Giáo trình Kỹ thuật an toàn và bảo hộ lao động - Nghề: Hàn

3
Tr êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai  
-
LỜI NÓI ĐẦU  
Giáo trình môn học Kỹ thuật an toàn và bảo hộ lao động được biên soạn theo  
chương trình đào tạo trung cấp nghề Hàn do Hiệu trưởng Trường Trung cấp nghề  
Lào Cai ban hành ngày 30 tháng 9 năm 2010.  
Kỹ thuật an toàn và bảo hộ lao động là môn học lý thuyết cơ sở bắt buộc, nhằm  
cung cấp cho người học những kiến thức về quyền lợi và nghĩa vụ của người lao  
động, kỹ thuật an toàn và vệ sinh công nghiệp cũng như biện pháp phòng chống cháy  
nổ … Nội dung giáo trình được biên soạn với tinh thần phân tích và trình bày ngắn  
gọn, dễ hiểu. Các kiến thức trong toàn bộ giáo trình có mối liên hệ chặt chẽ và lôgíc,  
để gắn lý thuyết với thực tế.  
Nội dung của giáo trình được biên soạn gồm 4 chương:  
Chương 1: Bảo hộ lao động  
Chương 2: Kỹ thuật an toàn  
Chương 3: Kỹ thuật vệ sinh  
Chương 4: Phòng chống cháy nổ  
Trong quá trình biên soạn mặc dù đã cố gắng, nhưng chắc chắn không tránh  
khỏi những thiếu sót do thời gian biên soạn còn ngắn và trình độ còn hạn chế. Rất  
mong được sự góp ý của người sử dụng để giáo trình được hoàn thiện hơn.  
Lào Cai, tháng .. năm 2017  
Nhóm tác giả  
Hoàng Anh Thái  
4
Tr êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai  
-
HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH  
1. Một số điểm chính về phương pháp giảng dạy môn học.  
Khi giảng dạy cần sử dụng chuẩn bị các loại tranh treo tường, các mô hình vật  
thật hoặc các thiết bị máy chiếu mô tả cấu tạo, nguyên lý làm việc và kỹ thuật sử  
dụng các thiết bị phòng chống cháy, nổ, phương tiện cứu thương.  
Bố trí thời gian thực hành môn học theo từng chương hoặc khi kết thúc phần lý  
thuyết tuỳ vào điều kiện thực tế của các trường.  
2. Những trọng tâm chương trình cần chú ý.  
Giáo viên thao tác mẫu về phương pháp sơ cứu người bị nạn, vận hành thiết bị  
và tổ chức thực hành theo tổ, nhóm  
5
Tr êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai  
-
MỤC LỤC  
Trang  
LỜI NÓI ĐẦU  
4
HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN GIÁO TRÌNH  
MỤC LỤC  
5
6
Chương 1: Bảo hộ lao động  
7
1. Mục đích và ý nghĩa của công tác bảo hộ lao động.  
2. Tính chất của công tác bảo hộ lao động.  
3. Trách nhiệm đối với công tác bảo hộ lao động.  
4. Nội dung của công tác bảo hộ lao động.  
7
9
10  
13  
Chương 2: Kỹ thuật an toàn  
18  
1. An toàn điện.  
18  
24  
2. An toàn lao động.  
Chương 3: Kỹ thuật vệ sinh  
29  
29  
30  
1. Những vấn đề chung về kỹ thuật vệ sinh lao động.  
2. Các nhân tố ảnh hưởng và biện pháp phòng chống  
bệnh nghề nghiệp.  
Chương 4: Phòng chống cháy nổ  
1. Khái niệm về cháy nổ  
47  
47  
47  
48  
2. Nguyên nhân gây ra cháy nổ.  
3. Phương pháp phòng chống cháy nổ.  
Tài liệu cần tham khảo  
51  
6
Tr êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai  
-
CHƯƠNG 1: BẢO HỘ LAO ĐỘNG  
1. MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA CÔNG TÁC BHLĐ.  
1.1. Mục đích của công tác BHLĐ.  
Là thông qua các biện pháp về khoa học kỹ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội để  
loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại được phát sinh trong quá trình sản xuất; từ đó  
cải thiện điều kiện lao động hoặc tạo điều kiện an toàn trong lao động, ngăn ngừa  
bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau làm giảm sút sức khoẻ cũng như những thiệt hại  
khác đối với người lao động; nhằm bảo vệ sức khoẻ, đảm bảo an toàn về tính mạng  
người lao động và cơ sở vật chất, góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất,  
tăng năng suất lao động.  
1.2. Ý nghĩa của công tác BHLĐ.  
Bảo hộ lao động (BHLĐ) trước hết là phạm trù của lao động sản xuất, do yêu  
cầu của sản xuất và gắn liền với quá trình sản xuất. Bảo hộ lao động mang lại niềm  
vui, hạnh phúc cho mọi người nên nó mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Mặt khác, nhờ  
chăm lo sức khoẻ của người lao động mà công tác BHLĐ mang lại hiệu quả xã hội  
và nhân đạo rất cao.  
BHLĐ là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, là nhiệm vụ quan trọng  
không thể thiếu được trong các dự án, thiết kế, điều hành và triển khai sản xuất.  
BHLĐ mang lại những lợi ích về kinh tế, chính trị và xã hội. Lao động tạo ra của cải  
vật chất, làm cho xã hội tồn tại và phát triển. Bất cứ dưới chế độ xã hội nào, lao động  
của con người cũng là yếu tố quyết định nhất. Xây dựng giàu có, tự do, dân chủ cũng  
là nhờ người lao động. Trí thức mở mang cũng nhờ lao động (lao động trí óc) vì vậy  
lao động là động lực chính của sự tiến bộ loài người .  
Ở nước ta, trước cách mạng tháng Tám, trong thời kỳ kháng chiến ở vùng tạm  
chiến của Pháp và ở miền Nam dưới chế độ thực dân mới của Mỹ tình cảnh người  
lao động rất điêu đứng, tai nạn lao động xảy ra lại càng nghiêm trọng.  
Các nhà lý luận tư sản lập luận rằng: “Tai nạn lao động trong sản xuất là không  
thể tránh khỏi, khi năng suất lao động tăng thì tai nạn lao động cũng tăng lên theo”.  
Họ nêu lên lý lẽ như vậy nhằm xoa dịu sự đấu tranh của giai cấp công nhân và che  
dấu tình trạng sản xuất thiếu các biện pháp an toàn.  
Thực ra, số tai nạn xảy ra hàng năm ở các nước tư bản tăng lên có những  
nguyên nhân của nó. Chẳng hạn, công nhân phải làm việc với cường độ lao động quá  
cao, thời gian quá dài, thiết bị sản xuất thiếu các cơ cấu an toàn cần thiết. Nơi làm  
việc không đảm bảo có điều kiện vệ sinh, chưa có chế độ bồi dưỡng thích đáng đối  
với người lao động v.v...  
