Ghi nhận ung thư biểu mô tế bào gan tại Khoa u gan Bệnh viện Chợ Rẫy 2010-2019
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
GHI NHẬN UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN
TẠI KHOA U GAN BỆNH VIỆN CHỢ RẪY 2010 - 2019
NGUYỄN ĐÌNH SONG HUY1
TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát tình hình ung thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG) tại khoa U gan bệnh viện
Chợ Rẫy từ 2010 đến 2019 và mối liên quan đến nhiễm virus viêm gan B (HBV) và C (HCV).
Đối tượng và phương pháp: Hồi cứu loạt ca đối với tất cả bệnh nhân UTBMTBG mới đến khám
và điều trị tại khoa U gan Bệnh viện Chợ Rẫy từ 2010 đến 2019, ghi nhận tuổi, giới tính, địa lý, các
yếu tố liên quan đến bệnh lý UTBMTBG (nhiễm HBV và/ hoặc HCV, khả năng điều trị, giá trị của
AFP trong chẩn đoán UTBMTBG).
Kết quả: 36509 bệnh nhân UTBMTBG mới, 81.91% là nam giới, tỉ lệ nam/nữ là 4.53/1.
Tuổi trung bình là 58.9, 91.78% từ 40 tuổi trở lên, phổ biến nhất là trong lứa tuổi 50 đến 70 tuổi.
Hầu hết bệnh nhân đến từ miền Nam và khu vực phía Nam miền Trung Việt Nam (50.2 triệu dân),
trong đó 41.80% từ đồng bằng sông Cửu Long (15255 bệnh nhân/17.3 triệu dân/13 tỉnh), 17.74% từ TP
Hồ Chí Minh (5382 bệnh nhân/9 triệu dân), 16.80% từ miền Đông Nam bộ (6148 bệnh nhân/8.8 triệu
dân/5 tỉnh), 16.08% từ miền Nam Trung bộ (5872 bệnh nhân/9.2 triệu dân/8 tỉnh), và 8.67% từ Tây
Nguyên (3165 bệnh nhân/5.8 triệu dân/5 tỉnh). 61.17% có nhiễm HBV, 24.71% có nhiễm HCV, 2.72%
đồng nhiễm HBV và HCV, và 11.40% không nhiễm HBV và HCV. Số lượng UTBMTBG vẫn ở mức độ
cao liên tục trong 10 năm, với một số lượng lớn (18343 bệnh nhân / 50.24%) ngay từ khi mới phát hiện
đã ở giai đoạn bệnh tiến xa, không thể điều trị tại chỗ hay phẫu thuật được, chỉ có thể điều trị triệu chứng,
trong đó 16598 bệnh nhân (90.48%) từ 40 tuổi trở lên, phổ biến nhất là từ 50 đến 70 tuổi. AFP 20 - <
400ng/ml trong 25.11% bệnh nhân, 400ng/ml trong 43.86%. 29.39% bệnh nhân có AFP < 20ng/ml.
Kết luận: UTBMTBG là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng đang bùng phát, và số lượng bệnh nhân
tăng dần trong 10 năm qua (2010 - 2019). Hầu hết các trường hợp đều có nhiễm HBV hay HCV. Nên xác
định và điều trị các trường hợp viêm gan virus mạn để giảm sự phát triển UTBMTBG. Các trường hợp
viêm gan mạn hay xơ gan nên được tầm soát chặt chẽ bằng siêu âm và các dấu ấn sinh học (AFP, AFP-
L3 và PIVKA-II) mỗi 3-6 tháng để có thể phát hiện sớm và điều trị UTBMTBG.
Từ khóa: Ung thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG), HBV, HCV, AFP.
HCV). Các yếu tố khác như bệnh gan xơ hóa
không do rượu (NAFLD), gan thoái hóa mỡ không
do rượu (NASH), xơ gan, tiểu đường,… thường là
yếu tố thuận lợi để UTBMTBG xuất hiện.
