Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý dầu nhiều Paraffin trên giàn MSP-6 Mỏ Bạch Hổ

26  
Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất Tập 60, Kỳ 1 (2019) 26 - 34  
Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý dầu nhiều Paraffin trên giàn  
MSP-6 Mỏ Bạch Hổ  
Nguyễn Văn Thịnh 1,*, Phạm Đức Thắng 2, Hoàng Linh Lan 3  
1 Khoa Dầu khí, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Việt Nam  
2 Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), Việt Nam  
3 Viện Dầu khí Việt Nam (VPI), Việt Nam  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
TÓM TẮT  
Quá trình:  
Dầu thô khai thác tại mỏ Bạch Hổ có đặc thù là dầu nhiều paraffin, độ nhớt  
và nhiệt độ đông đặc cao. Điều này đã gây ra những khó khăn không nhỏ  
cho việc đảm bảo dòng chảy trong quá trình khai thác, thu gom vận chuyển  
và cất chứa sản phẩm. Vì vậy, việc xử lý paraffin phải được tiến hành trong  
tất cả các hoạt động liên quan đến quá trình khai thác dầu. Hiện tại, khai  
thác dầu ở mỏ Bạch Hổ được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp gaslift.  
Thực tế cho thấy, lắng đọng paraffin xảy ra ở các giếng gaslift nhiều hơn  
so với các phương pháp khai thác khác do cơ chế khai thác cũng như cấu  
trúc các thiết bị khai thác gây nên. Do đó, nghiên cứu để tìm ra giải pháp  
xử lý lắng đọng paraffin đối với các giếng khai thác bằng phương pháp  
gaslift là cần thiết. Bài báo trình bày các kết quả nghiên cứu về xử lý  
paraffin cho giếng khai thác gaslift và hệ thống thu gom, xử lꢀ dầu khꢁ trên  
giàn MSP-6 mỏ Bạch Hổ thông qua việc phân tꢁch đánh giá quy trꢂnh, thực  
tế vận hành tại đây. Trên cơ sở đó, bài báo đưa ra giải pháp kꢃ thuật để  
nâng cao hiệu quả xử lý paraffin bằng việc sử dụng hỗn hợp dầu nóng nhiệt  
độ cao của Giếng N0 101 cho giếng khai thác gaslift N0 90 trên giàn MSP-6.  
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho các giếng khai thác có điều  
kiện tương tự, góp phần nâng cao hiệu quả khai thác dầu bằng phương  
pháp gaslift trên phạm vi toàn mỏ Bạch Hổ.  
Nhận bài 02/12/2018  
Chấp nhận 15/01/2019  
Đăng online 28/02/2019  
Từ khóa:  
Đảm bảo dòng chảy  
Đường ống vận chuyển  
dầu  
Xử lý paraffin  
Mỏ Bạch Hổ  
© 2019 Trường Đại học Mỏ - Địa chất. Tất cả các quyền được bảo đảm.  
dầu khí tại các đối tượng chính là Mioxen dưới,  
Oligoxen trên, Oligoxen dưới và đá Móng nứt nẻ,  
1. Mở đầu  
Mỏ Bạch Hổ là mỏ dầu lớn nhất ở thềm lục địa  
Nam Việt Nam, trong lô 09-1 thuộc bồn trũng Cửu  
Long, cách TP. Vũng Tàu khoảng 120 km về phía  
Đông Nam (Hình 1). Hiện nay mỏ đang khai thác  
trong đó sản lượng khai thác được tập trung nhiều  
ở tầng đá Móng với khoảng 86% sản lượng khai  
thác của toàn mỏ. Tính đến 31/12/2017, mỏ Bạch  
Hổđã khai thác được khoảng208 triệutấndầuthô  
sau 31 năm đi vào khai thác. Các giếng khai thác  
nằm trên các giàn cố định (MSP) và các giàn nhẹ  
(BK, RC). Dầu khí khai thác lên được xử lý sơ bộ  
sản phẩm trước khi vận chuyển về giàn Công nghệ  
_____________________  
*Tác giả liên hệ  
Nguyễn Văn Thịnh và nnk./Tạp chí Khoa học Kꢃ thuật Mỏ - Địa chất 60 (1), 26 - 34  
27  
Hꢂnh 1. Sơ đồ vị trí mỏ Bạch Hổ (Liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro, 2013).  
trung tâm số 2 (CNTT-2) và số 3 (CNTT-3) xử lý  
sau đó bơm qua tàu chứa dầu để xử lý thành dầu  
thương phẩm trước khi xuất bán.  
