Đồ án Áp dụng chỉ số chất lượng nước để đánh giá biến động chất lượng nước sông Bồ, tỉnh Thừa Thiên Huế

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH  
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP  
ÁP DỤNG CHỈ SỐ CHẤT LƢỢNG NƢỚC ĐỂ  
ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG CHẤT LƢỢNG NƢỚC  
SÔNG BỒ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ  
Ngành:  
MÔI TRƢỜNG  
Chuyên ngành: KỸ THUẬT MÔI TRƢỜNG  
Giảng viên hƣớng dẫn : PGS.TSKH. Bùi Tá Long  
Sinh viên thực hiện : Trần Khánh Thiện  
MSSV: 1311090581 Lớp: 13DMT02  
TP. Hồ Chí Minh, 2017  
LỜI CAM ĐOAN  
Trong quá trình thực hiện và làm đồ án tốt nghiệp tôi cam đoan không sao chép đồ  
án dƣới bất kỳ hình thức nào, các số liệu đƣợc thu thập trích dẫn trong đồ án là trung  
thực và tôi chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình.  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi. Các  
số liệu sử dụng phân tích trong đồ án có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy  
định. Các kết quả nghiên cứu trong đồ án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung  
thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. Các kết quả này chƣa từng  
đƣợc công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác.  
Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 7 năm 2017  
Sinh viên thực hiện  
TRẦN KHÁNH THIỆN  
LỜI CẢM ƠN  
Trƣớc hết em xin cảm ơn chân thành đến: Sở Tài nguyên và Môi trƣờng Thừa  
Thiên Huế đã hỗ trợ, tạo điều kiện và cung cấp số liệu cho em trong suốt quá trình thực  
hiện đồ án.  
Em xin chân thành cảm ơn toàn thể quý thầy cô Trƣờng Đại học Công nghệ  
HUTECH đã dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập. Và  
đặc biệt, em xin cảm ơn Thầy PGS.TSKH. Bùi Tá Long, cô Nguyễn Châu Mỹ Duyên  
cùng nhóm Envim lab đã hƣớng dẫn và giúp em rất nhiều trong quá trình hoàn thành bài  
báo cáo đồ án tốt nghiệp của mình.  
Với vốn kiến thức và thời gian thực hiện đồ án có hạn nên không thể tránh khỏi  
những thiếu sót. Em rất mong đƣợc những ý kiến đóng góp, phê bình của quý thầy cô.  
Đó sẽ là hành trang quý giá giúp em hoàn thiện kiến thức của mình.  
Trân trọng cảm ơn!  
Sinh viên thực hiện  
TRẦN KHÁNH THIỆN  
MỤC LỤC  
i
 
PHỤ LỤC............................................................................................................ 62-66  
ii  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
WQI_Water Quality Index: chỉ số chất lƣợng nƣớc  
CLN: Chất Lƣợng Nƣớc  
TSS_Total Suspended Solid: tổng chất rắn lơ lửng  
DO_Dissolved Oxygen: oxy hòa tan  
BOD_Biochemical Oxygen Demand: nhu cầu oxy sinh hóa  
COD_Chemical Oxygen Demand: nhu cầu oxy hóa học  
QCVN: Quy Chuẩn Việt Nam  
GIS_Geographic Information System: hệ thống thông tin địa lý  
WQUIZ_Water Quality Index Zoning: phân vùng chất lƣợng nƣớc  
NSE_NASH – SUTCLIFFE Efficiency: hiệu quả mô hình NASH - SUTCLIFFE  
iii  
 
DANH MỤC CÁC BẢNG  
Bảng 2.4 Bảng quy định giá trị qi, BPi đối với DO% bão hòa [2] ..........................................33  
iv  
 
v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH  
vi  
 
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Các nguồn nƣớc mặt nói chung (sông nói riêng) đóng vai trò quan trọng  