MỞ ĐẦU
Ung thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG)
đứng thứ 5 trong các bệnh ung thư. Tại Việt Nam,
theo ước tính của Tổ chức Ghi nhận Ung thư
Toàn cầu (GLOBOCAN) năm 2018, UTBMTBG
đứng đầu trong các bệnh ung thư và trong các
nguyên nhân tử vong do ung thư(1).
Sự bùng phát UTBMTBG tại Việt Nam trong
thời gian vừa qua khiến cho việc xác định thực
trạng bệnh lý này tại từng khu vực là rất quan
trọng để tìm cách dự phòng cũng như tầm soát
UTBMTBG trên các nhóm bệnh nhân có nguy cơ
Nguyên nhân gây UTBMTBG tại Việt Nam
chủ yếu là virus viêm gan B,C (gọi tắt là HBV và
Ngày nhận bài: 09/10/2020
Ngày phản biện: 03/11/2020
Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020
Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Đình Song Huy
Email: songhuynd@yahoo.com
1 BSCKII. Phó Giám đốc Trung tâm Ung Bướu, Trưởng Khoa U gan - Bệnh viện Chợ Rẫy
315
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
mỗi năm phân bố theo giới
cao. Về mặt chẩn đoán, hiện nay trên thế giới
UTBMTBG được chẩn đoán chủ yếu dựa vào
hình ảnh học. AFP (AlphaFeto Protein) hiện được
xem là ít có giá trị chẩn đoán vì độ nhạy không
cao, và do đó không còn được đưa vào tiêu chuẩn
chẩn đoán trong các phác đồ trên thế giới.
Tuy nhiên, tại Việt Nam, chất lượng chẩn đoán
hình ảnh còn hạn chế vì nhiều lý do, do đó AFP
vẫn còn được sử dụng để góp phần vào chẩn
đoán UTBMTBG(2).
4500
4181
4172
4091
3907
3599
3823
4000
3500
3000
2500
2000
1500
1000
500
3418
3289
3133
3424
3381
3358
2896
3180
3152
2932
2717
2582
2386
2193
800
748
727
733
671
667
625
572
551
510
0
2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019
Khoa U gan bệnh viện Chợ Rẫy tiếp nhận
các bệnh nhân UTBMTBG từ khu vực miền Trung
và miền Nam Việt Nam. Do đó, chúng tôi thực
hiện nghiên cứu này nhằm mục tiêu ghi nhận
trong thời gian từ 2010 đến 2019:
Số bn mới hàng năm
Nam
Nữ
Tỉ lệ nam/nữ là 4.53/1 (sơ đồ 1).
Số lượng bệnh nhân UTBMTBG mới phát hiện
mỗi năm phân bố theo tuổi
Số lượng bệnh nhân UTBMTBG mới phát hiện
mỗi năm và phân bố theo tuổi, giới, nơi cư trú.
Tỉ lệ bệnh nhân UTBMTBG có nhiễm HBV và/
hoặc HCV.
Tỉ lệ bệnh nhân UTBMTBG mới phát hiện
nhưng đã quá chỉ định điều trị.
Giá trị AFP trong chẩn đoán UTBMTBG.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn bệnh
Tuổi trung bình là 58.9 (sơ đồ 2).
91.78% bệnh nhân >40 tuổi, phổ biến nhất là
trong độ tuổi 50 - 70 tuổi.
Tất cả bệnh nhân đến khám tại khoa U gan
bệnh viện Chợ Rẫy trong thời gian từ 2010 đến
2019, từ 15 tuổi trở lên, được chẩn đoán là
UTBMTBG theo “Hướng dẫn Chẩn đoán và Điều trị
Ung thư biểu mô tế bào gan” của Bộ Y tế năm 2012.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu, mô tả loạt ca.
KẾT QUẢ
Chúng tôi ghi nhận 36509 bệnh nhân được xác
định chẩn đoán là UTBMTBG tại khoa U gan bệnh
viện Chợ Rẫy trong thời gian từ 2010 đến 2019.
Trong 10 năm qua, số lượng bệnh nhân từ
50 đến 70 tuổi tăng dần, trong khi số lượng bệnh
nhân từ 40 đến 50 tuổi tăng không nhiều, và số
lượng bệnh nhân dưới 40 tuổi hầu như không tăng
(sơ đồ 3).