Số lượng các giếng khai thác chuyển qua chế  
độ khai thác cơ học chiếm tỷ trọng lớn, và các  
giếng nàycũng cung cấp sản lượng khai thác chính  
của mỏ. Do đó, việc tìm ra phương pháp khai thác  
tối ưu, phù hợp với điều kiện mỏ cũng như từng  
khu vực có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định đến  
sản lượng khai thác dầu khí hàng năm. Dựa vào  
các tính chất, đặc điểm của giếng khai thác tại mỏ  
Bạch Hổ, Liên doanh Việt Nga (VSP) đã áp dụng  
những phương pháp khai thác cơ học như: bơm ly  
tâm điện chìm, gaslift. Theo số liệu về tình trạng  
quỹ giếng hiện nay của VSP đến tháng 7/2017, số  
lượng giếng khai thác dầu là 385 giếng trong đó  
chỉ có 16 giếng là khai thác tự phun, còn lại là 369  
giếng khai thác bằng phương pháp gaslift.  
Phương pháp khai thác dầu khí cơ học bằng  
gaslift nhằm tăng cường khả năng thu hồi dầu ở  
28  
Nguyễn Văn Thịnh và nnk./Tạp chí Khoa học Kꢃ thuật Mỏ - Địa chất 60 (1), 26 - 34  
giai đoạn suy giảm năng lượng vỉa tự nhiên đã  
được áp dụng thành công cho nhiều mỏ dầu khí  
nói chung và mỏ Bạch Hổ nói riêng. Phương pháp  
này đã được áp dụng tại mỏ trên 17 năm với tổng  
sản lượng khai thác đã góp phần không nhỏ vào  
việc duy trì sản lượng khai thác hằng năm của mỏ  
Bạch Hổ. Tuy nhiên trong quá trình khai thác đã  
xuất hiện sự suy giảm sản lượng trong các giếng  
bằng phương pháp gaslift do nhiều nguyên nhân  
khác nhau.  
Các số liệu thống kê thực tế vận hành và khai  
thác mỏ Bạch Hổ cho thấy một trong những  
nguyên nhân chính dẫn tới làm suy giảm sản  
lượng khai thác là do dầu khai thác ở mỏ Bạch Hổ  
có hàm lượng paraffin cao (17-27%); nhiệt độ dầu  
tại các miệng giếng các giếng khai thác gaslift chỉ  
khoảng 25-500C trong khi đó nhiệt độ kết tinh  
paraffin trong dầu giao động khoảng 58-610C và  
nhiệt độ đông đặc của dầu cao là 32-360C. Trong  
quá trình khai thác thành ống khai thác xuất hiện  
lớp lắng đọng paraffin và chiều dày của lớp lắng  
đọng này sẽ tăng dần lên theo thời gian làm giảm  
tiếtdiện ống khai thác dẫn đến giảm khả năng khai  
thác dầu. Do đó, việc nghiên cứu để tìm ra giải  
pháp xử lý lắng đọng paraffin đối với các giếng  
khai thác bằng phương pháp gaslift là cần thiết và  
cấp bách cho giai đoạn hiện nay tại mỏ Bạch Hổ  
(Nguyễn Thị Thu Hà và nnk., 2013, 2014).  
asphanten bằng dung môi ete dầu mỏ và silicagen  
(Phan Tử Bằng, 1999).  
Dầu mỏ Bạch Hổ có hàm lượng paraffin cao  
nhất (trung bình 26% khối lượng) tiếp đến là dầu  
các mỏ Rồng, Nam Rồng - Đồi Mồi và Gấu Trắng.  
Dầu tại các mỏ này đều thuộc loại dầu nặng (tỉ  
trọng>0,86 g/cm3) với hàm lượng paraffin chênh  
lệch nhau không nhiều, dao động trong khoảng từ  
23-24% khối lượng.  