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, khi người lao động đã được hoàn toàn giải  
phóng và trở thành người chủ xã hội, lao động đã trở thành vinh dự và nghĩa vụ  
thiêng liêng của con người. Bảo hộ lao động trở thành chính sách lớn của đảng và  
7
Tr êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai  
-
nhà nước. V.I. LêNin viết: Sau nhiều thế kỷ phải lao động cho người khác, phải lao  
động nô lệ cho bọn bóc lột, lần đầu tiên con người đã có thể lao động cho mình và có  
thể dựa vào tất cả các thành quả của kỹ thuật và của văn hoá hiện đại mà làm việc.  
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng làm điều  
khiển làm việc được vệ sinh, hàng triệu công nhân thoát khỏi cảnh khói, bụi và biến  
đổi các xưởng bẩn thỉu, hôi hám thành những phòng thí nghiệm sạch sẽ, sáng sủa,  
xứng đáng với con người.  
Ở nước ta, công tác bảo hộ lao động được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan  
tâm. Ngay trong thời kỳ bí mật, Đảng đã kêu gọi công nhân đấu tranh đòi ngày làm 8  
giờ, phản đối việc bắt phụ nữ và thiếu nhi làm việc quá sức, đòi cải thiện điều kiện  
làm việc. Tháng 8 năm 1947, sắc lệnh số 29 - SL được ban hành trong lúc cuộc  
trường kỳ kháng chiến bước vào giai đoạn gay go. Đây là sắc lệnh đầu tiên về lao  
động của nước Việt Nam Dân Chủ công hoà, trong đó có nhiều khoản về bảo hộ lao  
động. Điều 133 của sắc lệnh quy định “Các xí nghiệp phải có đủ phương tiện để bảo  
an và giữ gìn sức khoẻ cho công nhân...”  
Điều 140 quy định: Những nơi làm việc phải rộng rãi, thoáng khí và có ánh  
sáng mặt trời. Những nơi làm việc phải cách hẳn nhà tiêu, những cống rãnh, để tránh  
mùi hôi thối, đảm bảo vệ sinh môi trường làm việc. Ngày 22-5-1950, Nhà nước đã  
ban hành sắc lệnh số 77/SL quy định thời gian làm việc, nghĩ ngơi và tiền lương làm  
thêm giờ cho công nhân.  
Sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, toàn dân ta bước vào thời kỳ khôi  
phục và phát triển kinh tế. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, số lượng công nhân ít  
ỏi, tiến thẳng lên một xã hội chủ nghĩa có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, việc  
đào tạo một đội ngũ công nhân đông đảo là một nhiệm vụ cấp bách. Trong tình hình  
đó, công tác bảo hộ lao động lại trở nên cực kỳ quan trọng.  
Hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 (Đại hội III) đã vạch rõ:  
Phải hết sức quan tâm đến việc đảm bảo an toàn lao động, cải thiện điều kiện lao  
động, chăm lo sức khoẻ của công nhân. Tích cực thực hiện mọi biện pháp cần thiết  
để bảo hộ lao động cho công nhân.  
Chỉ thị 132-CT ngày 13-3-1959 của Ban Bí Thư Trung ương Đảng có đoạn  
viết: “ Công tác bảo vệ lao động phục vụ trực tiếp cho sản xuất và không thể tách rời  
sản xuất. Bảo vệ tốt sức lao động của người sản xuất là một yếu tố quan trọng để đẩy  
mạnh sản xuất phát triển, xem nhẹ bảo đảm an toàn lao động là biểu hiện thiếu quan  
điểm quần chúng trong sản xuất ”.  
Trong những năm chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, ta vẫn triển khai công  
tác nghiên cứu khoa học về bảo hộ lao động. Bộ phận nghiên cứu vệ sinh lao động và  
bệnh nghề nghiệp của Viện vệ sinh dịch tễ được thành lập và từ năm 1961 đến nay  
đã hoàn thành nhiều công trình nghiên cứu, phục vụ công nghiệp có giá trị. Năm  
1971, Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động trực thuộc Tổng Công  
Đoàn Việt Nam đã được thành lập và đang hoạt động có hiệu quả. Môn học “ Bảo hộ  
lao động ” đã được các trường Đại học, trung học chuyên nghiệp và các trường dạy  
8
Tr êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai  
-
nghề đưa vào chương trình giảng dạy chính khóa.  
Ngày nay, công tác bảo hộ đã được nâng lên một tầm cao mới. Hàng tuần công  
nhân chỉ phải làm việc 5 ngày, các công xưởng, xí nghiệp phải được kiểm tra công  
tác bảo an định kỳ và chặt chẻ. Tổng công đoàn Việt nam có các phân viện BHLĐ  
đóng ở các Miền để kiểm tra và đôn đốc việc thực hiên công tác bảo an.  
2. TÍNH CHẤT CỦA CÔNG TÁC BHLĐ.  
BHLĐ Có 3 tính chất chủ yếu là: Pháp lý, Khoa học kỹ thuật và tính  
quần chúng.  
2.1. BHLĐ mang tính chất pháp lý.  
Những quy định và nội dung về BHLĐ được thể chế hoá chúng thành những  
luật lệ, chế độ chính sách, tiêu chuẩn và được hướng dẫn cho mọi cấp mọi ngành mọi  
tổ chức và cá nhân nghiêm chỉnh thực hiện. Những chính sách, chế độ, quy phạm,  
tiêu chuẩn, được ban hành trong công tác bảo hộ lao động là luật pháp của Nhà nước.  
Xuất phát từ quan điểm: Con người là vốn quý nhất, nên luật pháp về bảo hộ lao  
động được nghiên cứu, xây dựng nhằm bảo vệ con người trong sản xuất, mọi cơ sở  
kinh tế và mọi người tham gia lao động phải có trách nhiệm tham gia nghiên cứu, và  
thực hiện. Đó là tính pháp lý của công tác bảo hộ lao động .  
2.2. BHLĐ mang tính KHKT.  
Mọi hoạt động của BHLĐ nhằm loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại, phòng  
và chống tai nạn, các bệnh nghề nghiệp... đều xuất phát từ những cơ sở của KHKT.  
Các hoạt động điều tra khảo sát phân tích điều kiện lao động, đánh giá ảnh hưởng  
của các yếu tố độc hại đến con người để đề ra các giải pháp chống ô nhiễm, giải pháp  
đảm bảo an toàn đều là những hoạt động khoa học kỹ thuật.  
