Giáo trình Dây không bảo vệ và hệ thống chống sét cho căn hộ - Nghề đào tạo: Điện công ngiệp

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI  
GIÁO TRÌNH  
MÔN HỌC: DÂY KHÔNG BẢO VỆ VÀ HỆ THỐNG CHỐNG  
SÉT CHO CĂN HỘ  
NGHỀ ĐÀO TẠO: ĐIỆN CÔNG NGIỆP  
(Áp dụng cho trình độ: Trung cấp)  
LƯU HÀNH NỘI BỘ  
NĂM 2017  
Lời nói đầu  
Việc tổ chức biên soạn giáo trình phục vụ cho đào tạo là một sự cố gắng lớn của  
nhà trường và các giáo viên nhằm từng bước thống nhất nội dung dạy và học cho  
các giáo viên trong tổ bộ môn.  
Nội dung của của giáo trình đã được xây dựng trên cơ sở kế thừa những nội  
dung giảng dạy của các giáo viên, kết hợp với những nội dung mới nhằm đáp ứng  
yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại  
hóa.  
Giáo trình được biên soạn có nhiều hình ảnh thực tế phù hợp với trình độ  
nhận thức của học sinh có trình độ văn hóa 9/12 trở lên, dễ hiểu bổ sung nhiều kiến  
thức mới mở rộng thêm cho nội dung bài học  
Giáo trình được trình bày gồm 8 bài:  
Bài 1 : Khái niệm an toàn điện  
Bài 2 : Các biện pháp an toàn điện  
Bài 3: Thiết bị nối đất và tính toán điện trở nối đất  
Bài 4 : Một số khái niệm liên quan đến chống sét  
Bài 5: Các thiết bị chống sét đánh thẳng  
Bài 6: Các biện pháp chống sét đánh thẳng  
Bài 7: Các biện phấp chống tác dụng thứ cấp của sét  
Bài 8: Tính toán điện trở tản của vật nối đất chống sét  
Bạn đọc và các giáo viên trong trường có thể tìm thấy nhiều điều bổ ích trong cuốn  
giáo trình này.  
Tuy tác giả đã có nhiều cố gắng khi biên soạn, nhưng giáo trình chắc không tránh  
khỏi những khiếm khuyết. Hy vọng nhận được sự góp ý của các giáo viên trong  
trường và bạn đọc để những giáo trình được biên soạn tiếp có chất lượng tốt hơn.  
Xin chân thành cảm ơn.  
MỤC LỤC  
Lời nói đầu  
Bài 1 : Khái niệm an toàn điện  
Trang  
5
1. Tác dụng nguy hiểm của dòng điện khi đi qua người và phân  
loại nhà theo an toàn điện  
2. Phân loại mạng điện theo kiểu nối đất điểm trung tính của nguồn  
điện  
3. Khái niệm về điện trở tản của vật nối đất, điện áp tiếp xúc và  
điện áp bước.  
Bài 2 : Các biện pháp an toàn điện  
1. Nối vỏ hoặc thân kim loại của các thiết bị điện với dây trung tính  
2. Nối vỏ hoặc thân kim loại của các thiết bị điện với đất.  
3. Kết hợp nối đất, vỏ hoặc thân kim loại của thiết bị điện với dùng  
máy cắt so lệch  
Bài 3: Thiết bị nối đất và tính toán điện trở nối đất  
1. Thiết bị nối đất.  
2. Tính toán điện trở nối đất của thiết bị nối đất  
3. Chọn thiết bị nối đất.  
4. Kiểm tra  
Bài 4 : Một số khái niệm liên quan đến chống sét  
1. Sự hình thành của sét và các thông số chính của dòng điện sét  
2. Tác dụng của sét  
Bài 5: Các thiết bị chống sét đánh thẳng  
1. Cột thu sét và phạm vi bảo vệ của cột thu sét  
1.  
2. Dây thu sét và phạm vi bảo vệ của dây thu sét  
3. Lưới thu sét  
Bài 6: Các biện pháp chống sét đánh thẳng  
1.  
2.  
3.  
4.  
1. Đối với công trình cấp 1  
2. Đối với công trình cấp 2  
3. Đối với công trình cấp 3  
4. Phương pháp lắp đặt và lắp đặt hệ thống  
5. Kiểm tra  
Bài 7: Các biện phấp chống tác dụng thứ cấp của sét  
1. Chống cảm ứng tĩnh điện của sét  
2. Chống cảm ứng điện từ của sét  
3. Chống sự xâm nhập điện áp cao của sét từ ngoài vào công trình  
Bài 8: Tính toán điện trở tản của vật nối đất chống sét  
1. Yêu cầu chung khi nối dây mạch phân  
nhánh và mạch chính  
2. Các bước nối dây mạch phân nhánh  
3. Các bước nối dây mạch chính  
4. Đấu nối dây dẫn mạch phân nhánh và mạch chính  
5. Kiểm tra  
BÀI 1: KHÁI NIỆM AN TOÀN ĐIỆN  
1. Tác dụng nguy hiểm của dòng điện khi đi qua người và phân loại nhà theo  
an toàn điện  
Khi tiếp xúc với mạng điện sẽ có dòng điện chạy qua cơ thể con người và  
người sẽ chịu tác động của dòng điện. Có thể chia tác động của dòng điện đối với  
cơ thể con người ra làm hai loại:  
1.1 Tác dụng nguy hiểm của dòng điện khi đi qua người  
1.1.1 Tác động kích thích:  
Phần lớn các trường hợp chết người vì điện giật là do tác động kích thích gây  
nên. Đặc điểm của nó là dòng điện qua người bé (25 100mA), điện áp đặt vào  
người không lớn lắm, thời gian dòng điện đi qua người tương đối ngắn (vài giây).  