2.2. Nhiệt độ đông đặc của dầu thô  
Nhiệt độ đông đặc là nhiệt độ mà ở đó các  
phân đoạn dầu mỏ trong điều kiện thử nghiệm qui  
định mất hẳn tính linh động (Phan Tử Bằng,  
1999). Như vậy nhiệt độ đông đặc là đại lượng  
dùng để đặc trưng cho tính linh động của các phân  
đoạn dầu mỏ ở nhiệt độ thấp. Sự mất tính linh  
động này có thể vì hạ nhiệt độ thấp, độ nhớt của  
phân đoạn dầu mỏ giảm theo và đặc lại dưới dạng  
các chất thù hình, đồng thời còn có thể do tạo ra  
nhiều tinh thể paraffin rắn, các tinh thể này hình  
thành dưới dạng lưới (khung tinh thể) và những  
phần còn lại không kết tinh bị chứa trong các  
khung tinh thể đó, nên làm cảhệ thống bị đông đặc  
lại. Hình dạng các tinh thể tách ra phụ thuộc vào  
thành phần hóa học của hydrocacbon, còn tốc độ  
phát triển các tinh thể phụ thuộc vào độ nhớt của  
môi trường, vào hàm lượng và độ hòa tan của  
paraffin ở nhiệt độ đó, cũng như tốc độ làm lạnh  
của nó. Một số chất như nhựa lại dễ bị hấp phụ  
trên bề mặt tinh thể paraffin nên ngăn cách không  
cho các tinh thể này phát triển, vì vậy dầu mỏ được  
làm sạch các chất này, nhiệt độ đông đặc lại lên  
cao. Như vậy, nhiệt độ đông đặc phụ thuộc vào  
thành phần hóa học, và chủ yếu nhất là phụ thuộc  
vào hàm lượng paraffin rắn ở trong đó. Dầu thô có  
hàm lượng paraffin càng nhiều thì nhiệt độ đông  
đặc càng cao và ngược lại. Dầu thô tại các mỏ khai  
thác của VSP có nhiệt độ đông đặc cao, dao động  
từ 20 - 39oC (Bảng 1).  
2. Tính chất của dầu thô mỏ Bạch Hổ  
2.1. Hàm lượng paraffin trong dầu khai thác  
Paraffin là loại hydrocacbon rất phổ biến  
trong các loại hydrocacbon của dầu mỏ. Tuỳ theo  
cấu trúc mà paraffin được chia thành hai loại đó là  
paraffin mạch thẳng (n-paraffin, chiếm 80 - 90%)  
và paraffin có nhánh (iso-paraffin) (Hình 2). Hàm  
lượng paraffin được xác định theo tiêu chuẩn RD  
39 09 80 bằng phương pháp kết tinh ở -210C các  
mẫu dầu đã được tách loại các chất nhựa,  
2.3. Độ nhớt  
Để khảo sát tính lưu biến của dầu thô một chỉ  
tiêu cơ bản khác cũng cần phải phân tích là độ  
nhớt. Đây là một đại lượng vật lý đặc trưng cho trở  
lực do ma sát nội tại sinh ra giữa các phân tử khi  
chúng có sự chuyển động trượt lên nhau. Vì vậy,  
độ nhớt có liên quan đến khả năng thực hiện các  
quá trình bơm, vận chuyển chất lỏng trong các hệ  
Hình 2. Cấu trúc của paraffin trong dầu thô.  
Nguyễn Văn Thịnh và nnk./Tạp chí Khoa học Kꢃ thuật Mỏ - Địa chất 60 (1), 26 - 34  
29  
Bảng 1. Đặc tꢁnh lꢀ hóa cơ bản của dầu thô ở các mỏ của VSP (Nguyễn Thúc Kháng và nnk., 2016).  
Mỏ dầu  
Bạch Hổ Rồng Nam Rồng - Đồi Mồi Gấu Trắng Thỏ Trắng  
Đặc tính  
Tỉ trọng ở 20 oC, g/cm3  
Nhiệt độ đông đặc, оС  
- ở 50 oC  
0,8519 0,8641  
35,5 33,0  
12,83 14,19  
6,60 7,49  
26,00 23,80  
0,8815  
34,6  
20,30  
10,51  
23,16  
59,4  
0,8735  
34,4  
21,72  
11,19  
23,75  
59,5  
0,8315  
28,7  
5,67  
3,44  
20,68  
58,7  
- ở 70 oC  
Hàm lượng paraffin, %kl  
Nhiệt độ nóng chảy paraffin, oC  
Hàm lượng nhựa và asphalten,%kl  
58,7  
7,21  
58,9  
9,06  
14,04  
11,53  
4,04  
Bảng 2. Đặc tꢁnh lꢀ hóa cơ bản của dầu thô thuộc các địa tầng khác nhau ở mỏ Bạch Hổ (Nguyễn Thúc  
Kháng và nnk., 2016).  
