
H
0,91, 0,96, 2,28; một nhóm  
H
H
proton thuộc phần đường tại   
H
3-4,5 ppm (bao gồm một anomeric proton tại 4,38 (d,  
H
13  
J = 8,0 Hz, H-1'). Phổ C-NMR và HSQC của hợp chất 1 cho tín hiệu 13 carbon đặc trưng  
của một megastigmane-aglycone tại gồm bốn nhóm methyl, hai nhóm methylene, năm  
nhóm methine, một nhóm carbonyl và một carbon bậc bốn (Bảng 1) và sáu carbon của  
68  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 2 (2021)  
phần đường glucopyranosyl tại   
(C-5'), 62,8 (C-6'). Các tương tác HMBC từ H-10 (  
200,7) xác định vị trí của nhóm carbonyl tại C-9. Bên cạnh đó, vị trí của phần đường tại  
C-3 được xác định dựa vào các tương tác HMBC từ H-2 (1,21, 1,90), H-4 (1,08, 2,18)  
và H-1' (4,38) đến C-3 (75,4). Từ các bằng chứng phổ trên, kết hợp đối chiếu với  
chất tham khảo ở tài liệu [12], hợp chất 1 được xác định là alangionoside L.  
C
102,7 (C-1'), 75,1 (C-2'), 78,1 (C-3'), 71,7 (C-4'), 77,8  
H
2,28) và H-7 (6,68) đến C-9 (  
H
C
H
H
H
C
Hình 2. Tương tác HMBC chính của các hợp chất 1-5  
1
Hợp chất 2 được tách ra dưới dạng chất bột, màu vàng. Phổ H-NMR của hợp  
chất 2 cho tín hiệu đặc trưng của sáu aromatic proton tín hiệu doublet của hợp chất  
kaempferol tại δ  
6,84 (J = 9,0 Hz, H-3', H-5'); hai olefinic proton và bốn aromatic proton tín hiệu doublet  
của phần O-trans-p-coumaroyl tại δ 6,95 (J = 15,5 Hz, H-2‴), 7,42 (J = 15,5 Hz, H-3‴), 7,33  
(J = 8,5 Hz, H-5‴, H-9‴), 6,81 (J = 8,5 Hz, H-6‴, H-8‴); một anomeric proton, hai oxygenate  
methylene proton và bốn oxygenate methine của phần đường tại δ 5,24 (d, J = 7,5 Hz,  
H
6,15 (J = 2,0 Hz, H-6), 6,31 (J = 2,0 Hz, H-8), 8,00 (J = 9,0 Hz, H-2', H-6'),  
H
H
H-1″), 3,34-3,50 (m, H-2″-H5″), 4,20 (dd, J = 6,0, 12,0 Hz, Ha-6″), 4.32 (dd, J = 2,0, 12,0 Hz,  
13  
Hb-6″). Phổ C-NMR và HSQC của hợp chất này cho tín hiệu của 30 carbon gồm một  
nhóm methylene, 17 nhóm methine, 12 carbon bậc bốn trong đó có hai nhóm carbonyl  
(δ 168,8, 179,3) (Bảng 2). Các dữ kiện phổ trên cùng với việc so sánh với hợp chất tham  
C
khảo ở tài liệu [13] của cho phép dự đoán hợp chất 2 là tiliroside (hay còn gọi là  
kaempferol-3-β-D-(6-O-trans-p-coumaroyl)glucopyranoside). Ngoài ra, các tương tác  
trên phổ HMBC từ H-6″ (δ  
H
4,20, 4,32) đến C-1‴ (δ  
C
168,8), H-1″ (δ  
H
5,24) đến C-3 (δ 135,1)  
C
cùng với các tương tác HMBC chính khác (Hình 2) khẳng định sự chính xác của dự đoán  
trên. Hợp chất 2 được xác định là tiliroside.  