Khi người mới chạm vào điện, vì điện trở của người lớn, dòng điện qua người bé,  
tác động của nó chỉ làm bắp thịt tay, ngón tay co quắp lại. Nếu nạn nhân không rời  
khỏi vật mang điện thì điện trở của người giảm dần và dòng điện đi qua người tăng  
lên, hiện tượng co quắp tăng lên. Thời gian tiếp xúc với điện càng lâu càng nguy  
hiểm vì người không còn khả năng tự tách ra khỏi vật mang điện dẫn đến tê liệt  
tuần hoàn máu qua tim và hô hấp. Một đặc điểm của tác động kích thích là không  
thấy rõ chỗ dòng điện vào người và người bị nạn không có thương tích.  
1.2.1 Tác động chấn thương:  
Tác động chấn thương thường xảy ra khi người tiếp xúc với điện áp cao. Khi  
người đến gần vật mang điện (6KV trở lên), tuy chưa chạm phải nhưng vì điện áp  
cao sinh ra hồ quang điện. Dòng điện hồ quang chảy qua người tương đối lớn. Do  
phản xạ tự nhiên của người rất nhanh, ngay lúc ấy người có khuynh hướng tránh xa  
vật mang điện, kết quả là hồ quang chuyển qua vật nối đất gần đấy, vì vậy dòng  
điện qua người trong thời gian rất ngắn, tác động kích thích không gây tê liệt tuần  
hoàn máu và hô hấp, nhưng người bị nạn có thể bị chấn thương hay chết do bị đốt  
cháy da thịt.  
Hồ quang điện sinh ra do thao tác các máy cắt, các cầu dao có phụ tải lớn,  
hay khi ngắn mạch…Nhiệt độ tia hồ quang rất lớn (3000 6000oC), nếu người  
đứng gần vùng tác dụng của hồ quang sẽ bị tai nạn do hồ quang điện gây ra. Một  
phần cơ thể bị huỷ hoại, vết thương do hồ quang gây ra thường sâu và khó chữa.  
Cũng có trường hợp điện giật, tuy dòng điện chưa trực tiếp làm tổn thương  
hay chết người nhưng do co giật hay hoảng hốt mà nạn nhân rơi từ trên cao xuống  
đất nên bị chấn thương hay chết.  
* Những yếu tố chính xác định tình trạng nguy hiểm của người khi bị điện  
giật:  
Dòng điện chạy qua cơ thể con người sẽ làm co giật các bắp thịt, phá hoại  
các quá trình sinh lý bên trong cơ thể dẫn đến tê liệt thần kinh, tê liệt tuần hoàn  
máu, hô hấp. Tính chất tác hại của dòng điện và hậu quả của nó phụ thuộc vào  
nhiều yếu tố: Trị số của dòng điện giật, điện trở của cơ thể con người, đường đi của  
dòng điện qua cơ thể con người, thời gian tác dụng của dòng điện, môi trường xung  
quanh và tình trạng sức khoẻ cơ thể người.  
-
Điện trở của người:  
Cơ thể con người có thể coi như một điện trở. Lớp sừng trên da (dày 0,05   
0.08 mm) có điện trở lớn nhất, xương cũng có điện trở tương đối lớn, còn thịt và  
máu có điện trở bé. Khi người tiếp xúc vào vật mang điện, nếu da khô ráo, không  
có thương tích gì thì điện trở của người có thể đến 10000 Ω đến 100000Ω. Nếu mất  
lớp sừng trên da thì điện trở của người còn khoảng (800 1000)Ω. Điện trở của  
người không phải là trị số cố định mà thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chủ yếu  
là tình trạng của da (da sạch hay bẩn, khô hay ẩm), chiều dày lớp sừng, diện tích và  
áp suất tiếp xúc, điện áp và tần số dòng điện, trạng thái thần kinh của người. Thời  
gian tác dụng của dòng điện càng lâu, điện trở của người giảm xuống vì da càng bị  
nóng, mồ hôi ra càng nhiều.  
-
Trị số dòng điện qua người  
Như đã phân tích ở trên ta thấy rằng, nguy hiểm đối với người là do dòng  
điện chạy qua người. Qua kết quả phân tích các tai nạn về điện xảy ra trên thực tế  
đã rút ra được tác động của dòng điện đối với cơ thể con người như sau:  
Tác động của dòng điện đối với cơ thể con người  
Dòng điện  
(mA)  
Dòng điện xoay chiều tần số  
Dòng điện một chiều  
50 60 Hz  
Bắt đầu thấy tê ngón tay  
Ngón tay tê rất mạnh  
Không có cảm giác  
Không có cảm giác  
0,5 1,5  
2 3  
Đau như kim đâm và thấy  
nóng  
Bắp thịt tay co lại và rung  
5 7  
Tay khó rời vật mang điện nhưng  
có thể rời được, ngón tay, khớp tay, Nóng tăng lên rất mạnh  
bàn tay cảm thấy đau  
8 10  
Tay không thể rời vật mang điện, Nóng tăng lên và có hiện  
20 25  
50 80  
90 100  
đau tăng lên, khó thở.  
tượng co quắp.  
Rất nóng, các bắp thịt co  
quắp, khó thở  
Hô hấp bị tê liệt, tim đập mạnh  
Hô hấp bị tê liệt, nếu kéo dài 3 giây  
thì tim bị tê liệt và ngừng đập  
Hô hấp bị tê liệt  
Từ bảng trên ta thấy rằng, với một trị số dòng điện nhất định , sự tác động  
của nó vào cơ thể con người hầu như không thay đổi. Trong điều kiện bình thường  
với tần số 50 Hz dòng điện xoay chiều an toàn đối với người phải bé hơn 10 mA,  
còn dòng điện một chiều phải bé hơn 50 mA.  
-
Thời gian điện giật:  
Khi thời gian dòng điện chạy qua người tăng lên, do ảnh hưởng phát nóng,  
lớp sừng trên da có thể bị chọc thủng làm cho điện trở của người giảm xuống do đó  
dòng điện qua người tăng lên và càng nguy hiểm.  