Địa tầng  
Mioxen hạ Oligoxen thượng Oligoxen hạ Tầng Móng  
Tỉ trọng ở 20оС, g/cm3  
Nhiệt độ đông đặc, оС  
- ở 50 oC  
0,8684  
34,3  
15,39  
8,05  
22,96  
59,2  
0,8673  
36,6  
21,88  
10,60  
26,54  
59,0  
0,8321  
35,3  
5,778  
3,44  
26,86  
58,1  
0,8332  
35,6  
6,04  
3,56  
28,32  
58,0  
- ở 70 oC  
Hàm lượng paraffin, %kl  
Nhiệt độ nóng chảy paraffin, oC  
đường ống, khả năng thực hiện các quá trình  
phun. Độ nhớt thường được xác định trong các  
nhớt kế mao quản, ở đây chất lỏng chảy qua các  
ống mao quản có đường kính khác nhau, ghi nhận  
thời gian chảy của chúng qua mao quản, có thể  
tính được độ nhớt của chúng.  
Trong khai thác và vận chuyển dầu khí sự  
lắng đọngparaffin làđiều không thểtránh khỏi khi  
trong sản phẩm có hàm lượng paraffin cao. Do đó,  
việc tiến hành ngăn ngừa lắng đọng paraffin là cần  
thiết và phải có những biện pháp xử lý khi dầu đã  
bị lắng đọng paraffin. Tuỳ thuộc vào vị trí và mức  
độ lắng đọng paraffin mà người ta có thể áp dụng  
những biện pháp xử lý paraffin khác nhau như  
phương pháp hóa học, phương pháp cơ học và  
phương pháp nhiệt (Nguyễn Thúc Kháng và nnk,  
2016).  
Phương pháp cơ học và phương pháp nhiệt  
đã được nghiên cứu và áp dụng để xử lý lắng đọng  
paraffin trong các giếng khai thác gaslift trên giàn  
MSP-6. Giàn MSP-6 có chức năng vận hành khai  
thác và nhận hỗn hợp chất lưu từ giếng của BK  
Thỏ Trắng 01 vào bình tách C-1 (bình tách 2 pha  
trung áp) sau đó xử lý qua bình tách thấp áp C-1  
100m3 và dùng bơm ly tâm vận chuyển chất lỏng  
dầu nước về các giàn về giàn CNTT-2 hoặc CNTT -  
3 tùy vào từng thời điểm công nghệ (Liên doanh  
Việt - Nga Vietsovpetro, 2016).  
2.4. Sự đa dạng trong đặc tính lý hóa của dầu  
thô  
Sự khác biệt trong đặc tính lý hóa không chỉ  
thể hiện ở các mỏ khác nhau mà còn trong cùng 1  
mỏ. Cấu tạo mỏ Bạch Hổ gồm 4 tầng sản phẩm  
chính. Tầng trên cùng - Mioxen hạ, tầng thứ 2 -  
Oligoxen thượng, tầng 3 - Oligoxen hạ và tầng  
dưới cùng - tầng Móng. Nhìn chung, theo mặt cắt  
từ trên xuống dưới tỉ trọng, độ nhớt, hàm lượng  
nhựa và asphalten đều giảm. Dầu tầng Mioxen hạ  
có tính chất khác hẳn so với dầu thuộc tầng  
Oligoxen và Móng (Bảng 2). Tỉ trọng, độ nhớt, hàm  
lượng nhựa và asphalten của dầu tầng Mioxen hạ  
cao hơn nhiều cũng như phần trăm paraffin thấp  
hơn hẳn so với dầu thuộc tầng Oligoxen và Móng.  
Trong cùng 1 địa tầng ở tầng Mioxen hạ cũng như  
tầng Móng, tính chất của dầu gần giống nhau.  
