Tiểu luận Xây dựng hệ thống điểm danh bằng khuôn mặt

XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐIỂM DANH BẰNG KHUÔN MẶT  
Nguyễn Nhĩ Khang - 1824801040068,  
Nguyễn Thị Thanh Trúc - 1824801040071,  
Nguyễn Luân Lưu - 1824801040120,  
Nguyễn Đức Duy – 1824801040126.  
Lớp D18HT02 – Khoa Kỹ thuật – Công nghệ  
GVHD: Tiến sĩ. Bùi Thanh Hùng  
TÓM TẮT:  
Đề tài được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tế về việc ứng dụng khoa học công nghệ xây  
dựng hệ thống điểm danh bằng khuôn mặt đáp ứng yêu cầu của người sử dụng trong quá  
điểm danh, rà soát một cách dễ dàng hơn. Quy trình cũ có nhiều công đoạn thừa và tốn  
thời gian và nhân lực, dẫn đến dẫn đến tình trạng ùn ứ, chờ đợi trong quá trình điểm  
danh, không tiện lợi cho cả người sử dụng và người quản lý. Trong nghiên cứu này,  
nhóm đề xuất sử dụng phương pháp học sâu – Mạng nơ ron tích chập CNN, một phương  
được sử dụng trong nhiều nghiên cứu về thị giác máy tính. Trên cơ sở đánh giá trên bộ  
dữ liệu chuẩn ORL (của Lab nghiên cứu AT&T) với các phương pháp khác nhau PCA-  
NN, LDA-DNN thì phương pháp do nhóm đề xuất CNN kết hợp với Haar Cascade trong  
xác định khuôn mặt cho kết quả tốt nhất. Dựa trên kết quả đó, nhóm đã xây dựng ứng  
dụng điểm danh bằng khuôn mặt và áp dụng thí điểm tại môn Lý thuyết đồ thị lớp  
D18HT02, Đại học Thủ Dầu Một. Kết quả khảo sát từ giảng viên thực hiện thí điểm cho  
thấy ứng dụng đề xuất đạt hiệu quả tốt trong việc điểm danh sinh viên.  
QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ  
1. Tổng quan  
1.1. Giới thiệu về đề tài  
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang là xu hướng phát triển có nhiều tiềm năng trong lĩnh  
vực công nghệ thông tin, nắm giữ vai trò chủ đạo trong dòng chảy công nghệ hiện đại với  
nhiều ứng dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như trợ lí ảo, nhà thông minh, xe  
tự lái, các hệ thống nhận diện,… Nhận diện khuôn mặt là một là một lĩnh vực nghiên cứu  
của ngành thị giác máy tính, và cũng được xem là một lĩnh vực nghiên cứu của ngành  
sinh trắc học tương tự như nhận dạng vân tay, hay nhận dạng mống mắt.  
Chúng tôi nhận thấy việc điểm danh sinh viên vào các buổi học thường tốn nhiều  
thời gian vì người điểm danh cần gọi tên, điểm mặt từng bạn trong lớp học. Đối với  
những lớp học có từ 50 sinh viên trở lên thì công việc này càng khó khăn hơn vì có thể  
xảy ra trường hợp gian lận trong điểm danh (điểm danh hộ). Trong đề tài này, chúng tôi  
chọn nghiên cứu về nhận diện khuôn mặt bằng thuật toán học sâu mạng nơ ron tích chập-  
CNN. Chúng tôi cũng đã phân tích phương pháp đề xuất với các phương pháp khác. Trên  
cơ sở đó, chúng tôi xây dựng ứng dụng điểm danh sinh viên áp dụng thí điểm tại môn Lý  
thuyết đồ thị lớp D18HT02, Đại học Thủ Dầu Một. Ứng dụng điểm danh sinh viên bằng  
nhận dạng khuôn mặt giúp cho việc điểm danh trở nên nhanh chóng và dễ dàng hơn, khắc  
phục những khuyết điểm, hạn chế của việc điểm danh truyền thống.  