Khi dòng điện qua người trong thời gian ngắn thì tính chất nguy hiểm phụ  
thuộc vào nhịp đập của tim. Mỗi chu kỳ co giãn của tim khoảng một giây, trong  
thời gian đó khoảng 0,1 giây tim nghỉ làm việc (giữa trạng thái co giãn). Ở thời  
điểm này tim rất nhạy cảm với dòng điện qua nó. Nếu thời gian dòng điện lớn hơn  
1 giây thì thế nào cũng trùng với thời điểm tim nghỉ nói trên. Thí nghiệm cho thấy  
rằng dù dòng điện lớn (gần 10A) đi qua người mà không gặp thời điểm nghỉ của  
tim thì cũng không nguy hiểm gì.  
Căn cứ vào những lý luận trên chúng ta có thể giải thích tại sao ở các mạng  
điện cao áp như 110 KV, 35 KV, 60 KV, 6 KV…tai nạn do điện gây ra rất ít dẫn  
đến trường hợp tim ngừng đập hay ngừng hô hấp. Với điện áp cao, dòng điện xuất  
hiện trước khi người chạm vào vật mang điện, nạn nhân chưa kịp chạm vào vật  
mang điện thì hồ quang đã phát sinh và dòng điện qua rất lớn (có thể đến vài A).  
Dòng điện này tác động rất mạnh vào người và gây cho cơ thể người một phản xạ  
phòng thủ rất mãnh liệt và tránh xa vật mang điện, kết quả là hồ quang bị dập tắt  
ngay hoặc chuyển sang vật dẫn điện gần đấy, dòng điện qua người chỉ tồn tại trong  
khoảng vài phần của giây. Với thời gian ngắn như vậy rất ít khi làm cho tim ngừng  
đập hay ngừng hô hấp. Ở vùng da bị đốt cháy sẽ tạo ra lớp cách điện của thân  
người, lớp cách điện này ngăn cách dòng điện qua người rất hiệu quả. Tuy nhiên  
không thể kết luận điện áp cao không gây nguy hiểm cho người vì dòng điện qua  
người trong thời gian ngắn nhưng hồ quang điện có thể đốt cháy nghiêm trọng hoặc  
làm chết người.  
-
Đường đi của dòng điện qua người  
Tùy theo con đường dòng điện đi vào cơ thể con người mà mức độ nguy hiểm khác  
nhau. Ta lấy dòng điện qua tim để đánh giá mức độ nguy hiểm của các con đường  
dòng điện qua người. Điều chủ yếu là có bao nhiêu phần trăm dòng điện tổng qua  
tim và cơ quan hô hấp. Thực nghiệm cho thấy:  
+ Dòng điện đi từ tay sang tay có 3,3% dòng điện tổng qua tim.  
+ Dòng điện đi từ tay trái sang chân có 6,7% dòng điện tổng qua tim.  
+ Dòng điện đi từ tay phải sang chân có 3,7% dòng điện tổng qua tim.  
+ Dòng điện đi từ chân sang chân có 0,4% dòng điện tổng qua tim.  
Như vậy dòng điện nguy hiểm đối với con người phụ thuộc vào trường hợp bị điện  
giật. Nguy hiểm nhất là trường hợp dòng điện đi từ tay trái xuống chân vì lượng  
dòng điện qua tim là lớn nhất ( 6,7%). Tuy nhiên ta cũng không nên cho rằng dòng  
điện đi từ chân sang chân là không nguy hiểm vì khi đó ta sẽ chịu một điện áp bước  
giữa hai chân người các cơ bắp bị co rút lại làm chúng ta ngã xuống, lúc đó sơ đồ  
mạch điện sẽ khác đi, mức độ nguy hiểm sẽ lớn hơn.  
-
Tần số dòng điện  
Tần số dòng điện xoay chiều cũng có ảnh hưởng nhiều đến tai nạn về điện.  
Qua nghiên cứu thấy rằng, với tần số 50 60 Hz là nguy hiểm hơn cả. Tần số càng  
cao càng ít nguy hiểm. Tần số trên 500.000 Hz không giật nhưng có thể gây bỏng.  
-
Môi trường xung quanh  
Nhiệt độ và đặc biệt là độ ẩm cũng có ảnh hưởng đến điện trở của người và các vật  
cách điện, do đó cũng làm thay đổi dòng điện qua người.  
Hiện nay ở nước ta điện đã được sử dụng rộng rãi trong các xí nghiệp, công  
trường, nông trường, từ thành thị đến nông thôn, số người tiếp xúc với điện ngày  
càng nhiều. Vì vậy vấn đề an toàn điện đang trở thành một trong những vấn đề  
quan trọng của công tác bảo hộ lao động.  
Thiếu các hiểu biết về an toàn điện, không tuân theo các quy tắc về kỹ thuật  
an toàn điện có thể gây ra tai nạn. Khác với các loại máy cơ khí, nguy hiểm về điện  
nhiều khi khó phát hiện được bằng giác quan như nghe, nhìn, ngửi mà chỉ có thể  
biết được khi tiếp xúc với các phần tử mang điện, xong lúc đó có thể bị chấn  
thương trầm trọng, thậm chí chết người. Chính vì thế cần hiểu những khái niệm cơ  
bản về an toàn điện.  
1.2 Phân loại xí nghiệp theo an toàn điện  
Môi trường xung quanh như bụi, độ ẩm , nhiệt độ, …ảnh hưởng rất lớnđến tại  
nạnđiện giật vì vậy theo quyđịnh an toànđiện các xí nghiệp (hay nơiđặt thiết bị  
điện) được chia ra  
Nơi (Xí nghiệp) nguy hiểm: Đó là nơi có một trong các yếu tố sau :  
Ẩm (độ ẩm tương đốI của không khí vượt quá 75% trong thờI gian dài.  
Có bụI dẫnđiện (bụI dẫn điện bám vào dây dẫn , hay lọt vào trong thiết bị điện)  
Có nền,sàn nhà dẫn điện (sàn bằng kim loại, đất, bê tong cốt thép hoặc gạch)  
- Có nhiệt độ cao (nhiệt độvượt quá 350C trong thờI gian dài hơn 1 ngày  
đêm.  