trong đời sống kinh tế - xã hội của địa phƣơng hay quốc gia. Vai trò đó đƣợc thể hiện ở  
việc điều hoà khí hậu; cung cấp nƣớc cho sinh hoạt, tƣới tiêu trong nông nghiệp,  
cấp nƣớc cho công nghiệp, giao thông thuỷ, du lịch, thể thao giải trí [5]  
Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế, dân số gia tăng thì nhu cầu sử dụng nƣớc  
ngày càng tăng cả về khối lƣợng lẫn chất lƣợng. Việc khai thác quá mức các  
nguồn nƣớc phục vụ nhu cầu hàng ngày mà không có kế hoạch bảo vệ sẽ dễ dẫn đến  
nguy cơ cạn kiệt. Mặt khác, các nguồn nƣớc mặt cũng là nơi tiếp nhận hầu hết các chất  
thải và do vậy, nguy cơ ô nhiễm nguồn nƣớc là khó tránh khỏi. Các điều đó sẽ làm giảm  
chất lƣợng nƣớc, ảnh hƣởng bất lợi đến đời sống các sinh vật, tính đa dạng sinh học, cân  
bằng sinh thái của hệ sinh thái nƣớc và quan trọng hơn là ảnh hƣởng tới sức khoẻ con  
ngƣời. Để bảo vệ các nguồn nƣớc, bảo vệ sinh vật và sức khoẻ con ngƣời, cần phải thiết  
lập chiến lƣợc bảo vệ tài nguyên nƣớc, quản lý và khai thác hợp lý các nguồn nƣớc. Để  
thực hiện mục đích đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là điều tra, đánh  
giá hiện trạng chất lƣợng của các nguồn nƣớc. [5]  
Để đánh giá chất lƣợng nƣớc (CLN) cần phải có một thông số mô tả tổng quát,  
cho phép lƣợng hoá đƣợc CLN. Một trong những thông số tổng quát đó là Chỉ số Chất  
lƣợng nƣớc (Water Quality Index, viết tắt là WQI). WQI là một thông số “tổ hợp” đƣợc  
tính toán từ nhiều thông số CLN riêng biệt theo một phƣơng pháp xác định. WQI đƣợc  
đề xuất và áp dụng đầu tiên ở Mỹ vào những năm 1965 ÷ 1970. Sau đó WQI nhanh  
chóng đƣợc chấp nhận và triển khai áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới và nó đƣợc  
xem là một công cụ hữu hiệu đối với các nhà quản lý môi trƣờng trong việc giám sát và  
đánh giá CLN, cung cấp những thông tin CLN cho cộng đồng và các nhà hoạch định  
chính sách. [5]  
Vì lý do đó tôi chọn đề tài “Áp dụng chỉ số chất lượng nước để đánh giá biến  
động chất lượng nước sông Bồ, tỉnh Thừa Thiên Huế”  
1
 
2. Tình hình nghiên cứu  
Ở Việt Nam, đã có một số tác giả xây dựng WQI áp dụng cho sông Đồng Nai  
(1995) và Chỉ số Sinh học (Average Score Per Taxon), theo hệ thống sử dụng phƣơng  
pháp quan trắc động vật không xƣơng sống cỡ lớn gọi tắt là BMWP (Biological  
Monitoring Woring Party) của Anh và của Việt Nam, cho sông Nhuệ ở khu vực phía Bắc  
của N. X. Quỳnh (2001 ÷ 2003). Ở khu vực miền Trung, P. K. Liệu (1997), N. V. Hợp và  
cộng sự (2001 ÷ 2003) là những ngƣời đầu tiên áp dụng WQI cho sông Hƣơng ở tỉnh  
Thừa Thiên Huế, phân loại và lý giải CLN theo hệ thống WQI của Quỹ Vệ sinh Mỹ  
(United States – National Sanitation Foudation – Water Quality Index) gọi tắt là NSF-  
WQI. Năm 2009, N. V. Hợp và cộng sự đã xây dựng mô hình WQI theo mô hình  
Bhargava điều chỉnh để đánh giá nhạy CLN tổng quát của sông Bồ tỉnh Thừa Thiên Huế.  
3. Mục đích nghiên cứu  
Đƣa ra các bản đồ phân vùng chất lƣợng nƣớc mặt của sông Bồ theo từng đợt đo  
của các trạm đo. Từ đó, cơ quan nhà nƣớc và tƣ nhân chuyên trách có cơ sở để đề ra các  
giải pháp quản lý, xử lý hay kiểm soát ô nhiễm nƣớc mặt trên các con sông thành phố  
Huế.  
4. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Thu thập số liệu của các chỉ số chất lƣợng nƣớc, sau đó ứng dụng phần mềm mô  
hình hóa để xử lý số liệu thu đƣợc và kết quả là những bản đồ phân vùng chất lƣợng  
nƣớc sông Bồ theo từng đợt đo của các trạm đo.  
5. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Phƣơng pháp thu thập số liệu nguồn thứ cấp: xin số liệu kết quả quan trắc nƣớc  
mặt sông Bồ trong 2 năm 2015 và 2016 tại Sở Tài nguyên và Môi trƣờng tỉnh Thừa  
Thiên Huế.  
Bảng 0.1 Danh sách trạm quan trắc nƣớc mặt sông Bồ, tỉnh Thừa Thiên Huế  
Tọa độ  
Mã  
STT  
Tên trạm  
trạm  
NSB1  
NSB2  
NSB3  
X
Y
1
2
3
758715 1821207 Lòng hồ thủy điện Hƣơng Điền  
762073 1830715 Cầu An Lỗ  
764483 1828809 Trạm cấp nƣớc Tứ Hạ  
2
 
Phƣơng pháp mô hình hóa: sử dụng mô hình tính toán chỉ số chất lƣợng nƣớc mặt  
theo công thức của tổng cục thể hiện kết quả lên phần mềm.  
Phƣơng pháp GIS và bản đồ: GIS là phƣơng pháp chồng chập một số lớp thông tin  
lên bản đồ địa lý khu vực đƣợc lập bằng kỹ thuật số để rút ra lớp thông tin tổng hợp có  
thể định lƣợng. Hiển thị các vấn đề môi trƣờng, có thể tính toán định lƣợng nhiều thông  
số và có chiều thời gian.  
6. Kết cấu đồ án tốt nghiệp  
Chƣơng 1: Tổng quan đối tƣợng nghiên cứu  
Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu  
Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu  
Chƣơng 4: Kết luận – Kiến nghị  
3
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU  
1.1 Tổng quan về vị trí địa lý, đặc điểm khu vực và tài nguyên sẵn có  
1.1.1 Vị trí địa lý  
Thừa Thiên Huế là một tỉnh phía nam của vùng duyên hải Bắc Trung Bộ, có diện  
tích đất tự nhiên là 5.009,2 km2. Lãnh thổ Thừa Thiên Huế bao gồm phần đất liền và  
phần lãnh hải thuộc thềm lục địaphía Đông ,phía bắc giáp tỉnh Quảng Trị với điểm cực  
bắc 16044’N và 107023’E thuộc xã Điền Hƣơng, huyện Phong Điền; phía tây giáp với  
nƣớc CHDCND Lào với điểm cực tây 160 31’ N và 170 02’ E thuộc xã Hồng Thủy -  
huyện A Lƣới; phía nam giáp thành phố Đà Nẵng với điểm cực nam 160 00’ N và 1070  
42’E, nằm trên dãy Bạch Mã thuộc huyện Nam Đông; phía Đông giáp Biển Đông với  
đƣờng bờ biển dài 120km chạy từ xã Điền Hƣơng - huyện Phong Điền đến Bãi Chuối là  
điểm cực đông của mũi Hải Vân có tọa độ 16012’N và 108012’E. [3]  
Phía Bắc thành phố và phía Tây giáp thị xã Hƣơng Trà, phía Nam giáp thị xã  
Hƣơng Thuỷ, phía Đông giáp thị xã Hƣơng Thuỷ và huyện Phú Vang. Tọa lạc hai bên bờ  
hạ lƣu sông Hƣơng, về phía Bắc đèo Hải Vân, cách Đà Nẵng 101 km, cách biển Thuận  
An 14 km, cách sân bay quốc tế Phú Bài 14 km và cách Cảng nƣớc sâu Chân Mây 50  
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Thừa Thiên Huế [11]  