Hiện nay, việc vận dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào công tác bảo  
hộ lao động ngày càng phổ biến. Trong quá trình kiểm tra mối hàn bằng tia gamma  
(ó), nếu không hiểu biết về tính chất và tác dụng của các tia phóng xạ thì không thể  
có biện pháp phòng tránh có hiệu quả. Nghiên cứu các biện pháp an toàn khi sử dụng  
cần trục, không thể chỉ có hiểu biết về cơ học, sức bền vật liệu mà còn nhiều vấn đề  
khác như sự cân bằng của cần cẩu, tầm với, điều khiển điện, tốc độ nâng chuyên  
v.v...  
Muốn biến điều kiện lao động cực nhọc thành điều kiện làm việc thoải mái,  
muốn loại trừ vĩnh viễn tai nạn lao động trong sản xuất, phải giải quyết nhiều vấn đề  
tổng hợp phức tạp không những phải có hiểu biết về kỹ thuật chiếu sáng, kỹ thuật  
thông gió, cơ khí hoá, tự động hoá v.v... mà còn cần có các kiến thức về tâm lý lao  
động, thẩm mỹ công nghiệp, xã hội học lao động v.v...Vì vậy công tác bảo hộ lao  
động mang tính chất khoa học kỹ thuật tổng hợp.  
2.3. BHLĐ mang tính quần chúng.  
Tất cả mọi người từ người sử dụng lao động đến người lao động đều là đối  
tượng cần được bảo vệ. Đồng thời họ cũng là chủ thể phải tham gia vào công tác  
9
Tr êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai  
-
BHLĐ để bảo vệ mình và bảo vệ người khác.  
Bảo hộ lao động có liên quan đến tất cả mọi người, tham gia sản xuất, công  
nhân là những người thường xuyên tiếp xúc với máy móc, trực tiếp thực hiện các qui  
trình công nghệ v.v... Do đó họ có nhiều khả năng phát hiện những sơ hở trong công  
tác bảo hộ lao động, đóng góp xây dựng, các biện pháp về kỹ thuật an toàn, tham gia  
ý kiến về mẫu mực, quy cách dụng cụ phòng hộ, quần áo làm việc v.v... mà còn cần  
có các kiến thức về tâm lí lao động, thẫm mĩ công nghiệp, xã hội học lao động.  
Mặt khác dù các qui trình, quy phạm an toàn được đề ra tỉ mỉ đến đâu, nhưng  
công nhân chưa được học tập, chưa được thấm nhuần, chưa thấy rõ ý nghĩa và tầm  
quan trọng của nó thì rất dễ vi phạm.  
Muốn làm tốt công tác bảo hộ lao động, phải vận động được đông đảo mọi  
người tham gia. Cho nên BHLĐ chỉ có kết quả khi được mọi cấp, mọi ngành, quan  
tâm, được mọi người lao động tích cực tham gia và tự giác thực hiện các luật lệ, chế  
độ tiêu chuẩn, biện pháp để cải thiện điều kiện làm việc, phòng chống tai nạn lao  
động, bệnh nghề nghiệp.  
BHLĐ là hoạt động hướng về cơ sở sản xuất và con người và trước hết là  
người trực tiếp lao động. Nó liên quan với quần chúng lao động, bảo vệ quyền lợi và  
hạnh phúc cho mọi người, mọi nhà, cho toàn xã hội. Vì thế BHLĐ luôn mang tính  
quần chúng sâu rộng.  
Tóm lại: Ba tính chất trên đây của công tác bảo hộ lao động: tính pháp lý, tính  
khoa học kỹ thuật và tính quần chúng có liên quan mật thiết với nhau và hỗ trợ lẫn  
nhau.  
3. TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI CÔNG TÁC BHLĐ.  
3.1. Thực trạng công tác BHLĐ ở nước ta hiện nay.  
Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn về công tác  
BHLĐ. Các ngành chức năng của nhà nước (Lao động và TBXH, Ytế, tổng liên đoàn  
LĐVN, ... ) đã có nhiều cố gắng trong công tác BHLĐ. Tuy nhiên nhiên cơ quan,  
doanh nghiệp chưa nhận thức một cách nghiêm túc công tác BHLĐ; coi nhẹ hay  
thậm chí vô trách nhiệm với công tác BHLĐ.  
Hệ thống tổ chức quản lý về BHLĐ từ trung ương đến địa phương chưa được  
củng cố. Các văn bản pháp luật về BHLĐ chưa được hoàn chỉnh, việc thực hiện chưa  
nghiêm chỉnh. Điều kiện làm việc còn nhiều nguy cơ đe doạ về an toàn lao động;  
điều kiện vệ sinh lao động bị xuống cấp nghiêm trọng.  
Tình hình tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp còn là thách thức lớn đối với  
nước ta.  
3.2. Nghĩa vụ và quyền của các bên trong công tác BHLĐ.  
3.2.1. Nghĩa vụ và quyền của Nhà nước. Quản lý nhà nước trong BHLĐ.  
(Điều 95, 180, 181 của Bộ luật lao động, điều 17, 18, 19 của NĐ06/CP)  
10  
Tr êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai  
-
- Xây dựng và ban hành pháp luật, chế độ chính sách BHLĐ, hệ thống tiêu  
chuẩn, quy trình, quy phạp về ATLĐ, VSLĐ.  
- Quản lý nhà nước về BHLĐ: hướng dẫn chỉ đạo các ngành các cấp thực hiện  
luật pháp, chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm về ATVSLĐ; kiểm tra  
đôn đốc, thanh tra việc thực hiện. Khen thưởng những cá nhân, đơn vị có thành tích  
xuất sắc và xử lý các vi phạm về ATVSLĐ.  
- Lập chương trình quốc gia về BHLĐ đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã  
hội và ngân sách Nhà nước; đầu tư nghiên cứu khoa học kỹ thuật BHLĐ đào tạo cán  
bộ BHLĐ.  
3.2.2. Nghĩa vụ và Quyền của Người sử dụng lao động.  
a. Người sử dụng lao động có nghĩa vụ sau:  
- Hàng năm khi xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của xí nghiệp phải lập  
kế hoạch, biện pháp ATLĐ, VSLĐ và cải thiện điều kiện lao động.  
- Trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ cá nhân và thực hiện các chế độ khác về  
BHLĐ đối với người lao động theo quy định của nhà nước.  
- Cử người giám sát việc thực hiện các quy định, nội dung, biện pháp ATLĐ,  
VSLĐ trong doanh nghiệp; phối hợp với Công đoàn cơ sở xây dựng và duy trì sự  
hoạt động của mạng lưới an toàn vệ sinh viên.  
- Xây dựng nội quy, quy trình an toàn lao động, vệ sinh lao động phù hợp với  
từng loại máy, thiết bị, vật tư kể cả khi đổi mới công nghệ theo tiêu chuẩn quy định  
của nhà nước.  