Những nơi mà ngườiđồng thời tiếp xúc với 1 bên là các kết cấu kim loại của nhà  
cửa, máy móc, thiết bị…đã được nối đất và 1 bên là vỏ kim loạI của các thiết bị  
điện.  
b.Những nơi (Xí nghiệp) đặc biệt nguy hiểm là nơi có 1 trong các yếu tố sau:  
Rất ẩm: độ ẩm tương đối của không khí xấp xỉ 100% (Trần, tường, sàn nhà và đồ  
vật trong nhà có đọng sương)  
Môi trường có hoạt tính hoá học: Thường xuyên hay trong thờI gian dàichứa hơi,  
khí,chất lỏng có thể dẫn đến phá huỷ cách điện và các bộ phận mang điện của thiết  
bị điện.  
Đồng thời có từ hai hay nhiều hơn các yếu tố của nơi nguy hiểm đã kể ở trên, ví dụ  
như vừa ẩm vừa có sàn nhà dẫn điện .  
Nơi it nguy hiểm: Là nơi không thuộc 2 loại trên.  
2. Phân loại mạng điện theo kiểu nối đất điểm trung tính của nguồn điện  
2.1 Nối đất bảo vệ  
a. Khái niệm chung  
Bảo vệ nối đất là một trong những biện pháp bảo vệ an toàn cơ bản đã được áp  
dụng từ lâu. Bảo vệ nối đất là nối tất cả các phần kim loại của thiết bị điện hoặc của  
các kết cấu kim loại mà có thể xuất hiện điện áp khi cách điện bị hư hỏng với hệ  
thống nối đất.  
b. Mục đích, ý nghĩa của nối đất bảo vệ  
- Mục đích: Bảo vệ nối đất nhằm bảo vệ an toàn cho người khi người tiếp xúc với  
thiết bị đã bị chạm vỏ bằng cách giảm điện áp trên vỏ thiết bị xuống một trị số an  
toàn.  
- Chú ý: Ở đây ta hiểu chạm vỏ là hiện tượng một pha nào đó bị hỏng cách điện và  
có sự tiếp xúc điện với vỏ thiết bị.  
- Ý nghĩa: Để hiểu rõ ý nghĩa của bảo vệ nối đất ta xét mạng điện đơn giản sau  
Giả sử thiết bị điện được nối vào mạch điện xoay chiều một pha (hay một  
chiều) như hình vẽ. Vỏ của thiết bị được nối đất, nghĩa là nối với các ống kim loại  
hay thanh kim loại chôn trong đất, có điện trở tản là Rđ, khi cách điện của thiết bị bị  
chọc thủng thì dòng điện tản trong đất sẽ là Iđ. Nếu người tiếp xúc với vỏ thiết bị  
điên, người sẽ chịu tác dụng của dòng điện là Ing.  
Gọi R1, R2 là điện trở cách điện của dây dẫn 1 và 2 đối với đất; Rng là điện  
trở của người  
2
2
U
1
R2  
R
1  
Rng  
I
ng  
U
R
2  
Thiết bị  
R1  
Rđ  
Rng  
Ung  
Rđ  
Iđ  
1
Hình2.9  
Hình  
Xét sơ đồ tương đương hình b ta thấy:  
Ung = U - UR2  
Mà  
(2.7)  
(2.8)  
(2.9)  
Ing = IR2 - Iđ - IR1  
U R  
U ng Ung  
2
Ing   
R2  
Rd  
R1  
Trong đó R2, R1, cố định nên dòng điện đi qua người phụ thuộc rất lớn vào  
điện trở nối đất. Dòng điện Iđ càng lớn thì dòng điện Ing càng nhỏ hay Rđ càng nhỏ  
thì Ing càng nhỏ và khả năng an toàn càng cao. Vậy để đảm bảo an toàn cho người,  
vỏ các thiết bị điện phải được nối đất.  
Trong các tài liệu và quy trình hiện hành, trị số điện trở R0 quy định như sau:  
- Đối với các thiết bị điện áp tới 1000 V trong các lưới điện có điểm trung  
tính cách điện với đất: trị số điện trở Rđ không quá 4, có thể cho phép tới 10khi  
công suất của nguồn dưới 100KVA.  
- Đối với các thiết bị điện áp trên 1000 V trong các lưới trung tính cách điện  
với đất.  
+ Khi nối đất bảo vệ chỉ sử dụng riêng cho các thiết bị điện trên 1000V, trị  
số điện trở Rđ được xác định theo Rđ 250/Id .  
+ Khi nối đất bảo vệ được sử dụng chung cho các thiết bị điện trên 1000V,  
trị số điện trở Rđ được xác định theo Rđ 125/Id .  
- Đối với các thiết bị điện áp trên 1000 V có trung tính trực tiếp nối đất. Điện  
trở nối đất được quy định 5 .  
c. Phạm vi bảo vệ nối đất  
Bảo vệ nối đất được áp dụng với tất cả các thiết bị có điện áp >1000V lẫn thiết bị  
có điện áp <1000V tuy nhiên trong mỗi trường hợp là khác nhau.  
-
Đối với các thiết bị có điện áp > 1000V thì bảo vệ nối đất phải được áp dụng  
trong mọi trường hợp, không phụ thuộc vào chế độ làm việc của trung tính và loại  
nhà cửa.  
-
Đối với các thiết bị có điện áp < 1000V thì việc có áp dụng bảo vệ nối đất  
hay không là phụ thuộc vào chế độ làm việc của trung tính. Khi trung tính cách  
điện đối với đất thì phải áp dụng bảo vệ nối đất còn nếu trung tính nối đất thì thay  
bảo vệ nối đất bằng biện pháp bảo vệ nối dây trung tính.  
Trong mạng có trung tính cách điện đối với đất điện áp < 1000V thì tùy theo điện  
áp áp mà chia ra các trường hợp sau:  
* Với mạng có trung tính cách điện và điện áp >150V (như các mạng điện 220,  
380, 500...) đều phải được thực hiện nối đất trong tất cả các nhà sản xuất và các  
thiết bị điện đặt ngoài trời không phụ thuộc vào điều kiện môi trường.  