Số lượng bệnh nhân UTBMTBG mới phát hiện
316
Số lượng bệnh nhân UTBMTBG mới phát hiện
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
mỗi năm phân bố theo nơi cư trú
91.78% ≥ 40 tuổi, phổ biến là ở lứa tuổi 50 - 70 tuổi
(sơ đồ 6).
Vĩnh Phúc
Vĩnh Long
Úc
1
898
1
3
Trung Quốc
Thanh Hóa
Thái Nguyên
Thái Lan
49
1
1
Thái Bình 17
Tuyên
Trà Vinh
2
Số lượng bệnh nhân UTBMTBG mới phát hiện
mỗi năm liên quan đến nhiễm virus viêm gan
716
TPHCM
5382
Tiền Giang
TâyNinh
Sơn La
2474
999
1
Sóc Trăng
536
520
Quảng Trị 21
Quảng Ninh
Quảng Ngãi
Quảng Nam
2
797
269
Quảng Bình 26
709
Phú Yên
Nghệ An
Ninh Thuận
Ninh Bình
70
34767/36509 (95.23%) bệnh nhân UTBMTBG
mới được phát hiện trong thời gian 2010 đến 2019
có ghi nhận kết quả thử HbsAg và AntiHCV, trong đó
88.60% có nhiễm virus viêm gan. Trong nhóm này,
61.17% nhiễm HBV, 24.71% nhiễm HCV, 2.72%
đồng nhiễm HBV và HCV. Có 11.40% không nhiễm
HBV và HCV (sơ đồ 7).
7
Nam Định 12
Long An
1486
Lâm Đồng
925
Lào Cai
Lào
1
4
Khánh Hòa
Kontum
953
970
138
Kiên giang
Hưng Yên
Huế
2
38
Hòa Bình
Hoa Kỳ
3
1
308
Hậu Giang
Hàn Quốc
2
Hải Phòng 11
Hải Dương
Hà Tĩnh
5
42
Hà Nội
7
3
Hà Nam
Gia Lai
535
1657
Đồng Tháp
Đồng Nai
Điện Biên
Đắc Nông
Đài Loan
Đà Nẵng
Daklak
2230
1
2
304
151
1263
Cần Thơ
Canada
724
749
1
Campuchia
Cà Mau
322
995
933
BRVT
Bình Thuận
Bình Phước
Bình Định
Bình Dương
Bến Tre
1207
1266
1257
1643
Bắc Giang
Bạc Liêu
An Giang
6
683
2166
0
1000
2000
3000
4000
5000
6000
Số lượng bệnh nhân UTBMTBG mới phát hiện
hàng năm nhiều nhất là ở TP Hồ Chí Minh, kế đến là
Tiền Giang, Đồng Nai, Đồng Tháp,...(sơ đồ 4).
Số lượng bệnh nhân UTBMTBG mới phát hiện
mỗi năm phân bố theo vùng địa lý
Nước ngoài
Đồng bằng sông Cửu Long
TPHCM
337
15256
17141/18343 bệnh nhân (50.24%) UTBMTBG
vừa phát hiện đã quá chỉ định điều trị có ghi nhận kết
quả thử HbsAg và AntiHCV, trong đó 81.47% có
nhiễm virus viêm gan. Trong nhóm này, 61.82%
nhiễm HBV, 17.51% nhiễm HCV, 2.14% đồng nhiễm
HBV và HCV. Có 11.98% không nhiễm HBV và HCV
(sơ đồ 8).
5382
6168
Đông Nam bộ
Tây Nguyên
3165
Nam Trung bộ
5872
Bắc Trung bộ 246
Đồng bằng sông Hồng 66
Đông Bắc bộ 11
6
Tây Bắc bộ
0
2000
4000
6000
8000
10000 12000 14000 16000 18000
Số lượng bệnh nhân UTBMTBG mới phát hiện
hàng năm nhiều nhất là ở đồng bằng sông Cửu
Long, kế đến là vùng Đông Nam bộ, Nam Trung bộ
và TPHCM (sơ đồ 5).