- Tổ chức khám định kỳ cho người lao động theo tiêu chuẩn, chế độ quy định.  
- Chấp hành nghiêm chỉnh quy định khai báo, điều tra tai nạn lao động, bệnh  
nghề nghiệp và định kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo kết quả, tình hình thực hiện  
ATLĐ, VSLĐ, cải thiện điều kiện lao động với Sở LĐTBXH nơi doanh nghiệp hoạt  
động.  
b. Người sử dụng lao động có quyền sau:  
- Buộc người lao động phải tuân thủ các quy định, nội quy, biện pháp ATLĐ,  
VSLĐ.  
- Khen thưởng người chấp hành tốt và kỷ luật người vi phạm trong việc thực  
hiện ATLĐ, VSLĐ.  
- Khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quyết định của Thanh tra  
về ATLĐ, VSLĐ nhưng nghiêm chỉnh chấp hành quyết định đó.  
3.2.3. Nghĩa vụ và Quyền của người lao động trong công tác BHLĐ.  
a. Người lao động có nghĩa vụ:  
- Chấp hành các quy định, nội quy về ATLĐ, VSLĐ có liên quan đến công  
việc, nhiệm vụ được giao.  
11  
Tr êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai  
-
- Phải sử dụng và bảo quản các phương tiện bảo vệ cá nhân đã được trang cấp,  
nếu làm mất hoặc hư hỏng thì phải bồi thường.  
- Phải báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện có nguy cơ gây  
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, gây độc hại hoặc sự cố nguy hiểm, tham gia cấp  
cứu và khắc phục hậu quả tai nạn lao động khi có lệnh của người sử dụng lao động.  
b. Người lao động có quyền:  
- Yêu cầu người sử dụng lao động đảm bảo điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh,  
cải thiện điều kiện lao động, trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân, huấn  
luyện, thực hiện biện pháp an toàn vệ sinh lao động.  
- Từ chối làm việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ nguy cơ xảy ra tai nạn  
lao động, đe doạ nghiêm trọng tính mạng, sức khoẻ của mình và phải báo ngay người  
phụ trách trực tiếp, từ chối trở lại làm việc nơi nói trên nếu những nguy cơ đó chưa  
được khắc phục.  
- Khiếu nại và tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi người sử dụng  
lao động vi phạm quy định của Nhà nước hoặc không thực hiện đúng các giao kết về  
ATLĐ, VSLĐ trong hợp đồng lao động, thoả ước lao động.  
3.2.4. Tổ chức Công đoàn.  
BHLĐ là một mặt công tác quan trọng của Công đoàn. Tổ chức Công đoàn  
phải có trách nhiệm và Quyền sau:  
- Tham gia với các cấp chính quyền, cơ quan quản lý và người sử dụng lao  
động xây dựng các văn bản pháp luật, các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh lao động, chế  
độ chính sách về BHLĐ, kế hoạch BHLĐ, các biện pháp đảm bảo an toàn, vệ sinh  
lao động.  
- Tham gia với các cơ quan nhà nước xây dựng chương trình BHLĐ quốc gia,  
tham gia xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, đề tài nghiên cứu KHKT  
BHLĐ. Tổng liên đoàn quản lý và chỉ đạo, các Viện nghiên cứu KHKT BHLĐ, tiến  
hành các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng KHKT BHLĐ.  
- Cử đại diện tham gia vào các đoàn điều tra TNLĐ; phối hợp theo dõi tình  
hình TNLĐ, cháy nổ, bệnh nghề nghiệp.  
- Tham gia việc xét khen thưởng, xử lý các vi phạm về BHLĐ.  
- Thay mặt người lao động ký thoả ước lao động tập thể với người sử dụng lao  
động trong đó có các nội dung BHLĐ.  
- Thực hiện quyền kiểm tra giám sát việc thi hành luật pháp, chế độ, chính  
sách, tiêu chuẩn, quy định về BHLĐ.  
a. Công đoàn doanh nghiệp có 5 nhiệm vụ sau:  
- Thay mặt người lao động ký thoả ước lao động tập thể với người sử dụng lao  
động trong đó có các nội dung BHLĐ.  
- Tuyên truyền vận động, giáo dục người lao động thực hiện tốt các quy định  
12  
Tr êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai  
-
pháp luật về BHLĐ, kiến thức KHKT BHLĐ; chấp hành quy trình, quy phạm, các  
biện pháp làm việc an toàn, đấu tranh với các hiện tượng làm bừa, làm ẩu, vi phạm  
qui trình kỹ thuật an toàn.  
- Động viên khuyến khích người lao động phát huy sáng kiến cải tiến thiết bị,  
máy nhằm cải thiện môi trường làm việc, giảm nhẹ sức lao động.  
- Tổ chức lấy ý kiến tập thể người lao động tham gia xây dựng nội quy, quy  
chế quản lý về ATVSLĐ, xây dựng kế hoạch BHLĐ.  
- Phối hợp tổ chức các hoạt động để đẩy mạnh các phong trào đảm bảo  
ATVSLĐ.  
b. Quyền của Công đoàn các doanh nghiệp:  
- Tham gia xây dựng các quy chế nội quy về quản lý BHLĐ, ATLĐ và VSLĐ  
với người sử dụng lao động.  
- Tham gia các đoàn kiểm tra công tác BHLĐ do doanh nghiệp tổ chức, tham  
gia các cuộc họp kết luận của các đoàn thanh tra, kiểm tra, các đoàn điều tra tai nạn  
lao động.  
- Tham gia điều tra tai nạn lao động, nắm tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề  
nghiệp và việc thực hiện kế hoạch BHLĐ và các biện pháp đảm bảo an toàn, sức  
khoẻ người lao động trong sản xuất.  
4. NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC BHLĐ.  
4.1. Nội dung khoa học kỹ thuật.  
Nội dung khoa học kỹ thuật chiếm một vị trí rất quan trọng, là phần cốt lõi để  
loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại, cải thiện điều kiện lao động.  
Khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động là lệnh vực khoa học rất tổng hợp và liên  
ngành, được hình thành và phát triển trên cơ sở kết hợp và sử dụng thành tựu của  
nhiều ngành khoa học khác nhau, từ khoa học tự nhiên (như toán, vật lý, hoá học,  
sinh học ...) đến khoa học kỹ thuật chuyên ngành và còn liên quan đến các ngành  
kinh tế, xã hội, tâm lý học ...Những nội dung nghiên cứu chính của Khoa học bảo hộ  
lao động bao gồm những vấn đề. ???  