* Khi mạng điện có trung tính cách điện đối với đất từ 150V đến 65V (như mạng  
110V) thì cho phép chỉ cần thực hiện nối đất:  
- Cho các nhà nguy hiểm đặc biệt, nhà có khả năng dễ cháy nổ.  
- Cho các thiết bị điện ngoài trời.  
- Cho các bộ phận kim loại mà con người có thể tiếp xúc đến như: tay cầm, cần  
điều khiển, thiết bị điện.  
* Khi điện áp <65V cho phép không cần thực hiện nối đất bảo vệ trừ các trường  
hợp đặt biệt.  
d. Các hình thức nối đất:  
Người ta sử dụng 2 hình thức nối đất sau:  
Nối đất tập trung:là hình thức dùng một số cọc nối đất tập trung trong đất tại một  
chỗ, một vùng nhất định phía ngoài vùng bảo vệ. Nhược điểm của nối đất tập trung  
là trong nhiều trường hợp nối đất tập trung không thể giảm được điện áp tiếp xúc  
và điện áp đến giá trị an toàn cho người. Theo hình 2.6a điện áp tiếp xúc khi có sự  
chạm vỏ khi tiếp xúc với thiết bị 1là Utx1 nhỏ hơn tiếp xúc với thiết bị 2 (thiết bị 2  
đặt xa vật nối đất từ 20m trở lên).  
Utx1<Utx2=Uđ Với điện áp bước thì ngược lại: Ub1>Ub2. Ta thấy càng xa vật  
nối đất thì điện áp tiếp xúc càng lớn.  
Hình 2.10: Nối đất tập trung  
a. Phân bố điện áp  
b. Sơ đồ mặt bằng nối đất  
1. các cực nối đất  
2.Dây dẫn nối đất chính  
3.Thiết bị điện  
U
Utx  
1
2
1
3
Rđ  
-
Nối đất mạch vòng:  
Để khắc phục nhược điểm của nối đất tập trung người ta sử dụng hình thức nối đất  
mạch vòng. Đó là hình thức dùng nhiều cọc đóng theo chu vi và có thể ở giữa  
khuvực đặt thiết bị điện (hình 2.11).  
Ub Utx Utx  
Ub  
Ub= Iđ.Rđ  
a,  
Mặt cắt theo A-B  
A
Mặt bằng  
B
c,  
b,  
Hình 2.11: Nối đất mạch vòng  
Mặt cắt AB (Hình 9c) chỉ cách xây dựng đường thế hiệu của mỗi ống nối đất riêng  
rẽ và sau đấy cộng tất cả tung độ của các đường cong này lại sẽ có mạng phân bố  
điện áp cho hệ thống nối đất trong vùng bảo vệ (đường liền nét).  
Trên hình (9a) chúng ta thấy rất nhiều điểm trên mặt đất có thế cực đại (các  
điểm nằm trên trục thẳng của vật nối đất), cho nên thế giữa các điểm trong vùng  
bảo  
vệ chênh lệch rất ít do đó giảm được điện áp tiếp xúc cũng như điện áp bước.  
Lưu ý: Ngoài vùng bảo vệ của mạng nối đất đường phân bố điện áp còn rất  
dốc nên điện áp bước nguy hiểm. Để tránh điều này người ta chôn các tấm bằng sắt  
và các tấm sắt này không nối với hệ thống nối đất.  
2.2. Nối trung tính bảo vệ  
a. Khái niệm chung  
Trong mạng điện 3 pha 4 dây điện áp nhỏ hơn 1000V có trung tính trực tiếp nối đất  
người ta không áp dụng hình thức bảo vệ nối đất mà thay nó bằng hình thức bảo vệ  
nối dây trung tính. Trong bảo vệ nối dây trung tính người ta nối các phần kim loại  
của thiết bị điện hoặc các kết cấu kim loại mà những bộ phận đó có thể xuất hiện  
điện áp khi cách điện bị hư hỏng với dây trung tính.  
b. Mục đích và ý nghĩa của bảo vệ nối dây trung tính:  
- Mục đích: Bảo vệ nối dây trung tính nhằm bảo đảm an toàn cho người khi có sự  
chạm vỏ của 1 pha nào đó bằng cách nhanh chóng cắt phần điện có sự chạm vỏ.  
-Ý nghĩa: Bảo vệ nối dây trung tính dùng để thay thế cho bảo vệ nối đất trong các  
mạng điện 3 pha 4 dây điện áp nhỏ hơn 1000 V có trung tính trực tiếp nối đất như ở  
mạng điện 380/ 220 V, 220/ 127 V...ý nghĩa của việc thay thế này xuất phát từ thực  
tế là trong mạng điện 3 pha 4 dây trung tính trực tiếp nối đất mà vẫn áp dụng hình  
thức bảo vệ nối đất thì không thể bảo đảm an toàn cho người.  
Để giải thích điều này, ta nghiên cứu sơ đồ:  
U
Thiết bị  
R0  
Rđ  
Iđ  
Hình 2.12: Nối trung tính bảo vệ  
Khi cách điện của thiết bị bị hỏng (chạm vỏ) thì dòng điện ngắn mạch được xác  
định theo công thức:  
U
Id   
Rd R0  
(2.10)  
Do điện áp lưới không lớn nên dòng điện Iđ không lớn có thể không làm cho  
các thiết bị bảo vệ hoạt động như chảy dây cầu chì hay nhảy aptômat và như vậy  
tình trạng ngắn mạch chạm đất kéo dài, trên vỏ các thiết bị điện cũng tồn tại lâu dài  
điện áp với trị số:  
RdU  
Ud Rd .Id   
Rd R0  
(2.11)  
Nếu Rđ = R0 thì điện áp Uđ có giá trị bằng nửa điện áp pha.  