4
       
1.1.2 Địa hình  
Nằm gần dãy núi Trƣờng Sơn, khu vực thành phố Huế là đồng bằng thuộc vùng hạ  
lƣu sông Hƣơng và sông Bồ, có độ cao trung bình khoảng 3 – 4 m so với mực nƣớc biển  
và thƣờng bị ngập lụt khi đầu nguồn của sông Hƣơng (trên Dãy Trƣờng Sơn) xảy ra mƣa  
vừa và lớn. Khu vực đồng bằng này tƣơng đối bằng phẳng, tuy trong đó có xen kẽ một số  
đồi, núi thấp nhƣ núi Ngự Bình, Đồi Vọng Cảnh ... [10]  
Địa hình Thừa Thiên - Huế rất phức tạp. Toàn bộ lãnh thổ kéo dài theo phƣơng tây  
bắc – đông nam, cả những dãy núi và vùng đồng bằng đều chạy song song với đƣờng bờ  
biển và thấp dần từ tây sang đông. Có thể chia lãnh thổ tỉnh theo phƣơng từ tây sang  
đông thành 4 vùng: vùng núi, vùng gò đồi, vùng đồng bằng, vùng đầm phá và cồn cát  
Vùng núi đồi nằm ở phía tây và phía nam chiếm 70% diện tích của tỉnh. Phía tây là  
một đoạn trong dãy Trƣờng Sơn với những đỉnh núi cao từ 500 đến 1000m, trong đó có  
những đỉnh khá cao nhƣ Động Ngại (1.774m), Động Pho (1.436m). Những đỉnh núi cao  
nhất không nằm trên biên giới Việt – Lào mà nằm sâu trong lãnh thổ của tỉnh. Một số  
sông bắt nguồn từ dãy núi này chảy qua thung lũng A Lƣới sang Lào nhƣ sông A Sáp.  
Phía nam tỉnh là dãy núi Bạch Mã xuất phát từ dãy Trƣờng Sơn đâm ngang ra biển với  
những đỉnh núi cao trên 1000m ngăn cách giữa Thừa Thiên - Huế với Đà Nẵng. Những  
đỉnh núi cao nhất trong dãy Bạch Mã là Động Ruy (1.220m), Bạch Mã (1.444m), núi  
Mang (1.702m), núi A Tin (1.298m). [3]  
Phía sƣờn đông của dãy Trƣờng Sơn, địa hình chuyển khá nhanh từ vùng núi qua  
vùng gò đồi xuống vùng đồng bằng. Từ vùng núi cao 500 – trên 1.000m ở phía tây xuống  
tới vùng đồng bằng ven biển có độ cao từ 20m trở xuống, với khoảng cách không quá  
50km đã tạo cho địa hình Thừa Thiên - Huế độ dốc khá lớn. Do độ dốc lớn nên phần lớn  
đất ở vùng núi bị xói mòn thóai hóa, rừng còn rất ít. Theo số liệu năm 1995 diện tích đất  
trống, đồi núi trọc lên tới 166.000ha chiếm 33% diện tích của Tỉnh, trong đó vùng cát nội  
đồng là 13.000ha. Vùng đồng bằng Thừa Thiên - Huế phần lớn nhỏ hẹp và chiếm khoảng  
9,78% diện tích đất tự nhiên của tỉnh, bị chia cắt thành từng mảnh bởi các dãy núi nhấp  
nhô ra sát biển và mạng lƣới dày đặc có độ dốc lớn. Điều kiện địa hình nhƣ trên là một  
trong những nhân tố quan trọng tạo nên một chế độ mƣa lũ khắc nghiệt. [3]  
5
 
1.1.3 Khí hậu, thủy văn  
Chế độ nhiệt  
Thừa Thiên Huế có một nền nhiệt độ khá cao và có biến động lớn về mùa đông,  
giúp các loại cây trồng có khả năng hoàn thành nhiều vòng sinh trƣởng trong năm. Số  
ngày rét đậm và rét hại về mùa đông không nhiều, nhƣng thời tiết âm u kèm theo nhiệt độ  