1
Hợp chất 3 được tách ra dưới dạng chất bột, màu vàng. Phổ H-NMR của hợp  
chất 3 cho tín hiệu đặc trưng của sáu aromatic proton tín hiệu doublet của một hợp chất  
69  
Hoạt tính bảo vệ gan của các hợp chất phân lập từ cây an xoa (Helicteres Hirsuta) thu hái ở Gia Lai  
flavone tại δ  
H
7,56 (J = 8,5 Hz, H-5), 6,96 (J = 8,5 Hz, H-6), 8,25 (J = 9,0 Hz, H-2', H-6'), 6,94  
13  
(J = 9,0 Hz, H-3″, H-5″). Bên cạnh đó, phổ C-NMR và HSQC của hợp chất 3 cho tín hiệu  
của 15 carbon bao gồm sáu nhóm methine và chín carbon bậc bốn, trong đó có một nhóm  
carbonyl tại δ  
C
174,8 (Bảng 2). Các tương tác HMBC từ H-5 (δ  
H
7,56) đến C-4 (δ 174,8),  
C
C-7 (δ 156,8) và H-6 (δ  
C
H
6,96) đến C-8 (δ 134,0), C-10 (δ 116,3) (Hình 2) xác định vị trí  
C
C
của các nhóm hydroxy tại C-7, C-8. Các dữ liệu phổ trên, kết hợp đối chiếu với chất tham  
khảo ở tài liệu [14], hợp chất 3 được xác định là 3,4ʹ,7,8-tetrahydroxyflavone.  
1
Hợp chất 4 tách được dưới dang chất bột, màu trắng. Phổ H-NMR của hợp chất  
4 cho tín hiệu của bốn aromatic proton đặc trưng của vòng benzen thế 1,2 tại δ  
J = 7,5 Hz, H-3), 7,15 (t, J = 7,5 Hz, H-4), 7,56 (dd, J = 7,5, 8,5 Hz, H-5), 7,42 (d, J = 8,5 Hz,  
H-6); một nhóm methoxy tại δ 3,91 (s); một anomeric proton và các proton đặc trưng  
H
7,78 (dd,  
H
của phần đường tại δ  
H
4,91 (d, J = 8,0 Hz, H-1'), 3,35-3,54 (m, H-2'-H-5'), 3,71 (dd, J = 6,0,  
13  
12,0 Hz, Ha-6'), 3,95 (dd, J = 1,5, 12,0 Hz, Hb-6'). Phổ C-NMR và HSQC của hợp chất 4  
cho tín hiệu của 14 carbon, bao gồm: tín hiệu của sáu carbon thuộc vòng benzen thế 1,2  
tại δ  
tín hiệu một nhóm methoxy tại δ  
104,0, 75,0, 78,4, 71,2, 77,5, 62,5. Các tương tác HMBC từ H-6 (δ  
và H-1' (δ 4,91) đến C-2 (δ  
đường tại C-1 và C-2. Ngoài ra, vị trí kết nối của nhóm methoxy vào C-7 được xác định  
dựa vào tương tác HMBC từ các proton thuộc nhóm methoxy (δ 3,91) đến C-7 (δ 168,5)  
C
119,0, 122,4, 123,6, 135,0, 132,0, 158,7; tín hiệu của một nhóm carbonyl tại δ  
C
168,5;  
C
52,7 và tín hiệu của sáu carbon của phần đường tại δ  
C
H
7,42) đến C-7 (δ  
C
168,5)  
H
C
122,4) lần lượt xác định vị trí của nhóm carbonyl và phần  
H
C
(Hình 2). Từ các bằng chứng phổ trên, kết hợp đối chiếu với chất tham khảo ở tài liệu  
[15], hợp chất 4 được xác định là 2-O-β-D-glucopyranosyl methyl salicylate.  
1
Hợp chất 5 tách được dưới dạng chất bột màu vàng. Phổ H-NMR của hợp chất  
5 cho tín hiệu của năm aromatic proton đặc trưng của hợp chất flavone tại δ  
H
6,40 (d, J =  
1,5 Hz, H-6), 6,21 (d, J = 1,5 Hz, H-8), 7,64 (d, J = 2,5 Hz, H-2′), 6,92 (d, J = 8,5 Hz, H-5′),  
7,54 (dd, J = 2,5, 8,5 Hz, H-6′) và ba proton đặc trưng của nhóm methoxy tại δ  
Trên phổ C-NMR và HSQC của AX7 cho tín hiệu của 14 carbon, bao gồm năm nhóm  
H
3,80 (s).  