Để cầu chì và các thiết bị bảo vệ hoạt động cần tăng trị số dòng điện ngắn mạch Id  
bằng cách nối vỏ thiết bị điện với dây trung tính. Như vậy trong lưới điện 3 pha 4  
dây có dây trung tính nối đất thì việc bảo vệ an toàn được thực hiện bằng bảo vệ  
nối dây trung tính – vỏ thiết bị điện hoặc các bộ phận bình thường không mang  
điện khi hỏng cách điện sẽ xuất hiện điện áp đều được nối với dây trung tính.  
Như vậy ý nghĩa của bảo vệ nối dây trung tính là biến sự chạm vỏ của thiết bị thành  
ngắn mạch một pha để các thiết bị bảo vệ cắt nhanh và chắc chắn phần bị chạm vỏ  
bảo đảm an toàn cho người.  
Cần lưu ý rằng bảo vệ nối dây trung tính chỉ tác động tốt khi có sự chạm vỏ thiết bị  
còn khi có sự chạm đất thì bảo vệ nối dây trung tính sẽ không tác dụng bảo vệ vì  
lúc đó dòng chạm đất bé nên có thể các thiết bị bảo vệ không tác động vì vậy sự cố  
chạm đất này sẽ tồn tại lâu dài nguy hiểm (trong mạng trung tính trực tiếp nối đất  
điện áp nhỏ hơn 1000 V cần phân biệt hai khái niệm chạm đất và chạm vỏ).  
c, Phạm vi ứng dụng bảo vệ nối dây trung tính  
Nói chung, không phụ thuộc vào môi trường xung quanh trong các cơ sở sản xuất  
với các mạng điện 3 pha 4 dây điện áp nhỏ hơn 1000V có trung tính trực tiếp nối  
đất phải luôn luôn thực hiện biện pháp bảo vệ nối dây trung tính. Tuy vậy cần lưu ý  
một số điểm sau:  
-
Với các mạng điện 3 pha 4 dây trung tính trực tiếp nối đất, điện áp 220/127V  
cho phép chỉ thực hiện bảo vệ nối dây trung tính trong các trường hợp sau:  
+ Xưởng đặc biệt nguy hiểm về mặt an toàn.  
+ Các thiết bị đặt ngoài trời.  
+ Các bộ phận bằng kim loại của các thiết bị điện mà người thường tiếp xúc như  
tay cầm, cần điều khiển...  
-
Với các phòng làm việc, nhà ở có nền cao ráo thì với điện áp 380/220 V và  
220/127 V (trong mạng có trung tính nối đất) cho phép không cần bảo vệ nối dây  
trung tính.  
-
Trên các đường dây 3 pha 4 dây điện áp 380/220V có trung tính trực tiếp nối  
đất các cột thép, xà thép phải được nối với dây trung tính.  
d, Cách thực hiện bảo vệ nối dây trung tính:  
Khi thực hiện bảo vệ nối dây trung tính thì tất cả các phần kim loại của các thiết bị  
điện, của các kết cấu kim loại (như vỏ thiết bị, khung bệ của thiết bị phân phối  
điện, vỏ kim loại của cáp...) mà có thể xuất hiện điện áp khi có sự cố chạm vỏ đều  
phải được nối một cách chắc chắn với dây trung tính. Trên hình 2.8 cho ta một cách  
thực hiện bảo vệ nối dây trung tính:  
2
1
2
1
1
1
5
6
3
1
4
Hình 2.13: Ví dụ về nối dây trung tính các thiết bị  
1 - Điểm nối vỏ thiết bị với dây trung tính.  
2 - Thiết bị đóng cắt bảo vệ (cầu dao, áp tô mát...)  
3 - Đèn chiếu sáng. 4 - Thiết bị 2 pha.  
5 - Thiết bị 3 pha. 6 - Nối đất lặp lại dây trung tính.  
-
Khi thực hiện bảo vệ nối dây trung tính cần lưu ý những điểm sau:  
+ Tránh làm hở mạch dây trung tính người ta quy định rằng dây trung tính không  
được đặt cầu chì, cầu dao hoặc các thiết bị đóng cắt khác (trừ trường hợp đặc biệt  
khi cắt đồng thời các dây pha và dây trung tính). Ví dụ như ở hình 2-9a nếu đặt cầu  
dao K ở mạch dây trung tính, thì lúc hở mạch (cầu dao K hở) mà người chạm vào  
vỏ thiết bị có nối dây trung tính sẽ có dòng điện nguy hiểm qua người ngay cả khi  
cách điện tốt.  
+ Quy định rằng dây nối trung tính bảo vệ phải dùng một dây riêng, dây này không  
được đồng thời dùng làm dây dẫn điện, như hình 2.14a  
+ Trong mạng có trung tính trực tiếp nối đất, nếu vì một nguyên nhân nào đó mà bị  
mất trung tính, người ta không cho phép dùng đất như một dây dẫn.  
Hình 2.14a  
Hình 2.14b  
Khi xây dựng đường dây hạ áp phải chú ý bố trí dây trung tính nằm dưới dây pha,  
vì nếu bố trí trên dây pha có thể gây nguy hiểm. Hình 2.14b  
+ Các dây nối bảo vệ (nối từ dây trung tính đến vỏ thiết bị) theo độ bền cơ học và  
chống ăn mòn.  
Trong việc sử dụng vỏ kim loại của cáp vào mục đích bảo vệ nối đất và bảo vệ nối  
dây trung tính cần chú ý:  
Qua tính toán người ta nhận thấy rằng vỏ nhôm của cáp có thể sử dụng làm dây  
trung tính và dây nối bảo vệ vì nó có đủ độ dẫn điện cần thiết còn vỏ chì của cáp  
thường có độ dẫn điện kém hơn nên không được sử dụng làm dây trung tính hoặc  
dây nối bảo vệ. Ngược lại vỏ nhôm của cáp lại không được sử dụng như một điện  
cực nối đất (khi nó đặt trong đất) vì bên ngoài vỏ nhôm của cáp thường có lớp phủ  
cách điện bên ngoài (để bảo vệ nhôm chống sự ăn mòn) còn vỏ chì của cáp lại có  
thể sử dụng được như một điện cực nối đất khi có cáp đặt trong đất không nhỏ hơn  
2.  