Số lượng bệnh nhân UTBMTBG mới phát hiện
mỗi năm phân bố theo khả năng điều trị
Kết quả AFP
Với ngưỡng giá trị bình thường của AFP là
20ng/ml, trong số 36509 bệnh nhân UTBMTBG
mới được phát hiện trong thời gian từ 2010 đến
2019, chỉ có 43.86% có AFP 400ng/ml, 25.11%
có AFP 20 đến < 400ng/ml. Trong khi đó, 29.39%
có AFP < 20ng/ml, tức là trong giới hạn bình
thường. 1.63% không được ghi nhận kết quả AFP
(sơ đồ 9).
18343 bệnh nhân (50.24%) UTBMTBG vừa
được phát hiện đã quá chỉ định điều trị, trong đó
317
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
Kết quả PIVKA II
PIVKA II được bắt đầu thử tại khoa U gan
Với ngưỡng giá trị bình thường của AFP là
20ng/ml, trong số 18343 bệnh nhân UTBMTBG
vừa phát hiện đã quá chỉ định điều trị trong thời gian
từ 2010 đến 2019, có 64.96% có AFP 400ng/ml,
20.35% có AFP 20 đến < 400ng/ml, và 14.70% có
AFP < 20ng/ml, tức là trong giới hạn bình thường.
2.63% không được ghi nhận kết quả AFP (sơ đồ
10).
bệnh viện Chợ Rẫy từ 2015. Từ 2015 đến 2019,
kết quả thử PIVKA II được ghi nhận trên
8593/20174 bệnh nhân (42.59%) UTBMTBG
mới được phát hiện. Với ngưỡng giá trị bình
thường của PIVKA II là 40mAU/ml, có 66.64% có
PIVKA II >40mAU/ml, 33.36% còn lại có PIVKA II
< 40mAU/ml, tức là trong giới hạn bình thường
(sơ đồ 13).
Kết quả AFP-L3
AFP-L3 được bắt đầu thử tại khoa U gan
bệnh viện Chợ Rẫy từ 2015. Từ 2015 đến 2019,
kết quả thử AFP-L3 được ghi nhận trên
8500/20174 bệnh nhân (42.13%) UTBMTBG mới
được phát hiện. Với ngưỡng giá trị bình thường
của AFP-L3 là 10%, chỉ có 48.14% có AFP-L3 >
10%, 51.86% còn lại có AFP-L3 < 10%, tức là
trong giới hạn bình thường (sơ đồ 11).
Đối với nhóm UTBMTBG vừa phát hiện đã
quá chỉ định điều trị, 2911/10137 bệnh nhân
(28.72%) UTBMTBG có kết quả thử PIVKA II. Với
ngưỡng giá trị bình thường của PIVKA II là
40mAU/ml, có 92.17% có PIVKA II > 40mAU/ml,
7.83% còn lại có PIVKA II < 40mAU/ml, tức là
trong giới hạn bình thường (sơ đồ 14).
Đối với nhóm UTBMTBG vừa phát hiện đã
quá chỉ định điều trị, 2829/10137 bệnh nhân
(27.91%) UTBMTBG có kết quả thử AFP-L3. Với
ngưỡng giá trị bình thường của AFP-L3 là 10%,
có 71.01% có AFP-L3 > 10%, 28.99% còn lại có
AFP-L3 > 10%, tức là trong giới hạn bình thường
(sơ đồ 12).
BÀN LUẬN
Chúng tôi ghi nhận 36509 bệnh nhân
UTBMTBG đến khoa U gan bệnh viện Chợ Rẫy
trong thời gian 10 năm từ 2010 đến 2019, số lượng
bệnh nhân tăng dần theo từng năm và duy trì ở mức
độ cao, điều đó cho thấy UTBMTBG đã và đang là
vấn đề cần được quan tâm hàng đầu trong cả lĩnh
318
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
vực tầm soát, chẩn đoán và điều trị. Trong khi số
lượng UTBMTBG tại Việt Nam theo GLOBOCAN
2018 ước tính là rất cao[1], thì thực sự cho đến nay
chưa có số liệu thống kê quốc gia tại Việt Nam cũng
như tại khu vực miền Bắc Việt Nam về UTBMTBG.