thấp kéo dài trong thời kì trổ bông của vụ lúa Đông Xuân là một trong những nguyên  
nhân gây mất mùa. Ở vùng núi cao Bạch Mã, A lƣới không có mùa nóng, chỉ có mùa mát  
và lạnh. Khí hậu Bạch Mã tƣơng tự với Đà Lạt về mặt nhiệt độ. [3]  
Chế độ mƣa  
Thừa Thiên Huế tồn tại hai vùng có chế độ mƣa khác nhau: vùng núi Nam Đông, A  
Lƣới và vùng đồng bằng ven biển. Ở vùng đồng bằng ven biển, mùa mƣa bắt đầu từ  
tháng 9 và kết thúc vào tháng 12 – kéo dài 4 tháng; mùa ít mƣa kéo dài 8 tháng – từ  
tháng 1 đến tháng 7. Ở vùng núi và gò đồi, mùa mƣa bắt đầu từ tháng 5 hoặc tháng 6 và  
kết thúc vào tháng 12 – kéo dài khoảng 7 hoặc 8 tháng; mùa ít mƣa kéo dài từ tháng 1  
đến tháng 4 hoặc tháng 5. [3]  
Huế cũng là một trong những tỉnh có lƣợng mƣa nhiều nhất ở nƣớc ta. Lƣợng mƣa  
trung bình hằng năm trong toàn tỉnh đều trên 2.700mm, có nơi trên 4.000mm nhƣ Bạch  
Mã và Thừa Lƣu. Do sự tác động giữa địa hình và hoàn lƣu khí quyển, đã hình thành nên  
hai trung tâm mƣa lớn: Trung tâm mƣa lớn thứ nhất là khu vực Bạch Mã, Thừa Lƣu,  
Nam Đông, Phú Lộc và trung tâm mƣa lớn thứ hai chịu ảnh hƣởng của dãy Trƣờng Sơn  
với Động Ngại cao 1.774m nằm trong huyện A Lƣới. Vùng ít mƣa nhất là vùng đồng  
bằng phía Bắc của Thừa Thiên Huế. [3]  
Đặc điểm mƣa của Thừa Thiên Huế ít mang lại thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.  
Do đó, công tác thủy lợi, quy hoạch đồng ruộng, bảo vệ rừng và bảo vệ môi trƣờng phải  
đƣợc coi trọng. [3]  
Một số loại thời tiết đặc biệt  
Bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ): số lƣợng bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hƣởng đến  
Thừa Thiên Huế không nhiều nhƣng tác hại của chúng rất nghiêm trọng, nhất là về gió và  
mƣa. Khi bão và ATNĐ đổ bộ trực tiếp Thừa Thiên Huế, lƣợng mƣa trung bình của một  
đợt vào khoảng 200-300mm, nếu kết hợp với không khí lạnh có thể tăng lên 500-600mm.  
6
 
Bão và ATNĐ đổ bộ vào khu vực phía nam tỉnh cho lƣợng mƣa lớn hơn khi đổ bộ vào  
khu vực phía bắc (từ Quảng Bình trở ra). [3]  
Hội tụ nhiệt đới (HTNĐ): là sự hội tụ giữa gió tín phong bắc bán cầu và gió mùa  
mùa hè. Khi có HTNĐ, không khí hai bên trục hội tụ là không khí nóng ẩm liên tục bốc  
lên cao, duy trì một vùng mây dày đặt có bề rộng vài trăm km và gây mƣa lớn kèm theo  
giông trên diện rộng. Ở Trung Bộ nói chung và Huế nói riêng, thƣờng thấy dạng thời tiết  
này vào các tháng 9,10 và đôi khi vào tháng 5,6. Sự hoạt động của HTNĐ vào các tháng  
5,6 ở Trung Bộ gây ra mƣa lũ trong mùa ít mƣa gọi là mƣa lũ Tiểu Mãn. [3]  
Gió Tây khô nóng: đƣợc xác định khi nhiệt độ không khí trên hoặc bằng 350C và độ  
ẩm lúc 13 giờ thấp hơn hoặc bằng 55%. Trung bình hằng năm ở thành phố Huế có  