1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu  
Thông qua máy học nghiên cứu các thuật toán nhận dạng khuôn mặt bằng mạng  
nơ-ron tích chập (Convolutional Neural Network) và các phương pháp học sâu mang lại  
kết quả có độ chính xác cao, từ đó áp dụng vào bài toán thực tế: Xây dựng hệ thống điểm  
danh bằng khuôn mặt.  
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Tập trung chính vào đối tượng nghiên cứu là mặt người, kỹ thuật nhận diện khuôn  
mặt bằng máy học.  
Do các hạn chế về thời gian cùng thiết bị, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu triển khai  
ứng dụng trên một tập dữ liệu có sẵn (ảnh khuôn mặt của 20 thành viên lớp D18HT02  
Trường Đại học Thủ Dầu Một).  
1.4. Phương pháp nghiên cứu  
Để thực hiện đề tài khoa học này, chúng tôi sử dụng kết hợp hai phương pháp  
nghiên cứu sau:  
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:  
-
-
Thị giác máy tính  
Xử lý hình ảnh  
-
-
-
Xử lý video  
Các phương pháp học máy  
Ngôn ngữ và kỹ thuật lập trình  
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:  
Lập trình xây dựng ứng dụng.  
-
2. Các nghiên cứu có liên quan  
Nhận dạng khuôn mặt người là quá trình xác định danh tính tự động cho từng đối  
tượng người trong ảnh/video. Nhiều hướng tiếp cận đã được đề xuất để giải quyết bài  
toán này [1], [2], [3], [4]. Nhìn chung, quy trình giải quyết bài toán gồm các công đoạn  
như: (i) Thu nhận hình ảnh; (ii) tiền xử lý, tăng cường chất lượng hình ảnh; (iii) Phát hiện,  
căn chỉnh, crop ảnh khuôn mặt; (iv) Nhận dạng (trích chọn đặc trưng và phân lớp) khuôn  
mặt.  
Các đặc trưng tiếp cận trước đây chủ yếu dựa trên đặc trưng (feature-based) và  
luôn cố gắng đưa ra các định nghĩa tường minh để biểu diễn khuôn mặt dựa trên các tỷ lệ  
khoảng cách, dạng tích và góc [3]. Tuy nhiên, trong thực tế các biểu diễn được định  
nghĩa tường minh thường không chính xác. Để khắc phục điều đó, các hướng tiếp cận sau  
này được đề xuất dựa trên ý tưởng sử dụng các mô hình học máy thống kê có khả năng  
học để lựa chọn các đặc trưng khuôn mặt từ một tập mẫu cho trước, điển hình như  
phương pháp PCA (Principal Component Analysis), trong đó mỗi khuôn mặt được biểu  
diễn dưới dạng tổ hợp các eigenvector, eigenfaces và fisherfaces [5], [6]  
Hiện tại, hiệu quả của các mô hình nhận dạng khuôn mặt đã được cải thiện đáng  
kể dựa trên việc kết hợp sử dụng các mô hình học sâu để tự động phát hiện các đặc trưng  
trên khuôn mặt và các kỹ thuật phân lớp. Trong [7], [8], [9] các tác giả đã đề xuất một mô  
hình nhận dạng phức tạp, nhiều công đoạn dựa trên việc kết hợp mạng nơron tích chập  
(CNN) với PCA để giảm chiều dữ liệu.  
Y.Taigman và cộng sự [8] đề xuất mô hình DeepFace dựa trên ý tưởng kết hợp  
nhiều công đoạn (multi-stage): trước tiên sử dụng một mô hình khuôn mặt 3 chiều để  
chuẩn hóa các ảnh đầu vào về tư thế nhìn thẳng, sau đó xây dựng một kiến trúc mạng  
nơron học sâu DNN (Deep Neural Network) với 120 triệu tham số, có khả năng học từ  
một tập dữ liệu khổng lồ với trên 4,4 triệu khuôn mặt đã được gán nhãn.  
Nhóm tác giả Nguyễn Thanh Tùng, Bùi Thanh Hùng đã trình bày nghiên cứu Ứng  
dụng phương pháp học sâu nhận dạng khuôn mặt tại Ngày hội Khoa học cán bộ giảng  
viên trẻ và học viên cao học lần III- Năm 2019, Đại học Thủ Dầu Một [10].  