Cho đến năm 2019, ngoài khoa U gan bệnh viện
Chợ Rẫy, chỉ có một số rất hạn chế cơ sở y tế ở
phía Nam có thể điều trị toàn diện cho bệnh nhân
UTBMTBG, do đó hầu hết bệnh nhân từ khu vực
Nam Trung bộ trở vào đều được chuyển đến khám
và điều trị tại khoa U gan bệnh viện Chợ Rẫy, ngoài
ra có một số ít đến từ khu vực Bắc Trung bộ và miền
Bắc, có lẽ bệnh nhân từ các khu vực này đã đến các
trung tâm ở Huế và phía Bắc. Năm 2019, số lượng
bệnh nhân UTBMTBG được chuyển đến có giảm đi
một ít, có lẽ do các cơ sở y tế tuyến trước bắt đầu
thực hiện một số biện pháp điều trị bệnh nhân
UTBMTBG. Do đó, chúng tôi hy vọng nghiên cứu
này có thể cho thấy phần nào mức độ nghiêm trọng
thực sự của UTBMTBG tại Việt Nam.
tiêm vaccine ngừa HBV trong khoảng gần hai thập
niên trở lại đây(5), và nếu căn cứ trên diễn tiến tự
nhiên từ lúc nhiễm virus viêm gan (và không được
phát hiện hay điều trị) cho đến khi xuất hiện
UTBMTBG là khoảng 15 năm thì có thể lý giải
phần nào tình trạng UTBMTBG hiện nay phổ biến
nhất là ở lứa tuổi 50 đến 70 tuổi. Trong 10 năm
qua, chúng tôi ghi nhận số lượng bệnh nhân
UTBMTBG ở lứa tuổi < 30 không cao và không
tăng, và số lượng bệnh nhân UTBMTBG ở lứa
tuổi 30 đến ≤ 40 không tăng đáng kể (sơ đồ 3), có
thể là do hiệu quả của chương trình tiêm chủng
quốc gia vaccine ngừa HBV, cũng như do ý thức
kiểm tra sức khỏe của lứa tuổi này tốt hơn.
Liên quan đến nơi cư trú, nếu xét riêng từng
tỉnh thành thì TP Hồ Chí Minh có số bệnh nhân
mới được phát hiện nhiều nhất (sơ đồ 4), còn nếu
xét theo từng vùng thì đồng bằng sông Cửu Long
là khu vực có số bệnh nhân UTBMTBG mới phát
hiện nhiều nhất (sơ đồ 5). Đối chiếu số liệu bệnh
nhân UTBMTBG ghi nhận tại khoa U gan bệnh
viện Chợ Rẫy với thống kê dân số Việt Nam công
bố tháng 04/2019, chúng tôi ghi nhận tần số mắc
UTBMTBG trên 1 triệu dân lần lượt là 882 tại
đồng bằng sông Cửu Long (17.3 triệu dân/13 tỉnh),
699 tại miền Đông Nam bộ (8.8 triệu dân/5 tỉnh),
638 tại miền Nam Trung bộ (9.2 triệu dân/8 tỉnh),
598 tại TP Hồ Chí Minh (9 triệu dân) và 546 tại
Tây Nguyên (5.8 triệu dân/5 tỉnh). Đây là tần số
khá cao, chưa kể đến các trường hợp UTBMTBG
từ các vùng này không được chuyển đến khoa U
gan bệnh viện Chợ Rẫy. Chúng tôi nghĩ nên xây
dựng chương trình tầm soát UTBMTBG (đối
tương, công cụ, qui trình) chính thức để phát hiện
sớm UTBMTBG tại từng tỉnh thành trên cả nước,
từ đó mới có thể có kế hoạch phòng chống phù
hợp và hiệu quả.
Trong ghi nhận của chúng tôi, nam giới chiếm
tỉ lệ cao hơn nhiều so với nữ giới, tỉ lệ nam/nữ là
4.53/1 (sơ đồ 1), gần với tỉ lệ của Lee CM (4.5/1)[3].