3. Khái niệm về điện trở tản của vật nối đất, điện áp tiếp xúc và điện áp bước.  
3.1. Do dòng điện tản trong đất.  
Xét hai trường hợp:  
-
-
Dây pha bị đứt rơi xuống đất.  
Thiết bị điện bị chạm vỏ do hư hỏng cách điện, vỏ thiết bị được nối qua  
đất R .  
điện trở tiếp  
đ
Rđ  
Hình 2.1a: Vị trí chạm đất  
Hình 2.1b: Vị trí nối đất  
-
Khi đó sẽ có dòng điện sự cố chạy giữa vị trí chạm đất hoặc điện cực nối  
đất tỏa ra môi trường xung quanh. Giữa vị trí chạm đất và đất bao xung quanh sẽ  
có sự phân bố điện thế trong và trên mặt đất.  
-
Ở ngay chỗ chạm đất, điện trở của đất sẽ lớn do dòng chạy qua diện tích  
nhỏ. Càng xa vị trí này, điện trở của đất sẽ giảm theo khoảng cách, sự sụt áp điện  
thế sẽ nhỏ.  
-
Có thể biểu diễn sự phân bố điện thế xung quanh chỗ chạm đất qua vật  
nối đất hình bán cầu.  
-
Các khảo sát cho thấy cách chỗ chạm đất 1m, điện áp đất có giá trị từ  
0.5- 0.8 giá trị điện áp tại chỗ chạm đất. Đứng gần chỗ chạm đất là rất nguy  
hiểm.  
-
Các vị trí có cùng khoảng cách đối với điểm chạm đất sẽ có cùng một điện  
thế, gọi là  
đất.  
đường đẳng thế. Đường đẳng thế là một vòng tròn có tâm là điểm chạm  
Uđ = K/  
x
(2.1)  
(2.2)  
U : Điện thế tại điểm đang xét cách  
chỗ chạm đất khoảng cách x.  
đ
K = ρđ.Iđ/(2Π).  
Ρđ: điện trở của đất.  
I : Dòng đi vào trong đất.  
đ
Uđ có dạng hyperboloid tròn xoay.  
Hình 2.2: Đường phân bố điện áp  
3.2 Điện áp tiếp xúc.  
Điện áp tiếp xúc là điện áp đặt lên cơ thể người khi tiếp xúc với vật có điện áp.  
Phụ thuộc tình trạng tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp, tiếp xúc với một pha hay hai  
pha của lưới điện mà ta có các giá trị điện áp tiếp xúc khác nhau.  
Ví dụ: Khi người tiếp xúc với hai dây pha của lưới 1 pha, điện áp tiếp xúc là:  
U
=
U
(2.3)  
tx  
Trong đó: U là điện áp nguồn 1pha  
Hình 2.3: Sơ đồ tiếp xúc một pha  
-
Xét trường hợp tiếp xúc gián tiếp hay gặp khi phân tích an toàn trong mạng  
điện. Một người tiếp xúc với thiết bị có vỏ chạm pha và đứng 2 chân trên đất, khi  
đó điện áp tiếp xúc giáng trên thân người  
U = U –  
:
U
tx  
p
k
(2.4)  
Trong đó: - U : Điện áp trên vỏ thiết bị = điện áp cực nối đất.  
p
- U : Điện áp tại vị trí chân người  
.
p
- Người càng đứng xa vị trí tiếp đất thì có U càng giảm, do đó điện áp tiếp xúc  
k
càng lớn. Tại vùng điện thế không, U = U .  
tx  
p
- Điện áp tiếp xúc thường nhỏ hơn U , nhưng để tính toán bảo vệ, người ta  
p
thường lấy trường hợp nguy hiểm nhất bằng  
U
p.  
- Điện áp tiếp xúc cũng có thể lớn hơn U , khi xét một người tiếp xúc với phần  
p
tử nối  
đến cực tiếp đất A, vừa tiếp xúc với một vùng ảnh hưởng của cực tiếp đất  
B:  
U
= U - U = U  
pA pB  
(Điện áp dây ).  
AB  
(2.5)  
(2.6)  
txmax  
Tỉ lệ giữa U và U gọi là hệ số tiếp xúc: K = U / U .  
tx tx tx  
p
p
CÂU HỎI ÔN TẬP BÀI 1  
Câu 1: Trình bày khái niệm, mục đích và phạm vi bảo vệ nối đất?  
Câu 2: Trình bày khái niệm, mục đích và phạm vi bảo vệ nối dây trung tính?  
Câu 3: Anh (chị) hãy cho biết những tác động của dòng điện đối với cơ thể con  
người?  
BÀI 2: CÁC BIỆN PHÁP AN TOÀN ĐIỆN  
1. Nối vỏ hoặc thân kim loại của các thiết bị điện với dây trung tính  
1.1.Mục đích  
Bảo vệnối dây trung tính nhằm bảo đảm an toàn cho người khi có sựchạm vỏ của 1  
pha nào đó bằng cách nhanh chóng cắt phần điện có sự chạm vỏ .  
1.2 Ý nghĩa  
Bảo vệnối dây trung tính dùng để thay thế cho bảo vệ nối đất trong các mạng điện 3  
pha 4 dây điện áp nhỏ hơn 1000 V có trung tính trực tiếp nối đất như ở mạng điện  
380/ 220 V, 220/ 127 V...  
Ý nghĩa của việc thay thếnày xuất phát từthực tếlà trong mạngđiện 3 pha 4 dây  
trung tính trực tiếp nối đất mà vẫn áp dụng hình thức bảo vệ nối đất thì không thể  
bảo đảm an toàn cho người. Điều này có thể giải thích bằng ví dụ sau:  
* Giả sử ta có mạng điện 3 pha 4 dây trung tính trực tiếp nối đất, điện áp nhỏ hơn  
1000 V như hình 4-1 và giả thiết ta vẫn bảo vệ an toàn cho người là bảo vệnối đất  
tức là nối vỏ thiết bị với hệ thống nối đất có điện trởnối đất là R đ.  