Tác giả Nguyễn Thanh Tùng nghiên cứu về Ứng dụng phương pháp học sâu để  
nhận diện khuôn mặt qua camera giám sát, Luận văn Thạc sĩ - Đại học Thủ Dầu Một  
2019 [11].  
Tác giả Bùi Thanh Hùng đề xuất phương pháp học sâu kết hợp HOG-CNN cho  
nhận dạng khuôn mặt trong báo cáo tại Hội nghị RICE 2020, Face Recognition Using  
Hybrid HOG-CNN Approach. The Fifth International Conference on Research in  
Intelligent and Computing in Engineering [12].  
Dựa trên cơ sở các nghiên cứu trước, trong nghiên cứu này nhóm Đề xuất sử dụng  
mô hình Học sâu CNN cho nhận dạng khuôn mặt. Mô hình tổng quát của nhóm được  
trình bày ở phần tiếp theo.  
3. Mô hình đề xuất  
3.1. Mô hình tổng quát  
Mô hình tổng quát được trình bày trong Hình 3.1  
Hình 3.1 Sơ đồ mô hình đề xuất  
Trong mô hình này gồm: Mô hình huấn luyện và xây dựng ứng dụng Web.  
Ở mô hình huấn luyện, từ tập dữ liệu thô tự thu thập, nhóm sử dụng các phương  
pháp tiền xử lý dữ liệu và tăng cường ảnh, sau đó đưa qua mô hình học sâu để trích xuất  
đặc trưng và nhận dạng rồi lưu mô hình tối ưu để phục vụ xây dựng ứng dụng Web.  
3.2. Đặc trưng của mô hình đề xuất  
3.2.1 Lấy mẫu huấn luyện  
Chúng tôi thu thập mẫu huấn luyện từ những hình ảnh được các bạn sinh viên cung  
cấp. Khuôn mặt trong các lớp được mã hóa dưới dạng các vector đặc trưng phân biệt giữa  
khuôn mặt này với khuôn mặt khác trong các lớp. Sau đó, các vector đặc trưng sẽ được  
lưu trữ trong cơ sở dữ liệu khuôn mặt.  
3.2.2 Phát hiện khuôn mặt  
Để phát hiện khuôn mặt, nhóm sử dụng Phương pháp Haar Cascade. Phương pháp  
này là một thuật toán phát hiện đối tượng bằng học máy được sử dụng để xác định các  
đối tượng trong một hình ảnh hoặc video dựa trên khái niệm các tính năng. Phương pháp  
này được đề xuất bởi Paul Viola và Michael Jones trong bài báo "Rapid Object Detection  
using a Boosted Cascade of Simple Features" năm 2001 [13].  
Sau bước phát hiện khuôn mặt, ảnh sẽ được đưa qua mạng nơ ron tích chập CNN  
để trích xuất đặc trưng và nhận diện khuôn mặt.  
3.2.3 Mạng nơ-ron tích chập  
Convolutional Neural Network (CNNs –Mạng nơ-ron tích chập) được đề xuất bởi  
Fukushima năm 1980 và được cải tiến bởi LeCun, Bottou, Bengio and Haffner năm 1998  
[14] là một trong những mô hình Deep Learning tiên tiến giúp cho chúng ta xây dựng  
được những hệ thống thông minh với độ chính xác cao như hiện nay.  
Mô hình học sâu CNN sẽ thực hiện train và test, mô hình ảnh đầu vào sẽ chuyển nó  
qua một loạt các lớp tích chập với các bộ lọc ( filters) - (Kernals), sau đó đến Pooling, rồi  
tiếp theo là các lớp được kết nối hoàn chỉnh (FC-fully connected layers) và sau đó áp dụng  
chức năng softmax để phân loại một đối tượng có giá trị xác suất từ 0 đến 1.  