Theo Yeh SH và Chen PJ[5] thì sự chênh lệch này
do ảnh hưởng của hormon sinh dục nam và nữ. Bên
cạnh đó, nam giới thường sử dụng đồ uống có cồn
nhiều hơn nữ giới, do đó nguy cơ bị xơ gan do rượu
cao hơn, mà xơ gan là một yếu tố thuận lợi cho sự
hình thành UTBMTBG. Theo một khảo sát của tạp
chí The Lancet (07/05/2019)[7] (sơ đồ 15), Việt Nam
là một trong số các quốc gia tiêu thụ đồ uống có cồn
nhiều nhất thế giới, và xu hướng tiêu thụ tăng cao từ
2010 đến 2019, do đó nguy cơ xơ gan và UTBMTBG
cũng tăng lên rất cao. Chúng tôi nghĩ nên có một
khảo sát đầy đủ về mối liên quan của việc sử dụng
đồ uống có cồn với bệnh lý xơ gan và UTBMTBG tại
Việt Nam.
95.23% bệnh nhân UTBMTBG được ghi nhận
kết quả thử HbsAg và AntiHCV. Trong số này,
88.60% có nhiễm HBV và/hoặc HCV, trong đó nhiễm
HBV chiếm tỉ lệ cao nhất (61.17%), kế đến là HCV
(24.71%), và có 2.72% đồng nhiễm HBV và HCV (sơ
đồ 7). Tỉ lệ nhiễm HBV cũng cao nhất ở nhóm 18343
bệnh nhân UTBMTBG mới phát hiện nhưng đã quá
chỉ định điều trị (sơ đồ 8). Điều này cho thấy có mối
liên quan giữa nhiễm HBV và/hoặc HCV với
UTBMTBG. Cần lưu ý là Việt Nam nằm trong vùng
dịch tễ nhiễm HBV theo Seeff LB[4]. Có 11.98% bệnh
nhân UTBMTBG không nhiễm HBV hay HCV, chúng
tôi không có điều kiện để xác định có nhiễm các loại
virus viêm gan khác, các tác nhân hóa học hay các
bệnh lý gan khác như NAFLD, NASH,…, nên chưa
thể xác định nguyên nhân gây UTBMTBG ở nhóm
91.78% bệnh nhân từ 40 tuổi trở lên, trong đó
số lượng bệnh nhân >40 tuổi tăng dần và duy trì ở
mức độ cao, và phổ biến nhất là trong lứa tuổi 50
đến 70 tuổi (56.44%) (sơ đồ 2). Tại Việt Nam, các
cơ sở y tế chỉ mới quan tâm nhiều đến tình trạng
nhiễm virus viêm gan và cũng chỉ mới chú trọng
319
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
bệnh nhân này, tuy nhiên sự tăng dần số lượng của
nhóm bệnh nhân này có thể gợi ý mối liên quan với
việc gia tăng tiêu thụ đồ uống có cồn.
Chúng tôi ghi nhận 50.24% bệnh nhân
UTBMTBG mới phát hiện nhưng đã quá chỉ định
điều trị, và tỉ lệ này hầu như không thay đổi trong 10
năm qua (sơ đồ 6). Tất cả thông số về tuổi, giới, nơi
cư trú, tình trạng nhiễm virus viêm gan của nhóm
bệnh nhân này đều tương tự nhóm bệnh nhân
UTBMTBG nói chung. Điều này một mặt cho thấy
UTBMTBG tiến triển rất thầm lặng và thường không
có triệu chứng gợi ý cho đến khi bệnh đã tiến triển
xa, mặt khác cho thấy việc tầm soát phát hiện bệnh
trên các đối tượng nguy cơ (nhiễm HBV, HCV, xơ
gan) tại khu vực phía Nam Việt Nam còn rất hạn
chế, ý thức người dân về kiểm tra sức khỏe định kỳ
chưa cao, cũng như hiệu quả điều trị và việc quản lý
điều trị viêm gan do HBV và HCV còn thấp. Điều đó
dẫn đến nguồn nhân lực lao động suy giảm, chi phí
điều trị (kể cả điều trị chăm sóc giảm nhẹ) gia tăng,
gánh nặng kinh tế đối với bệnh nhân và gia đình
cũng gia tăng, và chưa thể hạn chế nguy cơ
UTBMTBG bùng phát hơn nữa.