13  
methine tại δ  
trong đó có một nhóm carbonyl tại δ  
165,8 (C-7), 158,4 (C-9), 105,8 (C-10), 122,9 (C-1′), 146,4 (C-3′), 149,9 (C-4′); và một nhóm  
methoxy tại δ 60,5. Vị trí của nhóm methoxy gắn vào khung chất tại C-3 được xác định  
dựa vào tương tác HMBC từ các proton của nhóm hydroxy (δ 3,80) đến C-3 (δ 139,5).  
C
94,7 (C-6), 99,7 (C-8), 116,4 (C-2′, C-5′), 122,3 (C-6′) và chín carbon bậc bốn,  
C
157,9 (C-2), 139,5 (C-3), 179,9 (C-4), 163,0 (C-5),  
C
H
C
Từ các bằng chứng phổ trên kết hợp đối chiếu với chất tham khảo ở tài liệu [16], hợp  
chất 5 được xác định là 3-O-methylquercetin.  
Bảng 1. Số liệu phổ NMR của hợp chất 1 và 4 [δ(ppm), J (Hz)]  
Vị trí  
Hợp chất 1  
Vị trí  
Hợp chất 4  
a,b  
a,c  
a,b  
a,c  
δC  
δH  
δC  
δH  
1
2
36,3  
47,6 1,21 m  
-
1
2
158,7  
122,4  
-
-
70  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 2 (2021)  
1,90 m  
3
4
75,4 3,94 m  
43,4 1,08 m  
3
4
132,0 7,78 dd (7,5)  
123,6 7,15 t (7,5)  
2,18 m  
5
6
7
8
9
10  
11  
12  
13  
31,9 1,76 m  
5
6
7
1ʹ  
2ʹ  
3ʹ  
4ʹ  
5ʹ  
6ʹ  
135,0 7,56 dd (7,5, 8,5)  
119,0 7,42 d (8,5)  
59,1 1,60 t (10,5)  
151,7 6,68 dd (10,5, 16,0)  
134,6 6,10 d (16,0)  
168,5  
-
104,0 4,91 d (8,0)  
75,0 3,40 m  
78,4 3,54 m  
71,2 3,35 m  
77,5 3,42 m  
62,5 3,71 dd (6,0, 12,0)  
3,95 dd (1,5, 12,0)  
52,7 3,91 s  
200,7  
-
26,9 2,28 s  
21,7 0,96 s  
31,7 0,91 s  
21,5 0,86 d (6,5)  
1ʹ  
2ʹ  
3ʹ  
4ʹ  
5ʹ  
6ʹ  
102,7 4,38 d (8,0)  
75,1 3,15 m  
78,1 3,37 m  
71,7 3,29 m  
77,8 3,31 m  
OCH3  
62,8 3,68 dd (5,5, 11,5)  
3,89 dd (2,0, 11,5)  
a
b
c
đo trong CDOD3, 125 MHz, 500 MHz.  