Hình 3.2: Mô hình CNNs  
CNNs chỉ đơn giản bao gồm một vài tầng convolution kết hợp với các hàm kích  
hoạt phi tuyến (nonlinear activation function) để tạo ra thông tin trừu tượng hơn cho các  
tầng tiếp theo.  
Mạng nơ-ron tích chập gồm các lớp: Convolution (tích chập), Pooling (để chung),  
Rectified Linear Units (tinh chỉnh các đơn vị tuyến tính), Fully Connected Layers (các  
layer được kết nối đầy đủ)  
Convolution  
Là lớp đầu tiên trích xuất các đặc trưng từ một hình ảnh.  
Hình 3.3: Minh họa tích chập  
Để tính toán sự khớp của một feature đối với một mảnh của hình ảnh, ta nhân mỗi  
điểm ảnh trong feature với giá trị của điểm ảnh tương ứng trong mảnh hình ảnh. Sau đó  
cộng tổng lại và chia cho số lượng điểm ảnh trong feature. Nếu cả hai điểm ảnh màu  
trắng (giá trị 1) thì 1 x 1 = 1. Nếu cả hai đều là màu đen, thì ( -1 ) x ( -1 ) = 1. Mỗi điểm  
ảnh khớp nhau đều cho ra kết quả 1. Tương tự như vậy, bất kỳ cái nào không khớp đều ra  
-1. Nếu tất cả các điểm ảnh trong feature đều khớp, thì cộng tổng lại rồi chia cho số điểm  
ảnh thì kết quả bằng 1. Tương tự, nếu không có điểm ảnh nào trong feature khớp với  
mảnh hình ảnh thì kết quả bằng -1.  
Để hoàn tất tích chập, chúng ta lặp lại quá trình này, xếp các feature với mọi mảnh  
hình ảnh có thể. Ta có thể lấy kết quả từ mỗi tích chập và tạo một mảng hai chiều mới từ  
đó, dựa vào vị trí của mỗi mảnh nằm trong hình ảnh. Bản đồ các phần khớp nhau này  
cũng là một phiên bản đã được lọc từ hình ảnh gốc. Nó là một bản đồ thể hiện nơi tìm  
thấy feature trong hình ảnh. Các giá trị gần 1 cho thấy sự khớp mạnh, các giá trị gần -1  
cho thấy sự khớp mạnh với âm bản của feature, và các giá trị gần bằng 0 cho thấy không  
khớp với bất kỳ loại nào.  
Pooling  
Pooling là một cách lấy những hình ảnh lớn và làm co chúng lại trong khi vẫn giữ  
các thông tin quan trọng nhất trong đó. Pooling chỉ dùng kiến thức toán của lớp hai. Nó  
bao gồm việc duyệt bước một ô vuông cửa sổ nhỏ dọc trên một hình ảnh và lấy giá trị lớn  
nhất từ cửa sổ ở mỗi bước.  
Sau khi pooling, một hình ảnh sẽ có khoảng một phần tư số điểm ảnh so với lúc  
bắt đầu. Vì nó giữ các giá trị lớn nhất từ mỗi cửa sổ, nó sẽ bảo toàn tính khớp của mỗi  
feature bên trong cửa sổ.  
Hình 3.4: Minh họa Pooling Layer  
Một layer pooling là hoạt động thực hiện pooling trên một hình ảnh hoặc một tập các  
hình ảnh. Đầu ra sẽ có cùng số lượng hình ảnh, nhưng mỗi cái sẽ có điểm ảnh ít hơn. Hạ một  
tấm ảnh 8 megapixel xuống còn 2 megapixel sẽ giúp mọi xử lý tải về trở nên dễ dàng.  
Rectified Linear Units (ReLU)  
Bài toán ReLU hoạt động như sau: bất cứ nơi nào có số âm, hoán đổi nó với 0. Điều  
này giúp CNN giữ vững sự tin cậy toán học bằng cách giữ các giá trị đã được học khỏi bị mắc  
kẹt gần 0 hoặc về vô tận.  
Đầu ra của một layer ReLU có kích thước giống với đầu vào, nhưng tất cả các giá trị  
âm được loại bỏ.  