Về mặt chẩn đoán, chúng tôi nghĩ rất cần các
nghiên cứu so sánh đối chiếu để xác định giá trị của
các dấu ấn sinh học này trong việc chẩn đoán
UTBMTBG.
KẾT LUẬN
Tại khoa U gan bệnh viện Chợ Rẫy, trong thời
gian từ 2010 đến 2019, chúng tôi ghi nhận có 36509
bệnh nhân UTBMTBG đến khám và điều trị, trong đó
đa số là nam giới. Có đến 88.60% số bệnh nhân có
nhiễm HBV và/hoặc HCV, trong đó đa số là nhiễm
HBV. Có đến 50.24% bệnh nhân khi được phát hiện
UTBMTBG là đã quá chỉ định điều trị, do đó cần có
chiến lược tầm soát phát hiện bệnh sớm trên các đối
tượng có nguy cơ cao (nhiễm HBV, HCV), cũng như
có chiến lược điều trị hiệu quả các trường hợp viêm
gan do HBV và HCV. Việc tiêm chủng phòng ngừa
HBV nên được tiến hành rộng rãi hơn nữa, nhất là
đối với trẻ mới sinh, để giảm nguy cơ UTBMTBG
trong tương lai. AFP chỉ đóng vai trò hạn chế trong
tầm soát và chẩn đoán UTBMTBG, do đó rất cần
thiết mở rộng việc sử dụng AFP-L3 và PIVKA II
(DCP) trong tầm soát UTBMTBG tại Việt Nam.
Đối với giá trị AFP, với ngưỡng giá trị bình
thường là 20ng/ml, chỉ có 43.86% có AFP
400ng/ml, 25.11% có AFP 20 đến < 400ng/ml.
Trong khi đó, có đến 29.39% có AFP < 20ng/ml,
tức là trong giới hạn bình thường (sơ đồ 9). Điều
đó cho thấy vai trò hạn chế của AFP trong cả việc
tầm soát lẫn chẩn đoán UTBMTBG. Zhao YJ ghi
nhận AFP tăng trong 60 - 80% trường hợp
UTBMTBG[6]. Trong nhóm bệnh nhân UTBMTBG
mới phát hiện nhưng đã quá chỉ định điều trị, có đến
63.25% có AFP 400ng/ml, có thể là do bệnh tiến
triển xa, mức độ ác tính cao,…
TÀI LIỆU THAM KHẢO
AFP-L3 và PIVKA II là các dấu ấn sinh học đã
được xác định là có vai trò trong tầm soát
UTBMTBG, và trong nghiên cứu này thì tăng tương
ứng trong 48.14% và 66.64% các bệnh nhân
UTBMTBG, còn đối với nhóm bệnh nhân UTBMTBG
mới phát hiện nhưng đã quá chỉ định điều trị thì các
tỉ lệ này lần lượt là 71.01% và 92.17%, có thể do
bệnh tiến triển xa, mức độ ác tính cao,… Một số tác
giả khuyến cáo sử dụng siêu âm bụng phối hợp với
thử AFP, AFP-L3 và PIVKA II để tính ra điểm
GALAD (GALAD score) hỗ trợ cho việc phát hiện
sớm UTBMTBG[8,9,10] (sơ đồ 15).
1. World Health Organization. Global Health
Observatory.
Geneva:
World
Health
Organization; 2018. who.int/gho/database/ en/.
Accessed June 21, 2018 - GLOBOCAN 2018
2. Hướng dẫn Chẩn đoán và Điều trị Ung thư biểu
mô tế bào gan tại Việt Nam 2012 - Quyết định
5250/QĐ-BYT (28/12/2012)
3. Lee CM, Lu SM, Changchien CS (1999). Age,
gender, and local geographic variation of viral
etiology of hepatocellular carcinoma in
a
hyperendemic area for hepatitis B virus infection.
Cancer: 1143 - 1150.