4.2. Khoa học vệ sinh lao động.  
Môi trường xung quanh ảnh hưởng đến điều kiện lao động, và do đó ảnh  
hưởng đến con người, dụng cụ, máy móc thiết bị, ảnh hưởng này còn có khả năng lan  
truyền trong một phạm vi nhất định. Sự chịu đựng quá tải (điều kiện dẫn đến nguyên  
nhân gây bệnh) dẫn đến khả năng sinh ra bệnh nghề nghiệp. Để phòng bệnh nghề  
nghiệp cũng như tạo ra điều kiện tối ưu cho sức khoẻ và tình trạng lành mạnh cho  
người lao động chính là mục đích của vệ sinh lao động.  
Các yếu tố tác động xấu đến hệ thống lao động cần được phát hiện và tối ưu  
hoá. Mục đích này không chỉ nhằm đảm bảo về sức khoẻ và an toàn lao động, đồng  
thời tạo nên những cơ sở cho việc làm giảm sự căng thẳng trong lao động, nâng cao  
13  
Tr êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai  
-
năng suất, hiệu quả kinh tế, điều chỉnh những hoạt động của con người một cách  
thích hợp.  
Với ý nghĩa đó thì điều kiện môi trường lao động là điều kiện xung quanh của  
hệ thống lao động cũng như là thành phần của hệ thống. Thuộc thành phần của hệ  
thống là những điều kiện về không gian, tổ chức, trao đổi cũng như xã hội.  
a. Các yếu tố của môi trường lao động: được đặc trưng bởi các điều kiện xung  
quanh về vật lý, hoá học, vi sinh vật (như các tia bức xạ, rung động, bụi ...). Chúng  
được đánh giá dựa trên cơ sở:  
+ Khả năng lan truyền của các yếu tố môi trường lao động từ nguồn.  
+ Sự lan truyền của các yếu tố này thông qua con người ở vị trí lao  
động.  
b. Mục đích chủ yếu của việc đánh giá các điều kiện xung quanh là:  
+ Đảm bảo sức khoẻ và an toàn lao động.  
+ Tránh căng thẳng trong lao động, tạo khả năng hoàn thành công việc.  
+ Đảm bảo chức năng các trang thiết bị hoạt động tốt.  
+ Tạo hứng thú trong lao động.  
c. Tác động chủ yếu của các yếu tố môi trường lao động đến con người: là  
các yếu tố môi trường lao động về vật lý, hoá học, sinh học ảnh hưởng đến con  
người. Tình trạng sinh lý của cơ thể cũng chịu tác động và phải được điều chỉnh  
thích hợp, xét cả hai mặt tâm lý và sinh lý.  
Tác động của năng suất lao động cũng ảnh hưởng trực tiếp về mặt tâm lý đối  
với người lao động. Vì vậy khi nói đến các yếu tố ảnh hưởng của môi trường lao  
động, phải xét cả các yếu tố tiêu cực như tổn thương, gây nhiễu ... và các yếu tố tích  
cực như yếu tố sử dụng.  
Một điều cần chú ý là sự nhận biết mức độ tác động của các yếu tố khác nhau  
đối với người lao động để có các biện pháp xử lý thích hợp.  
d. Cơ sở về các hình thức vệ sinh lao động: Các hình thức của các yếu tố ảnh  
14  
Tr êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai  
-
hưởng của môi trường lao động là những điều kiện ở chỗ làm việc (Trong nhà máy  
hay văn phòng ...), trạng thái lao động (làm việc ca ngày hay ca đêm ...), yêu cầu của  
nhiệm vụ được giao (lắp ráp, sửa chữa, gia công cơ hay thiết kế, lập chương trình ...)  
và các phương tiện lao động, vật liệu. Phương thức hành động cần chú ý đến các vấn  
đề sau:  
+ Xác định đúng các biện pháp về thiết kế công nghệ, tổ chức và chống lại sự  
lan truyền các yếu tố ảnh hưởng của môi trường lao động (Biện pháp ưu tiên).  
+ Biện pháp chống sự xâm nhập ảnh hưởng xấu của môi trường lao động đến  
chỗ làm việc, chống lan toả (Biện pháp thứ hai).  
+ Hình thức lao động cũng như tổ chức lao động.  
+ Biện pháp tối ưu làm giảm sự căng thẳng trong lao động (Thông qua tác động  
đối kháng).  
+ Các biện pháp cá nhân (Bảo vệ đường hô hấp, tai ...).  
4.3. Cơ sở kỹ thuật an toàn.  
Kỹ thuật an toàn là hệ thống các biện pháp, phương tiện, tổ chức và kỹ thuật  
nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố nguy hiểm gây chấn thương sản xuất  
đối với người lao động.  
a. Phân tích tác động: là phương pháp mô tả và đánh giá những sự cố không  
mong muốn xảy ra. Ví dụ: tai nạn lao động, tai nạn trên đường đi làm, bệnh nghề  
nghiệp, nổ v.v...  
b. Những tiêu chuẩn đặc trưng cho tai nạn lao động là:  
+ Sự cố gây tổn thương và tác động từ bên ngoài.  
+ Sự cố đột ngột.  
+ Sự cố không bình thường.  
+ Hoạt động an toàn  
c. Phân tích tình trạng: là phương pháp đánh giá chung tình trạng an toàn và  
kỹ thuật an toàn của hệ thống lao động. ở đây cần quan tâm là khả năng xuất hiện  
những tổn thương. Phân tích chính xác những khả năng dự phòng trên cơ sở những  
điều kiện lao động và những giả thiết khác nhau.  
4.3. Khoa học về các phương tiện bảo vệ người lao động.  
Ngành khoa học này có nhiệm vụ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo những phương  
tiện bảo vệ tập thể hay cá nhân người lao động để sử dụng trong sản xuất nhằm  
chống lại những ảnh hưởng của các yếu tố nguy hiểm và có hại, khi các biện pháp về  
mặt kỹ thuật an toàn không thể loại trừ được chúng. Ngày nay các phương tiện bảo  
vệ cá nhân như mặt nạ phòng độc, kính màu chống bức xạ, quần áo chống nóng,  
quần áo kháng áp, các loại bao tay, giày, ủng cách điện... là những phương tiện thiết  
yếu trong lao động.  
15  
Tr êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai  
-
4.4. Ecgônômi với an toàn sức khoẻ lao động.  
4.4.1. Khái niệm: Ecgônômi là môn khoa học liên ngành nghiên cứu tổng hợp  
sự thích ứng giữa các phương tiện kỹ thuật và môi trường lao động với khả năng của  
con người về giải phẩu, tâm lý, sinh lý nhằm đảm bảo cho lao động có hiệu quả nhất,  
đồng thời bảo vệ sức khoẻ, an toàn cho con người.  