Trong quá trình vận hành hệ thống công nghệ  
giàn MSP-6 đã từng thực hiện các biện pháp xử lý  
paraffin bằng phương pháp thiết bị chuyên dụng  
và phương pháp nhiệt sử dụng trạm hơi nóng PPU  
A-1600. Phương pháp xử lý paraffin bằng thiết bị  
3. Biện pháp xử lý paraffin trên giàn MSP-6  
30  
Nguyễn Văn Thịnh và nnk./Tạp chí Khoa học Kꢃ thuật Mỏ - Địa chất 60 (1), 26 - 34  
chuyên dụng (Hình 3) đã được sử dụng từ khi bắt  
đầu tiến hành làm sạch cần khai thác trong các  
giếng khoan. Tuy nhiên, trong quá trình vận hành  
phương pháp này gặp phải một số khó khăn phức  
tạp, nguy hiểm như: cần phải phối hợp nhịp  
nhàng, chính xác các thao tác vận hành giữa trạm  
cáp tời trong Block Modul 10 trên nóc của Block  
Modul 2 và các dụng cụ chuyên dụng để nạo vét  
paraffin dễ bị rối, đứt cáp dẫn đến phải ngừng khai  
thác giếng để sửa chữa. Bên cạnh đó gây khó khăn  
cho thợ vận hành, có thể xảy ra các hiện tượng dầu  
khí phun trào nguy hiểm…  
đêm, nhiệt độ chất lưu lên tới 620C và hàm lượng  
nước trong sản phẩm là 98,5%. Các giếng khai  
thác gaslift trên giàn MSP-6 bị lắng đọng paraffin  
thường có áp suất vỉa thấp. Trong bài báo này,  
biện pháp xử lý bơm ép dầu nóng từ giếng N0 101  
vào giếng lắng đọng paraffin N090 đã được nghiên  
cứu để có thể áp dụng vào thực tế.  
4. Biện pháp xử lý lắng đọng paraffin cho giếng  
khai thác N0 90 trên giàn MSP6  
Giếng khoan N0 90 được đưa vào khai thác từ  
ngày 30/05/1995, đối tượng khai thác là tầng  
Móng với khoảng chiều sâu bắn mìn mở vỉa là từ  
4330-4880m (Bảng 3). Cho đến nay, giếng đã trải  
qua nhiều lần tiến hành xử lý vùng cận đáy giếng  
(OPZ) vào các năm 1997, 2003, 2004, 2005, 2006  
và 2007 (Nguyễn Thúc Kháng và nnk, 2016).  
Giếng được tiến hành sửa chữa lớn hai lần vào  
năm 1997 (chuyển giếng qua chế độ khai thác  
gaslift liên tục) và 2007 (đổ cầu xi măng và tiến  
hành bắn mìn mở vỉa phía trên tầng Móng). Các  
thông số khai thác chính hiện nay của giếng N0 90  
là áp suất miệng 9-10 (kG/cm2), áp suất ngoài cần  
72-85 (kg/cm2), lưu lượng dầu hiện nay 22000  
m3/một ngày đêm, lưu lượng khí đồng hành  
13483 m3/ngày đêm, hàm lượng nước trong sản  
phẩm trung bình 5,5%, nhiệt độ sản phẩm tại  
miệng giếng là 28 -310C, đang khai thác chế độ  
gaslift liên tục với lưu lượng/ngày đêm. Biện pháp  
xử lý paraffin cho giếng N0 90 hiện nay là sử dụng  
hỗn hợp dầu nóng từ giếng N0 101 trên giàn.  
4.1. Tính toán thời gian xử lý paraffin cho  
giếng N0 90  
Hꢂnh 3. Sơ đồ xử lý paraffin trong ống khai thác  
bằng thiết bị nạo vét chuyên dụng.  
1 - Tang tời; 2 - Ròng r dao; 3 - Cáp; 4 - Thiết bị  
làm kín; 5 - Bộ Lublikator; 6 - Lưỡi dao; 7 - Van xả;  
8 - Đầu nối; 9 - Van chặn; 10 - Quả nặng.  
Để đảm bảo cho việc xử lý paraffin cho giếng  
N0 90 đạt hiệu quả cao thì thời gian xử lý cần thỏa  
mãn các điều kiện sau:  
- Thời gian dừng giếng ít nhất có thể.  