4. Seeff LB, Hoofnagle JH (2006). Epidemiology of
hepatocellular carcinoma in area of low hepatitis
B and hepatitis C endemicity. Oncogene; 25(27):
3771 - 7.
320
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
5. Yehh SH, Chen PJ (2010). Gender disparity of
hepatocellular carcinoma: the role of sex
hormones. Oncology 2010 Jul, 78 suppl.
Practice Guidance by the American Association
for the Study of Liver Diseases - Hepatology
2018;68 (2) 723 - 750.
6. Zhao YJ, Ju Q, Li GC (2013). Tumor markers for
hepatocellular carcinoma. Oncology: 593 - 598.
9. Lin OS, et al. Cost-effectiveness of screening for
hepatocellular carcinoma in patients with
cirrhosis due to chronic hepatitis C. Aliment
Pharmacol Ther 2004;19: 1159 - 1172.
7. The Lancet: Targets to reduce harmful alcohol
use are likely to be missed as global alcohol
intake
increases.
10. Fujiwara N, et al. Risk factors and prevention of
hepatocellular carcinoma in the era of precision
medicine. J Hepatol. 2018;68:526 - 549
PIIS0140 - 6736(18)32744 - 2/fulltext
8. Marrero JA, et al. Diagnosis, Staging, and
Management of Hepatocellular Carcinoma: 2018
321
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
SUMMARY
Hepatocellular carcinoma at liver tumor department, Cho Ray Hospital: Cancer registry 2010 - 2019
Aims: To examine the situation of hepatocellular carcinoma at Liver Tumor Department of Cho Ray
hospital from 2010 to 2019 and its relationship with viral infection B - C.
Methods: Retro-observational study. Data on age, genre, geography, factors related to hepatocellular
carcinoma (viral infection, possibility of treatment, AFP level) was obtained from 2010 to 2019.
Results: Data from 36,509 HCC patients were extracted, comprising 81.91% male. Male/female ratio
is 4.53/1. Mean age is 58.9. 91.78% were older than 40 years old, mainly from 50 to 70 years old. This
patient sample derived from numerous provinces throughout Southern Vietnam and Southern of Central
Vietnam (50.2 millions people), including 41.80% from Mekong River Delta (15255 patients/17.3 millions
people/13 provinces), 17.74 from HoChiMinh city (5382 patients/9 millions people), 16.80% from SouthEast
region (6148 patients/8.8 millions people/5 provinces), 16.08% from Middle-South region (5872 patients/9.2
millions people/8 provinces), and 8.67% from Highland region (3165 patients/5.8 millions people/5 provinces).
HBV infection was found in 61.17% of cases, HCV infection was found in 24.71% of cases, while HBV and
HCV co-infection was found in 2.72% of cases. 11.40% patients have no virus infection. Over this 10-year
period, the number of HCC cases is still in high level, with a large proportion of cases (18343 patients / 50.24%)
presenting initially in far advanced stage, and not amendable to locoregional or surgical therapy, 91.78%
patients of this group were older than 40 years old, mainly from 50 to 70 years old. These patients did not
receive any alternative therapy, except best supportive care. AFP level 20 - <400ng/ml in 25.11% patients,
400ng/ml in 43.86% patients. 29.39% HCC patients have AFP level < 20ng/ml.
Conclusion: HCC is found to contribute significant health care burden, the number of cases has
increased in over last ten years (2010 - 2019). Most of cases have HBV and HCV infections. We should identify
and treat individuals with chronic viral hepatitis to decrease the development of HCC, and individuals with
known hepatitis or cirrhosis would likely benefit from close surveillance by ultrasonography and biomarkers
(AFP, AFP-L3, PIVKA-II) every 3-6 months for early HCC detection and thus treatment.
Key words: HCC, HBV, HCV, AFP.
322
Bạn đang xem tài liệu "Ghi nhận ung thư biểu mô tế bào gan tại Khoa u gan Bệnh viện Chợ Rẫy 2010-2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ghi_nhan_ung_thu_bieu_mo_te_bao_gan_tai_khoa_u_gan_benh_vien.pdf