Hình 3.5: Minh họa ReLU  
Fully Connected Layers  
Fully Connected Layers lấy các hình ảnh đã lọc ở cấp cao và chuyển chúng thành các  
phiếu bầu (vote). Fully Connected Layers là một khối chính của mạng nơ-ron truyền thống.  
Để đưa ảnh từ các layer trước vào mạng này, buộc phải dàn phẳng bức ảnh ra thành một  
vector thay vì là mảng nhiều chiều như trước. Tại layer cuối cùng sẽ sử dụng một hàm  
softmax để phân loại đối tượng dựa vào vector đặc trưng đã được tính toán của các lớp trước  
đó.  
Fully Connected Layers giống như các layer khác, có thể được xếp chồng lên nhau vì  
đầu ra của chúng (một list các vote) trông giống với đầu vào (một list các giá trị). Mỗi layer  
bổ sung sẽ cho phép mạng học các tổ hợp tinh vi hơn của các feature và sẽ giúp nó đưa ra  
quyết định tốt hơn.  
Hình 3.6: Minh họa Fully Connected Layers  
Mô hình mạng nơ ron tích chập nhóm đề xuất là mô hình CNN 3 lớp (Convolution,  
Relu, Max Pooling) được tình bày ở Hình 3.7  
Hình 3.7: Mô hình CNN nhận dạng khuôn mặt đề xuất  
4. Thực nghiệm  
4.1. Dữ liệu  
Nhóm thực hiện trên 2 bộ dữ liệu. Bộ dữ liệu ORL (Olivetti Research Laboratory)  
của AT&T [15] để đánh giá kết quả bài toán với 2 phương pháp khác: PCA-NN (Neural  
Network) và LDA-DNN (Deep Neural Network). Bộ dữ liệu ORL gồm có 400 ảnh của  
40 người, mỗi người có 10 hình ảnh khác nhau.  
Để xây dựng ứng dụng, nhóm tiến hành thu thập dữ liệu là hình ảnh từ 20 sinh  
viên lớp D18HT02, các ảnh được chụp tại các thời điểm khác nhau, biểu cảm khuôn mặt,  
góc độ ánh sáng. Với mỗi sinh viên sẽ chụp 30 tấm hình ở các góc độ, ánh sáng khác  
nhau, tổng số mẫu ảnh nhóm thu được là 600 ảnh (20*30).  
Dữ liệu sau đó được tiền xử lý và sử dụng giải thuật Haar Cascade để xác định  
khuôn mặt. Quá trình được mô tả trong hình 4.2.  
Sau đó để làm giàu bộ dữ liệu, nhóm sử dụng 5 phương pháp tăng cường ảnh gồm:  
- Chuyển dịch ngang và dọc (Horizontal and Vertical Shift Augmentation)  
- Lật ngang và lật dọc (Horizontal and Vertical Flip Augmentation)  
- Xoay ngẫu nhiên (Random Rotation Augmentation)  
- Độ sáng ngẫu nhiên (Random Brightness Augmentation)  
- Phóng to thu nhỏ ngẫu nhiên (Random Zoom Augmentation)  
Hình 4.1 Minh họa về bộ dữ liệu tự thu thập  
Hình 4.2 Tiền xử lý và xác định khuôn mặt bằng giải thuật Haar Cascade  
Mỗi phương pháp sẽ sinh 9 ảnh từ 1 ảnh, tổng số ảnh nhóm thu được là 27000 ảnh  
(20*30*5*9).  
Với bộ dữ liệu ORL và bộ dữ liệu tự thu thập, chúng tôi đều chia thành 3 phần  
Train, Validation và Test theo tỉ lệ 6:2:2. Với bộ dữ liệu tự thu thập, số lượng ảnh cho  
mỗi tập được trình bày trong bảng 4.1  
Dataset  
Train  
Số lượng  
16200 ảnh  
5400 ảnh  
5400 ảnh  
Test  
Validation  
Bảng 4.1 Bộ dữ liệu tự thu thập  
4.2. Phương pháp đánh giá  
Chúng tôi đánh giá kết quả thực nghiệm bằng độ đo Accuracy được tính theo công  
thức dưới đây:  
ꢆố ꢇꢈꢉôꢊ ꢋặꢌ ꢊꢈậꢊ ꢍạꢊꢎ đúꢊꢎ  
ꢀꢁꢁꢂꢃꢄꢁꢅ =  
ꢌổꢊꢎ ꢆố ꢇꢈꢉôꢊ ꢋặꢌ ꢏầꢊ ꢊꢈậꢊ ꢍạꢊꢎ  
Chúng tôi đánh giá ứng dụng qua phiếu khảo sát được trình bày ở phần tiếp theo.  