- Đảm bảo công tác xử lý đạt hiệu quả: phá tan  
được nhiều paraffin và thu gom ngược về bình  
tách 100m3 (C-2) nhiều nhất.  
Thời gian cần thiết để xử lý paraffin bằng hỗn  
hợp dầu nóng từ giếng N0 101 được tính toán như  
sau:  
- Giếng khai thác N0 101 có lưu lượng 180  
m3/ngày đêm (tương đương với lưu lượng 0,125  
m3/phút).  
Trong quá trình vận hành nếu áp dụng biện  
pháp thiết bị chuyên dụng để xử lý paraffin không  
hiệu quả thì cần phải sử dụng trạm hơi nóng PPU  
A-1600 (Hình 4). Thiết bị được đặt trên nóc  
Blockmodul 14 và có hệ thống cấp nhiên liệu dầu  
diesel, hệ thống ống nối chuyên dụng tới Block  
modul 1, 2 vào các giếng cần xử lý.  
Hiện tại trên giàn MSP-6, giếng khai thác  
gaslift N0 101 làm việc liên tục và có các thông số  
phù hợp để có thể sử dụng xử lý lắng đọng paraffin  
trong cần khai thác như lưu lượng 180m3/ngày  
- Trên cơ sở các dữ liệu thu thập được thì  
paraffin thường bắt đầu lắng đọng nhiều từ độ sâu  
Nguyễn Văn Thịnh và nnk./Tạp chí Khoa học Kꢃ thuật Mỏ - Địa chất 60 (1), 26 - 34  
31  
Hꢂnh 4. Sơ đồ xử lý Paraffin giếng từ máy PPU A-1600.  
1000m trở lên đến miệng giếng. Do đó, việc tính  
toán tính sẽ được áp dụng đến độ sâu 1000m của  
ống khai thác với đường kính là 89mm.  
- Tính thể tích V cột ống khai thác:  
Trong đó: Vcokt- thể tích bên trong ống khai  
thác, (m3); L- chiều sâu ống khai thác tính toán cần  
tiến hành rửa paraffin (L=1000m), (m); R- bán  
kính trong ống khai thác, (m); D- đường kính  
ngoài ống khai thác, (m); T- bề dày của ống khai  
thác, (m).  
Thay giá trị các thông số L=1000m,  
D=0,089m, T=0,00645m vào công thức thức (1)  
và (2) ta có (3)  
Vcokt = LπR2  
(1)  
(2)  
D-2T  
R =  
2
32  
Nguyễn Văn Thịnh và nnk./Tạp chí Khoa học Kꢃ thuật Mỏ - Địa chất 60 (1), 26 - 34  
4.2. Bản chất của phương pháp và quy trình  
xử lý paraffin giếng N0 90  
2
0,089 − 2푥0,00645  
2
푉
푐표푘푡  
= 1000푥3,14푥 (  
)
Bản chất của phương pháp là dùng tác dụng  
nhiệt tác động trực tiếp lên lên lớp dầu lắng đọng  
paraffin ở trong cần khai thác. Sau khi paraffin tan  
ra kết hợp với thao tác xả ngược nhanh tạo chênh  
áp suất về độ lớn và hướng vào trong cột cần khai  
thác để phá vỡ từng lớp paraffin lắng đọng và đưa  
vào thiết bị thu gom trên bề mặt. Do tác động nén  
-xả của hỗn hợp dầu khí kết hợp với sự tác động  
áp suất trong ống xuống phía đáy ống nâng khai  
thác nên hiệu quả xử lý nhanh và cải thiện đáng kể  
cho vùng cận đáy giếng (Nguyễn Thị Thu Hà và  
nnk., 2013, 2014).  
Quy trình của phương pháp xử lý là hỗn hợp  
dầu nóng lấy từ giếng dầu N0101 có nhiệt độ cao  
(T0 miệng giếng >60oC) đưa qua cụm phân dòng  
(Manhephon) vào hệ thống tuần hoàn thuận  
(Hình 5). Sau đó dầu nóng vào hệ thống đường  
dập giếng qua cây thông khai thác đi thẳng trực  
tiếp vào trong ống khai thác của giếng N090 và  
được nén lên 25-30atm. Tiếp theo, xả nhanh hỗn  
hợp dầu khí về bình tách C-2 làm cho các lớp  
paraffin được phá vỡ và đưa lên bề mặt vào hệ  
thống thu gom. Thao tác được lặp lại khoảng 4-5  
lần (thời gian từ 3-5 phút/một lần) thì hiệu quả xử  
lý sẽ cao hơn.  