Ecgônômi tập trung vào sự thích ứng của máy móc, công cụ với người điều  
khiển nhờ vào việc thiết kế. Tập trung vào sự thích nghi giữa người lao động với  
máy móc nhờ sự tuyển chọn và huấn luyện. Tập trung vào việc tối ưu hoá môi trường  
xung quanh thích hợp với con người và sự thích nghi của con người với điều kiện  
môi trường.  
Người lao động phải làm việc trong tư thế gò bó, ngồi hoặc đứng trong thời  
gian dài, thường bị đau lưng, đau cổ và căng thẳng cơ bắp. Hiện tượng bị chói loá do  
chiếu sáng không tốt làm giảm hiệu quả công việc, gây mệt mỏi thị giác và thần  
kinh, tạo nên tâm lý khó chịu.  
Sự khác biệt về chủng tộc và nhân chủng học cần được chú ý, khi nhập khẩu  
hay chuyển giao công nghệ của nước ngoài có sự khác biệt về cấu trúc văn hoá, xã  
hội, có thể dẫn đến hậu quả xấu.  
4.4.2. Những nguyên tắc Ecgônômi trong thiết kế hệ thống lao động:  
+ Cơ sở nhân trắc học, cơ sinh, tâm sinh lý và những đặc tính khác của người  
lao động.  
+ Cơ sở về vệ sinh lao động, về an toàn lao động.  
+ Các yêu cầu về thẩm mỹ kỹ thuật.  
4.4.3. Thiết kế không gian làm việc và phương tiện lao động:  
+ Thích ứng với kích thước người điều khiển  
+ Phù hợp với tư thế của cơ thể con người, lực cơ bắp và chuyển động  
+ Có các tín hiệu, cơ cấu điều khiển, thông tin phản hồi.  
4.4.4. Thiết kế môi trường lao động:  
Môi trường lao động cần phải được thiết kế và bảo đảm tránh được tác động  
có hại của các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học và đạt điều kiện tối ưu cho hoạt động  
chức năng của con người.  
4.4.5. Thiết kế quá trình lao động:  
Thiết kế quá trình lao động nhằm bảo vệ sức khoẻ an toàn cho người lao động,  
tạo cho họ cảm giác dể chịu, thoải mái và dễ dàng thực hiện mục tiêu lao động.  
4.5. Nội dung xây dựng và thực hiện pháp luật về BHLĐ.  
Ở mỗi quốc gia công tác BHLĐ được đưa ra một luật riêng hoặc thành một  
chương về BHLĐ trong bộ luật lao động, ở một số nước, ban hành dưới dạng một  
văn bản dưới luật như pháp lệnh điều lệ...  
16  
Tr êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai  
-
Các nhà lý luận tư sản lập luận rằng: “Tai nạn lao động trong sản xuất là không  
thể tránh khỏi, khi năng suất lao động tăng thì tai nạn lao động cũng tăng lên theo”.  
Họ nêu lên lý lẽ như vậy nhằm xoa dịu sự đấu tranh của giai cấp công nhân và che  
dấu tình trạng sản xuất thiếu các biện pháp an toàn.  
Thực ra, số tai nạn xảy ra hàng năm ở các nước tư bản tăng lên có những  
nguyên nhân của nó. Chẳng hạn, công nhân phải làm việc với cường độ lao động quá  
cao, thời gian quá dài, thiết bị sản xuất thiếu các cơ cấu an toàn cần thiết. Nơi làm  
việc không đảm bảo điều kiện vệ sinh, chưa có chế độ bồi dưỡng thích đáng đối với  
người lao động v.v...  
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, khi người lao động đã được hoàn toàn giải  
phóng và trở thành người chủ xã hội, lao động đã trở thành vinh dự và nghĩa vụ  
thiêng liêng của con người. Bảo hộ lao động trở thành chính sách lớn của Đảng và  
Nhà nước.  
Ở Việt Nam quá trình xây dựng và phát triển hệ thống luật pháp chế độ chính  
sách BHLĐ đã được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm.  
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1  
Câu 1: Nêu mục đích ý nghĩa của công tác Bảo hộ Lao động?  
Câu 2: Trình bày tính chất của công tác bảo hộ lao động?  
Câu 3: Nêu thực trạng công tác BHLĐ ở nước ta?  
Câu 4: Trình bày nghĩa vụ của các bên trong công tác BHLĐ?  
Câu 5: Nêu nội dung khoa học kỹ thuật của công tác BHLĐ?  
17  
Tr êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai  
-
CHƯƠNG 2: KỸ THUẬT AN TOÀN  
1. AN TOÀN ĐIỆN.  
1.1. Những Khái niệm cơ bản về an toàn điện.  
Điện là nguồn năng lượng cơ bản trong các công xưởng, xí nghiệp, từ nông  
thôn đến thành thị. Số người tiếp xúc với điện ngày càng nhiều. Thiếu các hiểu biết  
về an toàn điện, không tuân theo các quy tắc về an toàn điện có thể gây ra tai nạn. Vì  
vậy vấn đề an toàn điện đang trở thành một trong những vấn đề quan trọng của công  
tác bảo hộ lao động.  
Dòng điện đi qua cơ thể con người gây nên phản ứng sinh lý phức tạp như làm  
huỷ hoại bộ phận thần kinh điều khiển các giác quan bên trong của người làm tê liệt  
cơ thịt, sưng màng phổi, huỷ hoại cơ quan hô hấp và tuần hoàn máu.  
Trường hợp chung thì dòng điện có thể làm chết người có trị số khoảng 100  
mA. Tuy vậy có trường hợp trị số dòng điện chỉ khoảng 5 ÷ 10 mA đã làm chết  
người tuỳ thuộc điều kiện nơi xảy ra tai nạn và trạng thái sức khoẻ của nạn nhân.  
1.1.1. Điện trở của người.  
Thân thể người gồm có da thịt xương, thần kinh, máu.v.v.. tạo thành. Lớp da có  
điện trở lớn nhất mà điện trở của da lại do điện trở của lớp sừng trên da (dày khoảng  
0,05 ÷ 0,2 mm) quyết định, xương và da có điện trở tương đối lớn còn thịt và máu có  
điện trở bé. Điện trở của người rất không ổn định và không chỉ phụ thuộc vào trạng  
thái sức khoẻ của cơ thể từng lúc mà còn phụ thuộc vào môi trường xung quanh, điều  
kiện tổn thương.. .  
Khi khô ráo điện trở của người là 10.000 ÷ 100.000 ôm. Nếu mất lớp sừng trên  
da thì điện trở người còn khoảng 800 ÷ 1000 ôm. Điện trở người phụ thuộc vào chiều  
dày lớp sừng da, trạng thái thần kinh của người.  
Mặt khác nếu da người bị dí mạnh trên các cực điện, điện trở da cũng giảm đi.  
Với điện áp bé 50 ÷ 60 V có thể xem điện trở tỷ lệ nghịch với diện tích tiếp xúc.  