Bảng 2. Số liệu phổ NMR của hợp chất 2, 3 và 5 [δ(ppm), J (Hz)]  
Vị trí  
Hợp chất 2  
Hợp chất 3  
Hợp chất 5  
a,b  
a,c  
a,b  
a,c  
a,b  
a,c  
δC  
δH  
δC  
δH  
δC  
δH  
2
3
4
5
6
7
8
9
10  
1ʹ  
159,2  
135,1  
179,3  
162,9  
100,2 6,15 d (2,0)  
166,6  
95,0 6,31 d (2,0)  
158,4  
105,4  
122,7  
-
-
-
-
147,7  
138,2  
174,8  
116,6 7,56 d (8,5)  
115,0 6,96 d (8,5)  
156,8  
134,0  
151,4  
116,3  
124,2  
-
-
-
157,9  
139,5  
179,9  
163,0  
94,7 6,40 d (1,5)  
165,8  
99,7 6,21 d (1,5)  
158,4  
105,8  
122,9  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
2ʹ  
3ʹ  
4ʹ  
132,1 8,00 d (9,0)  
116,0 6,84 d (9,0)  
131,0 8,25 d (9,0)  
116,2 6,94 d (9,0)  
116,4 7,64 d (2,5)  
146,4  
149,9  
-
-
161,5  
-
160,4  
-
5ʹ  
6ʹ  
OCH3  
1ʺ  
2ʺ  
3ʺ  
116,1 6,84 d (9,0)  
132,1 8,00 d (9,0)  
116,2 6,94 d (9,0)  
131,0 8,25 d (9,0)  
116,4 6,92 d (8,5)  
122,3 7,54 dd (2,5, 8,5)  
60,5 3,80 s  
104,0 5,24 d (7,5)  
75,7 3,50 m  
78,0 3,46 m  
71  
Hoạt tính bảo vệ gan của các hợp chất phân lập từ cây an xoa (Helicteres Hirsuta) thu hái ở Gia Lai  
4ʺ  
5ʺ  
6ʺ  
71,7 3,34 m  
75,8 3,48 m  
64,3 4,20 dd (6,0, 12,0)  
4,32 dd (2,0, 12,0)  
1‴  
2‴  
3‴  
4‴  
5‴  
6‴  
7‴  
8‴  
9‴  
168,8  
114,7 6,95 d (15,5)  
146,5 7,42 d (15,5)  
127,1  
131,1 7,33 d (8,5)  
116,0 6,81 d (8,5)  
161,1  
116,8 6,81 d (8,5)  
131,1 7,33 d (8,5)  
-
-
-
a
b
c
đo trong CDOD3, 125 MHz, 500 MHz.  
3.2. Đánh giá hoạt tính bảo vệ gan của các hợp chất phân lập được  
Cả năm hợp chất phân lập được (1-5) được đánh giá hoạt tính bảo vệ tế bào gan  
HepG2 được gây nhiễm độc bởi CCl . Kết quả sàng lọc cho thấy, ở nồng độ 100 µg/mL,  
4
hợp chất 2 và 3 có tác dụng bảo vệ đáng kể tế bào gan HepG2 với giá trị phần trăm tế  
bào sống sót lần lượt là 21,40 và 53,10%. Các hợp chất còn lại chưa thể hiện hoạt tính bảo  
vệ gan ở nồng độ nghiên cứu. Đánh giá khả năng bảo vệ tế bào gan theo nồng độ của  
các hợp chất phân lập được. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hợp chất 3 có tác dụng bảo vệ  
gan tốt nhất với giá trị nồng độ bảo vệ 50% tế bào (EC50) là 90,20 µg/mL.  
Bảng 3. Phần trăm tế bào sống dưới tác động bảo vệ của các hợp chất trên dòng tế bào HepG2  
% Bảo vệ  
Nồng độ  
(µg/mL) Hợp chất 1 Hợp chất 2  
Hợp chất 3 Hợp chất 4 Hợp chất 5 Quercetin*  
100  
20  
4
0.8  
EC50  
7,36 ± 0,47  
2,68 ± 0,32  
2,56 ±0,32  
-1,51 ± 0,24  
>100  
21,40 ± 3,47 53,10 ± 1,71 5,69 ± 0,63  
2,15 ±0,61  
0,08 ± 0,28 35,37± 0,32  
59,72± 3,24  
4,07 ± 0,08  
1,95 ± 0,08  
1,56 ± 0,16  
>100  
21,26 ± 2,28 0,17 ± 0,24  
12,10 ± 2,44 -2,07 ± 0,55 -1,08 ± 0,64  
7,92± 0,51  
2,11± 0,20  
59,57±2,07  
4,40 ± 1,97  
-3,62 ± 0,24 -2,53 ± 0,13  
>100 >100  
90,20±7,38  
*Quercertin được sử dụng làm chất đối chứng dương.  