Khi có sự chạm vỏ của 1 pha  
3
2
do cách điện bị hư hỏng (pha ở  
trong h 5-1) sẽ có dòng điện qua vỏ 1  
thiết bị đi vào đất với trị số:  
0
Iđ =  
Uf  
R 0 + R d  
Trong đó : I  
-
-
Uf là điện áp pha của mạng điện.  
R
R
R0 ,Rđ là điện trở nối đất của trung tính và của thiết bị cần bảo vệ.  
Trị số dòng điện I đ này lúc  
Hình 5.1: Thiết bị bị chạm vỏ trong mạng điện  
có trung tính nối đất có điện áp dưới 1000V  
điện áp nhỏ hơn 1000 V không  
phải  
lúc nào cũng đủ lớn để làm cho các thiết bị bảo vệ (như cầu chì, áp tô mát ...) tác  
động 1 cách chắc chắn và nhanh để cắt phần bị chạm vỏ ra, vì vậy trên vỏ thiết bị  
sẽ có một điện áp nguy hiểm tồn tại lâu dài là:  
Uđ = Iđ . Rđ  
Ví dụ: Mạng 380/220 V có trung tính trực tiếp nối đất với R0 = R đ = 4Ω thì.  
Dòng điện 27,5 A chỉ có thể làm cho cầu chì có dòng định mức của dây chảy có trị  
số khoảng 10A tác động.Thực tế dòng định mức của dây chảy có thể lớn hơn trị số  
10 A trên nhiều ( trị số đó phụ thuộc chủ yếu vào công suất và chế độ làm việc của  
các thiết bị điện). Lúc này các thiết bịbảo sẽkhông tácđộng, và trên vỏthiết sẽcó  
điện áp nguy hiểm là:  
Uđ = Iđ.Rđ = 27,5 . 4 = 110 V  
Điện áp này có thể tồn tại lâu dài. Ở đây Rđ = R0 nên:Uđ = Uf / 2. Nếu Rđ > R0 thì  
Uđ sẽ lớn hơn.  
* Để có thể giảm Uđ:  
-
-
Giảm Rđ so với R0 nhưng như vậy sẽ không kinh tế.  
Trong trường hợp trên nếu chúng ta bằng cách nào đó có thểtăng dòng chạm  
vỏ Iđ đến một giá trị đủ lớn nào đó để các thiết bị bảo vệ có thể cắt nhanh chổ bị sự  
cố chạm vỏthì mới có thể bảo vệ an toàn được cho người. Biện pháp đơn giản nhất  
là dùng dây dẫn để nối vỏ thiết bị với dây trung tính .  
Như vậy ý nghĩa của bảo vệ nối dây trung tính là biến sự chạm vỏ của thiết bị thành  
ngắn mạch một pha để các thiết bị bảo vệ cắt nhanh và chắc chắn phần bị chạm vỏ  
bảo đảm an toàn cho người.  
Cần lưu ý rằng bảo vệ nối dây trung tính chỉ tác động tốt khi có sự chạm vỏ thiết bị  
còn khi có sự chạm đất thì bảo vệ nối dây trung tính sẽ không tác dụng bảo vệ vì  
lúc đó dòng chạm đất bé nên có thể các thiết bị bảo vệ không tác động vì vậy sự cố  
chạmđất này sẽ tồn tại lâu dài nguy hiểm (trong mạng trung tính trực tiếp nối đất  
điện áp nhỏ hơn 1000 V cần phân biệt hai khái niệm chạm đất và chạm vỏ.  
1.3 PHẠM VI ỨNG DỤNG CỦA BẢO VỆ NỐI DÂY TRUNG TÍNH :  
Nói chung, không phụthuộc vào môi trường xung quanh trong các cơsởsản xuất với  
các mạng điện 3 pha 4 dây điện áp nhỏ hơn 1000 V có trung tính trực tiếp nối đất  
phải luôn luôn thực hiện biện pháp bảo vệ nối dây trung tính. Tuy vậy cần lưu ý  
một số điểm sau:  
Với các mạng điện 3 pha 4 dây trung tính trực tiếp nối đất, điện áp 220/127 V cho  
phép chỉ thực hiện bảo vệ nối dây trung tính trong các trường hợp sau:  
a.  
b.  
c.  
Xưởng đặc biệt nguy hiểm về mặt an toàn .  
Các thiết bị đặt ngoài trời.  
Các bộ phận bằng kim loại của các thiết bị điện mà người thường tiếp xúc  
như tay cầm, cần điều khiển...  
Với các phòng làm việc, nhà ở có nền cao ráo thì với điện áp 380/220 V và  
220/127 V (trong mạng có trung tính nối đất) cho phép không cần bảo vệ nối dây  
trung tính.  
Trên các đường dây 3 pha 4 dây điện áp 380/ 220 V có trung tính trực tiếp nối  
đất các cột thép, xà thép phải được nối với dây trung tính.  
1.4 CÁCH THỰC HIỆN BẢO VỆ NỐI DÂY TRUNG TÍNH:  
Khi thực hiện bảo vệ nối dây trung tính thì tất cả các phần kim loại của các thiết  
bị điện, của các kết cấu kim loại (như vỏ thiết bị, khung bệ của thiết bị phânphối  
điện, vỏ kim loại của cáp...) mà có thểxuất hiện điện áp khi có sự cố chạm vỏ  
đều phải được nối một cách chắc chắn với dây trung tính. Trên hình 4.4 cho ta  
một cách thực hiện bảo vệ nối dây trung tính:  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 78 trang yennguyen 18302 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Dây không bảo vệ và hệ thống chống sét cho căn hộ - Nghề đào tạo: Điện công ngiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_day_khong_bao_ve_va_he_thong_chong_set_cho_can_ho.pdf