khoảng 35 ngày và Nam Đông có 55 ngày thời tiết khô nóng. Gió Tây khô nóng thƣờng  
là nguyên nhân gây ra hạn hán ở Thừa Thiên Huế. [3]  
Giông, gió lốc, mƣa đá: giông có khả năng xuất hiện từ tháng 1 đến tháng 11, nhƣng  
tập trung nhất là từ tháng 4 đến tháng 9 và không quan sát thấy giông ở Thừa Thiên Huế  
vào tháng 1,12. Trong mùa hè thời kì có gió Tây khô nóng, thƣờng xuất hiện lốc, kèm  
theo giông, mƣa rào và có khi có mƣa đá, hiện tƣợng đó gọi là lốc. Ở Thừa Thiên Huế,  
lốc xuất hiện chủ yếu vào 4,5,7,8 và thƣờng không thua kém gì bão. [3]  
1.1.4 Ranh giới hành chính  
Thừa Thiên Huế có 1 thành phố, 2 thị xã và 6 huyện (với 39 phƣờng, 8 thị trấn và  
105 xã) đƣợc nêu cụ thể trong bảng 1.1:  
Bảng 1.1 Ranh giới hành chính tỉnh Thừa Thiên Huế [11]  
Đơn vị  
Diện tích  
Dân số  
Mật độ  
Phân chia  
hành  
Tên  
(km2)  
(người)  
(người/km2)  
hành chính  
chính  
Thành  
phố  
70,67  
517,10  
454,66  
354.124  
116.147  
101.353  
5011  
225  
27 phƣờng  
Huế  
7 phƣờng,  
9 xã  
Thị xã Hƣơng  
Trà  
5 phƣờng,  
7 xã  
Hƣơng  
223  
Thủy  
7
   
20 xã,  
1 thị trấn  
15 xã,  
Huyện  
A
1.225,21  
948,23  
165,05  
278,24  
720,36  
647,78  
47.115  
92.938  
85.760  
182.141  
138.123  
25.871  
38  
98  
Lƣới  
Phong  
Điền  
Quảng  
Điền  
Phú  
1 thị trấn  
10 xã,  
526  
655  
192  
40  
1 thị trấn  
18 xã,  
2 thị trấn  
16 xã,  
Vang  
Phú  
2 thị trấn  
10 xã,  
Lộc  
Nam  
Đông  
1 thị trấn  
1.1.5 Mạng lưới giao thông chính  
Đƣợc sự hỗ trợ của Trung ƣơng cùng nỗ lực của địa phƣơng, những năm gần đây  
hạ tầng về giao thông vận tải trong tỉnh có những bƣớc tiến vƣợt bậc. Tuyến Quốc lộ  
1A, nơi kết nối các đô thị Phong Điền, Hƣơng Trà, Huế, Hƣơng Thủy, Phú Lộc và  
nhiều khu đô thị khác đang đƣợc mở rộng với quy mô hiện đại. Hầm đƣờng bộ Phú  
Gia và Phƣớc Tƣợng hoàn thành vào năm 2016 sẽ đáp ứng nhu cầu vận tải ngày càng  
tăng trên QL1, giảm thời gian lƣu thông trên tuyến QL 1A, thúc đẩy việc thông  
thƣơng, đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. [12]  
Một số chỉ tiêu quy hoạch các loại hình giao thông  
Về cảng biển: Tiếp tục phát triển Khu bến Chân Mây thành cảng tổng hợp của  
tỉnh, phục vụ trực tiếp khu công nghiệp Chân Mây, hàng tiếp chuyển quá cảnh của  
Lào, Đông Bắc Thái Lan, có bến chuyên dùng phục vụ công nghiệp đóng sửa tàu biển,  
bến phục vụ khách du lịch quốc tế, tiếp nhận tàu hàng trọng tải từ 30.000 tấn đến  
50.000 tấn, tàu khách đến 100.000 GT và lớn hơn. Đến năm 2030, tiếp tục nâng cấp  
cảng biển Thừa Thiên Huế trên cơ sở tăng trƣởng về nhu cầu vận tải. [12]  
Đối với đƣờng sắt: Ƣu tiên nâng cấp, hiện đại hóa tuyến đƣờng sắt Bắc- Nam;  