Khi có dòng điện đi qua người, da bị đốt nóng, mồ hôi thoát ra và làm điện trở  
người giảm xuống. Thí nghiệm cho thấy:  
- Với dòng điện 0,1 mA điện trở người Rng = 500.000 Ω.  
- Với dòng điện 10 mA điện trở người Rng = 8.000 Ω. Điện trở người giảm tỷ lệ  
với thời gian tác dụng của dòng điện, vì da bị đốt nóng và có sự thay đổi về điện  
phân.  
Ngoài ra còn có hiện tượng chọc thủng khi U > 250 V (có khi chỉ cần 10 ÷ 30  
V) lúc này điện trở người xem như tương đương bị bóc hết lớp da ngoài.  
1.1.2. Tác dụng của dòng điện đối với cơ thể con người.  
Khi con người tiếp xúc với mạng điện, sẽ có dòng điện chạy qua người và dòng  
18  
Tr êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai  
-
điện sẽ tác dụng vào cơ thể con người.  
Dòng điện là yếu tố vật lý trực tiếp gây ra tổn thương khi bị điện giật. Điện trở  
của thân người, điện áp đặt vào người chỉ là những đại lượng làm biến đổi trị số dòng  
điện nói trên mà thôi.  
Tuỳ theo trị số dòng điện, hoàn cảnh xảy ra tai nạn và sức phản xạ của nạn  
nhân mà xác định mức độ nguy hiểm của điện giật.  
Hiện nay với dòng điện xoay chiều tần số 50 - 60 Hz trị số dòng điện an toàn  
lấy bằng 10 mA; với dòng một chiều trị số này lấy bằng 50 mA.  
1.1.3. Ảnh hưởng của thời gian điện giật.  
Thời gian điện giật càng lâu, điện trở người càng bị giảm xuống vì lớp da bị  
nóng dần lên và lớp sừng trên da bị chọc thủng ngày càng tăng dần. Và như vậy tác  
hại của dòng điện với cơ thể người càng tăng lên.  
Khi dòng điện tác động trong thời gian ngắn, thì tính chất nguy hiểm phụ thuộc  
vào nhịp tim đập. Mỗi chu kỳ giãn của tim kéo dài độ 1 giây. Trong chu kỳ có  
khoảng 0,1 sec tim nghỉ làm việc (giữa trạng thái co và giãn) và ở thời điểm này tim  
rất nhạy cảm với dòng điện đi qua nó. Nếu thời gian dòng điện qua người lớn hơn 1  
giây thế nào cũng trùng với thời điểm nói trên của tim. Thí nghiệm cho thấy rằng dù  
dòng điện lớn (gần bằng 10 mA) đi qua người mà không gặp thời điểm nghỉ của tim  
cũng không có nguy hiểm gì.  
Căn cứ vào lý luận trên, ở các mạng cao áp 110 kV, 35 kV, 10 kV, và 6 kV.. tai  
nạn do điện gây ra ít dẫn đến trường hợp tim ngừng đập hay ngừng hô hấp. Với điện  
áp cao dòng điện xuất hiện trước khi người chạm vào vật mang điện, dòng điện này  
tác động rất mạnh vào người và gây cho cơ thể người một phản xạ tức thời. Kết quả  
là hồ quang điện bị dập tắt ngay (hoặc chuyển qua bộ phận bên cạnh), dòng điện chỉ  
tồn tại trong khoảng vài phần của giây. Với thời gian ngắn như vậy rất ít khi làm tim  
ngừng đập hay hô hấp bị tê liệt. Tuy nhiên không nên kết luận điện áp cao không  
nguy hiểm vì dòng điện lớn này qua cơ thể trong thời gian ngắn nhưng có thể đốt  
cháy nghiêm trọng và làm chết người. Hơn nữa khi làm việc trên cao do phản xạ mà  
dễ bị rơi xuống đất rất nguy hiểm.  
Thời gian và điện áp người bị điện giật: theo Uỷ ban điện quốc tế (IEC) quy  
định điện áp và thời gian tiếp xúc cho phép:  
Bảng 2-1. Điện áp và thời gian tiếp xúc cho phép theo IEC  
Điện áp tiếp xúc ( V)  
Thời gian tiếp xúc (s)  
Dòng điện xoay chiều  
Dòng điện một  
chiều  
< 50  
50  
<120  
120  
140  
5
75  
1
19  
Tr êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai  
-
90  
160  
175  
200  
250  
310  
0,5  
0,2  
110  
150  
0,1  
220  
0,05  
0,03  
280  
1.1.4. Đường đi của dòng điện.  
Đường đi của dòng điện qua người: người ta đo phân lượng dòng điện qua tim  
người để đánh giá mức độ nguy hiểm của các con đường dòng điện qua người.  
Qua thí nghiệm nhiều lần và có kết quả sau: Từ tay qua tay  
- Dòng điện đi từ tay qua tay sẽ có 3,3% của dòng điện tổng đi qua tim.  
- Dòng điện đi từ tay phải qua chân sẽ có 6,7% của dòng điện tổng đi qua tim.  
- Dòng điện đi từ chân qua chân sẽ có 0,4% của dòng điện tổng đi qua tim.  
- Dòng điện đi từ tay trái qua chân sẽ có 3,7% của dòng điện tổng đi qua tim.  
1.1.5. Ảnh hưởng của tần số dòng điện.  
Tổng trở của cơ thể con người giảm xuống lúc tần số tăng lên. Tuy nhiên trong  
thực tế thì ngược lại tần số càng tăng thì mức độ nguy hiểm càng giảm. Tần số từ 50  
- 60 Hz là nguy hiểm hơn cả. Khi trị số của tần số bé hoặc lớn hơn trị số nói trên mức  
độ nguy hiểm sẽ giảm xuống.  
1.1.6. Điện áp cho phép.  
Dự đoán trị số dòng điện qua người trong nhiều trường hợp không làm được.  
Xác định giới hạn an toàn cho người không dựa vào “dòng điện an toàn” mà phải  
theo “điện áp cho phép”. Dùng “điện áp cho phép” rất có lợi vì với mỗi mạng điện có  
một điện áp tương đối ổn định. Tiêu chuẩn điện áp cho phép mỗi nước một khác:  
+ ở Ba lan, Thụy sỹ, điện áp cho phép là 50 V.  
+ ở Hà lan, Thụy điển, điện áp cho phép là 24 V.  
+ ở Pháp, điện áp xoay chiều cho phép là 24 V.  
+ ở Nga, tuỳ theo môi trường làm việc điện áp cho phép có thể có các trị số  
khác nhau: 65 V, 36 V, 12 V.  
+ Theo TCVN điện áp cho phép được quy định 42 V (xoay chiều), 110 V (một  
chiều).  