4.3. Công nghệ sử dụng  
Chúng em sử dụng các thư viện:  
Keras library cho thư viện Deep learning: CNN[16]  
TensorFlow back-end. [17]  
OpenCV: tiền xử lý ảnh, video [18]  
Haarcascade []  
Chúng em sử dụng ngôn ngữ lập trình Python và các ngôn ngữ HTML, CSS,  
Javascript, Bootstrap để xây dựng ứng dụng điểm danh bằng khuôn mặt trực quan hóa kết  
quả. Chúng em quản lý dữ liệu bằng SQLite.  
4.4. Kết quả  
Kết quả trên bộ dữ liệu ORL khi so sánh với 2 phương pháp khác PCA-NN, LBP-  
DNN được trình bày ở Bảng 4.2  
Phương pháp  
Haarcascade- CNN  
PCA-NN  
Độ chính xác % (Accuracy)  
98,568%  
ORL  
ORL  
ORL  
ORL  
95.833%  
LBP-DNN  
97,878%  
Bảng 4.2. Kết quả đánh giá  
Từ kết quả trên cho thấy phương pháp đề xuất Haarcascade- CNN cho kết quả tốt  
hơn 2 phương pháp PCA-NN, LBP-DNN trên cùng bộ dữ liệu ORL.  
4.5 Xây dựng ứng dụng điểm danh bằng khuôn mặt  
Nhóm đã xây dựng hệ thống điểm danh bằng nhận diện khuôn mặt thành ứng dụng  
có giao diện thân thiện cho người sử dụng.  
Ứng dụng Cho phép giảng viên điểm danh một cách hiệu quả và dễ dàng thông  
qua camera, tiết kiệm thời gian, ghi nhận các trường hợp gian lận trong điểm danh.  
Từ hình ảnh từ camera hệ thống tiến hành nhận dạng các khuôn mặt có trong bức  
ảnh. Qúa trình tiền xử lý đối với khuôn mặt nhầm năng cao chất lượng hình ảnh, chuẩn  
hóa dữ liệu kích thước ảnh. Sau đó hệ thống trích chọn các đặc trưng khuôn mặt rồi tiến  
hành nhận diện khuôn mặt dựa trên tập dữ liệu đã được huấn luyện.  
Sau khi đã xác định được thông tin điểm danh sinh viên từ việc nhận diện khuôn  
mặt, hệ thống xuất ra kết quả điểm danh cho biết sinh viên có mặt hay không có mặt  
trong một buổi học và trong cả khóa học.  