đồng thời, nghiên cứu phƣơng án xây dựng mới tuyến đƣờng sắt tốc độ cao, đƣờng đôi  
khổ 1.435mm, điện khí hóa trên trục Bắc- Nam qua địa bàn tỉnh. Đến năm 2030, hoàn  
8
 
thành nâng cấp các tuyến đƣờng sắt hiện có và nghiên cứu, đầu tƣ một số tuyến đƣờng  
sắt trên địa bàn; phát triển đƣờng sắt cự li ngắn về khu Chân Mây-Lăng Cô; đƣờng sắt  
không đi qua TP Huế. [12]  
Cảng hàng không quốc tế Phú Bài: Tiếp tục phát triển Cảng Hàng không Quốc  
tế Phú Bài đạt tiêu chuẩn sân bay dân dụng cấp 4E, có các đƣờng bay quốc tế tới khu  
vực ASEAN, Đông Dƣơng, Đông Bắc Á. Đến năm 2030, Duy trì phát triển cảng hàng  
không- Sân bay Quốc tế Phú Bài đạt tiêu chuẩn sân bay dân dụng cấp 4E theo tiêu  
chuẩn ICAO, đáp ứng khả năng tiếp nhận các loại máy bay nhƣ: B767, B777, B787 và  
tƣơng đƣơng. Số hành khách giờ cao điểm: 4.000 hành khách/giờ cao điểm; công suất  
đạt 8-10 triệu hành khách/năm. [12]  
Tuyến đƣờng thủy nội địa: Đầu tƣ đƣa vào cấp kỹ thuật tuyến vận tải thủy  
chính phá Tam Giang-đầm Cầu Hai, tuyến sông Hƣơng từ Thuận An đến ngã ba Tuần  
đạt tiêu chuẩn cấp III. Phát triển giao thông đƣờng thuỷ nội địa kết hợp với du lịch  
sinh thái. Đến năm 2030, hoàn thiện đầu tƣ cải tạo, nâng cấp tuyến vận tải thủy chính  
sông Hƣơng từ Thuận An đến ngã ba Tuần, tuyến Phá Tam Giang đến Đầm Cầu Hai  
đạt tiêu chuẩn cấp III. Đầu tƣ cải tạo nâng cấp, hiện đại hoá trang thiết bị tại các cảng,  
bến bốc xếp, bến khách ngang sông, bến tàu thuyền du lịch trọng yếu trên địa bàn. [12]  
1.1.6 Tiềm năng phát triển kinh tế  
“Là vùng đất có nhiều tiềm năng để phát triển sản xuất kinh doanh. Các mũi nhọn  
kinh tế của thành phố đã đƣợc xác định là: Du lịch – Dịch vụ và Công nghiệp – tiểu thủ  
công nghiệp.” [13]  
Dịch vụ: Thành phố Huế có điều kiện thuận lợi và đã đƣợc Trung ƣơng định hƣớng  
phát trỉên thành một trung tâm du lịch, thƣơng mại, dịch vụ và giao dịch quốc tế của cả  
khu vực miền Trung và Tây nguyên và thành phố Festival của Việt Nam. Công nghiệp -  
TTCN: Các ngành sản xuất công nghiệp-TTCN có tiềm năng đƣợc xác định nhƣ: CN dệt  
may, da giày, hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống, chế biến thực phẩm đặc sản; điện tử,  
cơ khí tiêu dùng và sửa chữa... Huế có nhiều ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống  
lâu đời nhƣ: đúc đồng, thêu ren, mộc điêu khắc chạm khảm,... với đội ngũ thợ thủ công  
lành nghề, đông đảo. [13]  
9
 
Cụm công nghiệp, khu đô thị, trung tâm thƣơng mại: Thành phố đã đầu tƣ xây dựng  
cụm công nghiệp làng nghề Hƣơng Sơ với quy mô 48 ha, khả năng mở rộng thành 100  
ha nhằm tạo điều kiện mặt bằng sản xuất cho các nhà đầu tƣ vào lĩnh vực SX CN-TTCN.  