= 4,55 m3  
(3)  
Thể tích cần thiết của hỗn hợp dầu nóng để  
rửa paraffin trong cần là (4).  
V= 1,5 x Vcokt = 1,5 x 4,55 = 6,82 m3  
(4)  
Để cung cấp được lưu lượng hỗn hợp dầu  
nóng trên cần khoảng thời gian (tương đương  
thời gian tiến hành rửa paraffin ) là (5).  
(5)  
t = V/0,125 =6,82/0,125 = 54,6 phút  
Do dó, thời gian cần thiết để có thể rửa sạch  
paraffin trong cần ống khai thác giếngN090 là 54,6  
phút. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm thực tế quá  
trình vậnhành khai thác, dầubị lắngđọngparaffin  
trong ống khai thác của giếng N0 90 là tương đối  
nhiều nên hiệu quả xử lý chưa cao. Vì vậy, phương  
án xử lý cho hỗn hợp dầu nóng đi vào ngoài cần  
của giếng đã được đề xuất thêm để xử lý paraffin.  
Thể tích hỗn hợp dầu nóng đưa vào giếng và thời  
gian cần thiết xử lý được tính toán như sau:  
Đặt V1 là thể tích của cột ống khai thác  
194mm (chiều dày 9,5mm) đến độ sâu 1000m.  
2
)
0,194−0,0095  
2
V1 = LπR1 = 1000x3,14x(  
2
(6)  
= 26,8 m3  
5. Kết luꢀn  
V2 là thể tích của cột ống khai thác đường  
kính 89mm đến độ sâu 1000m.  
Đặc trưng cơ bản của dầu thô ở mỏ Bạch Hổ  
là có độ nhớt cao và hàm lượng paraffin lớn, dao  
động ở mức 20 - 29% khối lượng. Nhiệt độ đông  
đặc của dầu thô khoảng 29 - 360C, cao hơn nhiệt  
độ thấp nhất của nước biển ở vùng cận đáy biển  
từ 9 - 150C. Trong khi đó nhiệt độ bắt đầu kết tinh  
của paraffin trong dầu các mỏ này dao động từ 58  
- 610C. Những đặc tính phức tạp của dầu nhiều  
paraffin mỏ Bạch Hổ như cơchế kết tinh, quá trình  
hình thành và lắng đọng paraffin trong đường ống  
vận chuyển cũng như trong cần khai thác của  
giếng khai thác gaslift đã gâyra rất nhiều khó khăn  
cho công tác khai thác, thu gom vận chuyển và cất  
chứa dầu khí. Lắng đọng pareffin trong khai thác  
và vận chuyển dầu khí tại mỏ Bạch Hổ là điều  
không thể tránh khỏi. Chính vì vậy, việc tiến hành  
ngăn ngừa lắng đọng paraffin là cần thiết. Giải  
pháp sử dụng thiết bị chuyên dụng để xử lý  
paraffin được áp dụng khi bắt đầu tiến hành làm  
sạch cần khai thác trong các giếng. Tuy nhiên,  
2
)
0,089  
2
V2 = LπR2 = 1000 x 3,14 x(  
2
(7)  
= 6,3 m3  
V3 là thể tích khoảng không ngoài vành xuyến  
đến độ sâu 1000m. Ta có (8)  
(8)  
V3= V1 - V2 = 26,8 -6,3 = 20,5 m3.  
Thể tích cần thiết để tiến hành xử lý ngoài cần  
giếng là (9).  
V4 = 1,5 x V3 = 1,5 x 20,5 = 30,75 m3  
(9)  
Thời gian tiến hành xử lý paraffin ngoài cần  
giếng N0 90 là (10)  
30,75  
T1 =  
= 246 phút.  
(10)  
0,125  
Vậy thời gian xử lý paraffin ngoài cần giếng  
N090 là 246 phút.  