4. KẾT LUẬN  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã phân lập được năm hợp chất từ phần trên  
mặt đất của cây an xoa thu tại Gia Lai dựa vào các phương pháp sắc ký khác nhau. Cấu  
trúc hóa học của chúng được các định là 4,5-dihydroblumenol A (1), kaempferol-3-β-D-  
(6-O-trans-p-coumaroyl)glucopyranoside (2), 3,4ʹ,7,8-tetrahydroxyflavone (3), 2-O-β-D-  
glucopyranosyl methyl salicylate (4), 3-O-methylquercetin (5). Kết quả đánh giá tác  
dụng bảo vệ gan của các hợp chất phân lập được cho thấy, hợp chất 2 và 3 có tác dụng  
72  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 2 (2021)  
bảo vệ gan khá tốt. Trong đó, hợp chất 3 có tác dụng tốt nhất với giá trị EC50 = 90,20  
µg/mL. Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần trên mặt đất cây an xoa có khả năng ứng  
dụng làm thuốc bảo vệ gan. Tuy nhiên, các nghiên cứu tiếp theo về hoạt tính này cần  
được thực hiện trên mô hình động vật thử nghiệm để làm cho nhận định trên được vững  
chắc hơn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Võ Văn Chi (2012), Từ điển cây thuốc Việt Nam (Bộ mới), x.b. 1, tập 2. NXB Y học, tr 459.  
[2] Viện Dược liệu (2016), Danh lục cây thuốc Việt Nam, x.b.1. NXB Khoa học và Kỹ thuật, tr 893.  
[3] Nguyễn Hữu Duyên và Lê Thanh Phước (2016). Khảo sát thành phần hóa học và hoạt tính  
gây độc tế bào HepG2 của cây an xoa (Helicteres hirsuta L.). Tạp chí Khoa học Trường Đại học  
Cần Thơ, 47, 93-97.  
[4] Diem, T. T. D., Trinh, H. T., Le, T. K. L., Dao, V. T., Le, T. P. H. (2018). Second metalbolites  
and antioxidant, antimicrobial, anticancer activities of Helicteres hirsuta root extract. Academia  
Journal of Biology, 40(3), 45-51.  
[5] Pham, H. D., Phong, T. T. H., Le, T. K. L., Dang, N. Q. (2018). Cytotoxic constituents from  
aerial parts of Helicteres hirsuta collected in Binh Phuoc province. Hue University Journal of  
Science: Natural Science, 127(1A), 111-117.  
[6] Nguyen, T. T., Nguyen, T. T. H., Ba, T. C., Le, T. T. A., Nguyen, V. T., Phan, V. K. (2019). A  
new benzofuran derivative from the stems of Helicteres hircuta. at. Prod.  
[7] Le, T. H., Le, L. S., Nguyen, M. N., Vo, T. T. V., Tran, T. V. T. (2018). Determination of methyl  
gallate and rutin from Helicteres hirsuta by HPLC and using methyl gallate content as a  
marker for the evaluation of antioxidant capacity. Vietnam J. Chem., 56(6E1), 342-346.  
[8] Dang, N. Q., Pham, T. C., Le, T. K. L., Ta, N. Q., Dang, N. K., Pham, H. D. (2018). Cytotoxic  
constituents  
from  
Helicteres  
hirsuta  
collected  
in  
Vietnam. Nat.  
Prod.  
[9] Nguyen, T. T., Nadine, K., Eva-Maria, P. W., Olaf, K., Rudolf, B. (2019). Triterpenoidal and  
phenolic compounds isolated from the aerial parts of Helicteres hirsuta and their cytotoxicity  
on several cancer cell lines. Prod. Commun., 14(1), 7-10.  
[10] Phạm Hoàng Hộ (1999). Cây cỏ Việt Nam, x.b.1, tập 3. NXB Trẻ, tr 189.  