1.2. Các dạng tai nạn điện.  
Tai nạn điện được phân thành 2 dạng: chấn thương do điện và điện giật  
1.2.1. Các chấn thương do điện.  
Chấn thương do điện là sự phá huỷ cục bộ các mô của cơ thể do dòng điện  
hoặc hồ quang điện.  
20  
Tr êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai  
-
- Bỏng điện: Bỏng gây nên do dòng điện qua cơ thể con người hoặc do tác  
động của hồ quang điện, một phần do bột kim loại nóng bắn vào gây bỏng.  
- Co giật cơ: khi có dòng điện qua người, các cơ bị co giật.  
- Viêm mắt do tác dụng của tia cực tím.  
1.2.2. Điện giật.  
Dòng điện qua cơ thể sẽ gây kích thích các mô kèm theo co giật cơ ở các mức  
độ khác nhau:  
- Cơ bị co giật nhưng không bị ngạt.  
- Cơ bị co giật, người bị ngất nhưng vẫn duy trì được hô hấp và tuần hoàn.  
- Người bị ngất, hoạt động của tim và hệ hô hấp bị rối loạn.  
- Chết lâm sàng (không thở, hệ tuần hoàn không hoạt động).  
- Điện giật chiếm một tỷ lệ rất lớn, khoảng 80% trong tai nạn điện và 85% số  
vụ tai nạn điện chết người là do điện giật.  
1.3. Các biện pháp an toàn khi sử dụng điện.  
1.3.1. Các quy tắc chung để đảm bảo an toàn điện.  
Để đảm bảo an toàn điện cần phải thực hiện đúng các quy định:  
- Nhân viên phục vụ điện phải hiểu biết về kỹ thuật điện, hiểu rõ các thiết bị, sơ  
đồ và các bộ phận có thể gây ra nguy hiểm, biết và có khả năng ứng dụng các quy  
phạm về kỹ thuật an toàn điện, biết cấp cứu người bị điện giật.  
- Khi tiếp xúc với mạng điện, cần trèo cao, trong phòng kín ít nhất phải có 2  
người, một người thực hiện công việc còn một người theo dõi và kiểm tra và là người  
lãnh đạo chỉ huy toàn bộ công việc.  
- Phải che chắn các thiết bị và bộ phận của mạng điện để tránh nguy hiểm khi  
tiếp xúc bất ngờ vào vật dẫn điện.  
- Phải chọn đúng điện áp sử dụng và thực hiện nối đất hoặc nối dây trung tính  
các thiết bị điện cũng như thắp sáng theo đúng quy chuẩn.  
- Nghiêm chỉnh sử dụng các thiết bị, dụng cụ an toàn và bảo vệ khi làm việc.  
- Tổ chức kiểm tra vận hành theo đúng các quy tắc an toàn.  
- Phải thường xuyên kiểm tra dự phòng cách điện của các thiết bị cũng như của  
hệ thống điện.  
Thứ tự không đúng trong khi đóng, ngắt mạch điện là nguyên nhân của sự cố  
nghiêm trọng và tai nạn nghiêm trọng cho người vận hành. Vì vậy cần vận hành các  
thiết bị điện theo đúng quy trình với sơ đồ nối dây điện của các đường dây bao gồm  
tình trạng thực tế của các thiết bị điện và những điểm có nối đất. Các thao tác phải  
được tiến hành theo mệnh lệnh, trừ các trường hợp xảy ra tai nạn mới có quyền tự  
động thao tác rồi báo cáo sau.  
21  
Tr êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai  
-
1.3.2. Cấp cứu người bị điện giật.  
a. Tách nạn nhân ra khỏi nguồn điện.  
- Trường hợp cắt được mạch điện.  
Tốt nhất là tức khắc cắt điện bằng những thiết bị đóng cắt gần nhất như: Cầu  
dao, áp tô mát, công tắc điện, cầu chì, hoặc rút phích cắm ...  
Khi cắt điện cần phải chú ý:  
+ Nếu mạch điện bị cắt sẽ mất ánh sáng thì phải chuẩn bị ngay nguồn ánh sáng  
khác để thay thế  
+ Nếu người bị nạn ở trên cao thì phải có phương tiện hứng đỡ.  
+ Nếu không có các thiết bị đóng cắt ở gần có thể dùng búa, rìu cán gỗ... để  
chặt dây điện.  
- Trường hợp không cắt được mạch điện.  
Nếu ở mạch điện hạ áp:  
+ Người đi cấp cứu phải có biện pháp an toàn cá nhân tốt như : Đứng trên bàn,  
ghế gỗ khô, đi dép hoặc ủng cao su, đeo găng cao su để dùng tay kéo nạn nhân tách  
ra khỏi mạch điện.  
+ Nếu không có các phương tiện trên có thể dùng tay nắm áo, quần khô của nạn  
nhân để kéo ra, hoặc dùng gậy gỗ, tre khô gạt dây điện hoặc đẩy nạn nhân để tách ra  
khỏi mạch điện. Cũng có thể dùng kìm cách điện, búa, rìu có cán bằng gỗ để cắt đứt  
dây điện đang gây tai nạn. Tuyệt đối không được chạm trực tiếp vào nạn nhân khi  
không đủ biện pháp an toàn.  
Nếu ở mạch điện cao áp:  
+ Tốt nhất là người đi cứu phải được trang bị các dụng cụ cách điện như : ủng  
và găng tay cách điện, sào cách điện cao áp. Dùng sào cách điện để gạt hoặc đẩy nạn  
nhân ra khỏi mạch điện và lưu ý đến các biện pháp an toàn hứng đỡ nạn nhân.  
+ Trong các trường hợp không đủ khả năng xử lý đối với lưới điện cao áp thì  
tốt nhất phải điện thoại để đơn vị quản lý vận hành thiết bị hoặc báo điều độ cho cắt  
điện ngay.  
b. Các phương pháp cấp cứu.  
- Nạn nhân chưa mất tri giác.  
Nạn nhân chỉ hôn mê bất tỉnh trong chốc lát, còn thở yếu…  
+ Phải đưa nạn nhân đến chỗ thoáng khí  
+ Nới lỏng quần áo, thắt lưng và chăm sóc theo dõi  
+ Khẩn cấp đi mời cán bộ y tế gần nhất đế cấp cứu.  
+ Trường hợp không có y sĩ, bác sĩ thì phải nhanh chóng chuyển nạn nhân  
đến cơ quan y tế gần nhất.  
22  
Tr êng Trung cÊp nghÒ Lµo Cai  
-
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 49 trang yennguyen 16621 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Kỹ thuật an toàn và bảo hộ lao động - Nghề: Hàn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_ky_thuat_an_toan_va_bao_ho_lao_dong_nghe_han.pdf