Nguyễn Văn Thịnh và nnk./Tạp chí Khoa học Kꢃ thuật Mỏ - Địa chất 60 (1), 26 - 34  
33  
Hình 5. Sơ đồ xử lý paraffin giếng N0 90 bằng dầu nóng giếng số N0 101.  
trong quá trình vận hành, phương pháp này gặp  
Tài liệu tham khảo  
phải một số khó khăn phức tạp, thậm chí có thể  
xảy ra các hiện tượng dầu khí phun trào nguy  
hiểm…  
Liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro, 2013. Sơ đồ  
công nghệ hiệu chỉnh khai thác và xây dựng mỏ  
Bạch Hổ 1. 31.  
Trong quá trình vận hành hệ thống công nghệ  
giàn MSP-6 đã áp dụng các biện pháp xử lý  
paraffin bằng phương pháp thiết bị chuyên dụng  
và phương pháp nhiệt sử dụng trạm hơi nóng PPU  
A-1600. Việc xử lý paraffin cho giếng N0 90 trên  
giàn MSP-6 có sử dụng hỗn hợp dầu nóng từ giếng  
N0 101 trên giàn đã mang lại hiệu quả cao, làm cơ  
sở để áp dụng cho các giếng có điều kiện tương tự.  
Liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro, 2016. Các báo  
cáo hiện hành về Giàn MSP6.  
Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Tấn Hoa, Đỗ Quang  
Thịnh, Hoa Hữu Thu, 2013, 2014. Nghiên cứu  
xử lý lắng đọng paraffin cho một số giếng dầu  
được khai thác bằng bơm ép khí phương pháp  
gaslift. Phần I, II. Tạp chí hóa học và ứng dụng.  
19-34.  
34  
Nguyễn Văn Thịnh và nnk./Tạp chí Khoa học Kꢃ thuật Mỏ - Địa chất 60 (1), 26 - 34  
Nguyễn Thúc Kháng, Từ Thành Nghĩa, Tống Cảnh  
Sơn, Phạm Bá Hiển, Phạm Thành Vinh, Nguyễn  
Nhà xuất bản Khoa học kꢃ thuật. Chi nhánh  
Thành phố Hồ Chí Minh.  
Hoài Vũ, 2016. Công nghệ xử ly  
dầu nhiều paraffin ở thềm lục địa Việt Nam.  
́ va vận chuyển  
Phan Tử Bằng, 1999. Hóa học dầu mỏ khí tự nhiên.  
Nhà xuất bản Giao thông vận tải.  
ABSTRACT  
Solutions to improve paraffin treatment efficiency of crude oil on MSP-  
6 platform at Bach Ho oil field  
Thinh Van Nguyen 1, Thang Duc Pham 2, Lan Linh Hoang 3  
1 Faculty of Oil and Gas, Hanoi University of Mining and Geology, Vietnam  
2 Vietnam Oil and Gas Group (PVN), Vietnam  
3 Vietnam Petroleum Institute (VPI), Vietnam  
The crude oil exploited at Bach Ho oil field is characterized by high paraffin content, high viscosity  
and temperature. This has caused difficulties in flow assurance during the process of exploiting,  
collecting, transporting and storing the products. Therefore, paraffin treatment of crude oil should be  
carried out in all activities relating to production of oil and gas. At Bach Ho oil field the production is being  
implemented mainly by gaslift method. However, paraffin deposition occurs in gaslift wells more than the  
others due to the production mechanism and the structure of production equipment. Thus, a research on  
solutions to paraffin deposition treatmen in gaslift wells is necessary. This paper presents results of  
research on paraffin treatment to gaslift well, oil and gas gathering and treating system on MSP-6  
platform at Bach Ho oilfieldbyanalyzingthe process insitu. Basedon that, atechnicalsolution to improve  
the efficiency of paraffin treatment is achieved by using high temperature crude oil of N0 101 well for N0  
90 gaslift well on MSP-6 platform. The results of research can be applied to other wells with the same  
conditions as those at Bach Ho oil field.  
pdf 9 trang yennguyen 17900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý dầu nhiều Paraffin trên giàn MSP-6 Mỏ Bạch Hổ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiai_phap_nang_cao_hieu_qua_xu_ly_dau_nhieu_paraffin_tren_gi.pdf