Giao diện ứng dụng được trình bày trong hình 4.3  
Hình 4.3 Giao diện ứng dụng điểm danh bằng khuôn mặt  
Chúng tôi đã tiến hành triển khai ứng dụng thí điểm tại lớp D18HT02 môn Lý  
thuyết đồ thị. Để đánh giá ý kiến người sử dụng về ứng dụng, chúng tôi tiến hành khảo  
sát theo phiếu khảo sát được trình bày trong Hình 4.4  
Hình 4.4 Phiếu khảo sát đánh giá ứng dụng  
5. Kết luận  
Trong nghiên cứu này, nhóm chúng em đề xuất sử dụng phương pháp học sâu –  
Mạng nơ ron tích chập CNN, một phương được sử dụng trong nhiều nghiên cứu về thị  
giác máy tính để nhận diện khuôn mặt. Trên cơ sở đánh giá trên bộ dữ liệu chuẩn ORL  
(của Lab nghiên cứu AT&T) với các phương pháp khác nhau PCA-NN, LDA-DNN thì  
phương pháp do nhóm đề xuất CNN kết hợp với Haar Cascade trong xác định khuôn mặt  
cho kết quả tốt nhất. Dựa trên kết quả đó, nhóm đã xây dựng ứng dụng điểm danh bằng  
khuôn mặt và áp dụng thí điểm tại môn Lý thuyết đồ thị lớp D18HT02, Đại học Thủ Dầu  
Một. Kết quả khảo sát từ giảng viên thực hiện thí điểm cho thấy ứng dụng đề xuất đạt  
hiệu quả tốt trong việc điểm danh sinh viên. Trong thời gian tới nhóm sẽ tiếp tục nghiên  
cứu và thử nghiệm trên các phương pháp khác nhau để lựa chọn được phương pháp tối  
ưu nhất, đồng thời tiến hành triển khai ứng dụng trong thực tế.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO:  
[1] Hiyam Hatem, Zou Beiji and Raed Majeed, “A Survey of Feature Base Methods for  
Human Face Detection”, International Journal of Control and Automation Vol.8, No.5  
(2015), pp.61-78  
[2] Hwai-Jung Hsu and Kuan-Ta Chen, “face recognition on drones issues and limitations in  
proceedings of the firs workshop on Micro Aerial Vehicle Networks, Systems, and  
Applications for Civilian Use, DroNet 15, pages 39-44, New York, NY, USA, 2015, ACM  
[3] Rabia Jafri and Hamid R. Arabnia, “A Survey of Face Recognition Techniques”, JIPS,  
2009.5.2.041  
[4] Hong-Wei Ng and Stefan Winkler, “A data-driven approach to cleaning large face  
datasets”, IEEE International Conference on Image Processing (ICIP),  
10.1109/ICIP.2014.7025068  
[5] Sirovich L and Kirby M,”low-dimensional procedure for the characterization of human  
faces”, JOSA A, 4(3):519-24.  
[6] Matthew Turk and Alex Pentland, A 1991 “Eigenfaces for Recognition”, J.Cogn. Neurosci.  
3,72-86  
[7] Yi Sun, Xiaogang Wang, and Xiaoou Tang, “Deeply learned face representations are  
sparse, selective, and robust”, CoRR, 1412.1265, 2014  
[8] Yaniv Taigman, Ming Yang, Marc’Aurelio Ranzato, and Lior Wolf, ”DeepFace: Closing  
the Gap to Human-Level Performance in Face Verification”, In IEEE Conf. on CVPR,  
2014. 1,2,5,7,8,9.  
[9] Zhenyao Zhu, Ping Luo, Xiaogang Wang, and Xiaoou Tang, “Recover Canonical-View  
Faces in the Wild with Deep Neural Networks”, CoRR, abs/1404.3543, 2014.2  
[10] Nguyễn Thanh Tùng, Bùi Thanh Hùng. (2019). Ứng dụng phương pháp học sâu nhận dạng  
khuôn mặt. Kỷ yếu Ngày hội Khoa học cán bộ giảng viên trẻ và học viên cao học lần III-  
Năm 2019. Đại học Thủ Dầu Một. 6.2019  
[11] Nguyễn Thanh Tùng. (11/2019). Ứng dụng phương pháp học sâu để nhận diện khuôn mặt  
qua camera giám sát. Luận văn Thạc sĩ - Đại học Thủ Dầu Một  
[12] Bui Thanh Hung. (2020). Face Recognition Using Hybrid HOG-CNN Approach. The Fifth  
International Conference on Research in Intelligent and Computing in Engineering (RICE  
2020)  
[13] Paul Viola and Michael Jones. (2001). Rapid Object Detection using a Boosted Cascade of  
Simple Features.  
[14] LeCun, Bottou, Bengio and Haffner. (1998) Object Recognition with Gradient-Based  
Learning.  
pdf 15 trang yennguyen 286360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tiểu luận Xây dựng hệ thống điểm danh bằng khuôn mặt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftieu_luan_xay_dung_he_thong_diem_danh_bang_khuon_mat.pdf