[11] Özerkan, D., Özsoy, N., & Yılmaz, E. (2015). Vitamin D and melatonin protect the cell’s  
viability and ameliorate the CCl4 induced cytotoxicity in HepG2 and Hep3B hepatoma cell  
lines. Cytotechnology, 67(6), 995–1002.  
[12] Otsuka, H., Yao, M., Kamada, K., Takeda, Y. 1995. Alangionosides G-M: Glycosides of  
megastigmane derivatives from the leaves of Alangium premnifolium. Chem. Pharm. Bull., 43,  
754-759.  
[13] Sachiko, T., Kyoko, T., Maki, A., Hiroyuki, O., Hiroshi, H., Eiji, I., and Tomihisa, O. (2004).  
Isolation of cytochrome P450 inhibitors from strawberry fruit, Fragaria ananassa. J. Nat. Prod.,  
73  
Hoạt tính bảo vệ gan của các hợp chất phân lập từ cây an xoa (Helicteres Hirsuta) thu hái ở Gia Lai  
67(11), 1839–1841.  
[14] María, A. P., María, J. B., José, M. S., Juan, A. O., Enrique, J. C., Alicia, M. G. 2009. Flavonoids,  
benzoic acids and cinnamic acids isolated from shoots and roots of Italian rye grass (Lolium  
multiflorum Lam.) with and without endophyte association and arbuscular mycorrhizal  
fungus. Biochem. Syst. Ecol. 37, 245–253.  
[15] Silvia, C., Domenico, M., Graziano, G., Urska, V., Fulvio, M. 2019. Methyl salicylate  
glycosides in some Italian varietal wines. Molecules, 24, 3260-2374.  
[16] Liya, L., Geneive, E. H., Navindra, P. S. 2009. Identification and bioactivities of resveratrol  
oligomers and flavonoids from Carex folliculata seeds. J Agric Food Chem. 57(16), 7282–7287.  
HEPATOPROTECTIVE ACTIVITY OF SECONDARY METABOLITES FROM  
HELICTERES HIRSUTA COLLECTED IN GIA LAI  
Huynh Le Nhat Tien, Phan Huynh Xuan Win, Luong Van Tri*  
Le Loi High school, Gia Lai province  
ABSTRACT  
By using various chromatographic methods, five compounds, 4,5-dihydroblumenol  
A
(1), kaempferol-3-β-D-(6-O-trans-p-coumaroyl)glucopyranoside (2), 3,4ʹ,7,8-  
tetrahydroxyflavone (3), 2-O-β-D-glucopyranosyl methyl salicylate (4), 3-O-  
methylquercetin (5) were isolated from the methanol extract of the aerial parts of  
Helicteres hirsuta collected in Gia Lai.Their chemical structures were elucidated by  
using 1D, 2D-NMR and comparison with the published data. All isolated  
compounds (1-5) were evaluated for hepatoprotective potential against carbon  
tetrachloride (CCl4) induced tocxicity in HepG2 cell line. Compound 3 showed  
significantly heptatoprotective activity with EC50 value of 92,20 µg/mL.  
Keywords: An xoa, Helicteres hirsuta, hepatoprotective activity.  
Lương Văn Tri sinh ngày 10 thánh 09 năm 1981 tại Quảng Ngãi. Ông tốt  
nghiệp cử nhân Hóa học tại Trường Đại học Quy nhơn năm 2004, nhận  
bằng thạc sĩ chuyên ngành Hóa lý thuyết và hóa lý tại trường Đại học  
Quy nhơn năm 2017. Hiện nay ông giảng dạy tại trường THPT Lê Lợi,  
thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai..  
Lĩnh vực nghiên cứu: Vật liệu nano, hóa sinh.  
74  
pdf 10 trang yennguyen 8400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoạt tính bảo vệ gan của các hợp chất phân lập từ cây an xoa (Helicteres hirsuta) thu hái ở Gia Lai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoat_tinh_bao_ve_gan_cua_cac_hop_chat_phan_lap_tu_cay_an_xoa.pdf