Hiện đã có các nhà máy: Bánh kẹo, giày XK, điện tử, mộc cao cấp, bánh đa nem XK,  
nhựa... Ngoài ra Thành phố đã và đang quy họach phát triển nhiều khu đô thi mới nhƣ:  
An vân dƣơng, Đông nam Thuỷ an, Bắc Hƣơng sơ, Tây Hƣơng sơ, Đông nam Thuỷ  
trƣờng; các trung tâm thƣơng mại lớn: Trung tâm thƣơng mại Bắc trƣờng tiền, siêu thị  
Metro Thuỷ an, trung tâm thƣơng mại và dịch vụ Plaza... [13]  
1.1.7 Tài nguyên  
Tài nguyên đất đai  
Thừa Thiên Huế có tổng diện tích tự nhiên là 505.399 ha, trong đó diện tích đất là  
468.275 ha; hồ, ao, đầm, sông suối, núi đá là 37.124 ha. Đất đồi núi chiếm trên 3/4 tổng  
diện tích tự nhiên, còn đất đồng bằng duyên hải chỉ dƣới 1/5 tổng diện tích tự nhiên của  
tỉnh. Đất đai tại đây khá đa dạng, đƣợc hình thành từ 10 nhóm đất khác nhau. Nhóm đất  
đỏ vàng có diện tích lớn nhất với 347.431ha, chiếm 68,7% tổng diện tích tự nhiên. Diện  
tích đất bằng bao gồm đất thung lũng chỉ có 98.882 ha, chiếm 19,5% diện tích tự nhiên  
của tỉnh. Trong đó diện tích đất cần cải tạo bao gồm: đất cồn cát, bãi cát và đất cát biển;  
nhóm đất phèn ít và trung bình, mặn nhiều; nhóm đất mặn; nhóm đất phù sa úng nƣớc,  
đất lầy và đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ có đến 59.440 ha, chiếm 60% diện tích đất  
bằng. Diện tích đất phân bố ở địa hình dốc có 369.393 ha (kể cả đất sói mòn trơ sỏi đá).  
[14]  
Tài nguyên nhân văn, du lịch  
Thừa Thiên Huế đang gìn giữ kho tàng văn hóa phong phú, đa dạng, đặc sắc trong  
dòng chảy văn hóa Việt Nam. Với gần 1.000 di tích bao gồm di tích lịch sử cách mạng,  
di tích tôn giáo, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích lƣu niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh.  
Trong đó, Quần thể Di tích Cố đô Huế đã đƣợc UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa  
Thế giới (năm 1993). [14]  
Thừa Thiên Huế còn là nơi tập trung những di sản văn hóa phi vật thể phong phú và  
đa dạng, đƣợc bảo tồn, khai thác và phát huy. Từ những loại hình nghệ thuật diễn xƣớng  
cung đình bác học, nghệ thuật trang trí đến những phong tục tập quán mang đậm những  
10  
 
nét riêng của từng vùng đất. Trong đó, Nhã nhạc cung đình triều Nguyễn đƣợc UNESCO  
công nhận là Di sản phi vật thể đại diện của nhân loại (năm 2003) và đang đƣợc tích cực  
gìn giữ và phát huy giá trị. Các loại hình múa hát cung đình, lễ nhạc cung đình, tuồng  
Huế, ca Huế, ca kịch Huế và các làn điệu dân ca, dân nhạc, dân vũ đã và đang tiếp tục  
đƣợc đầu tƣ sƣu tầm, khôi phục, phát huy và phát triển. [14]  
Tiềm năng du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế khá phong phú, đa dạng bao gồm các  
tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn. Cảnh quan thiên nhiên sông núi, rừng, biển rất  
kỳ thú và hấp dẫn với những địa danh nổi tiếng nhƣ sông Hƣơng, núi Ngự, đèo Hải Vân,  
núi Bạch Mã, cửa Thuận An, bãi biển Lăng Cô, đầm phá Tam Giang... Cố đô Huế là một  
trong những trung tâm văn hóa lớn của Việt Nam, hiện đang lƣu trữ một kho tàng vật  
chất đồ sộ, có quần thể di tích cố đô đã đƣợc UNESCO xếp hạng di sản văn hoá nhân  
loại với những công trình về kiến trúc cung đình và danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Ngoài  
ra, tỉnh Thừa Thiên Huế còn có hàng trăm chùa triền với kiến trúc dân tộc độc đáo và  
một kho tàng văn hoá phi vật chất đồ sộ với các loại hình lễ hội tôn giáo, lễ hội dân gian,  
lễ hội cung đình. [14]  
1.2 Tổng quan về tình hình kinh tế xã hội  
1.2.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế  
So với năm 2010, quy mô nền kinh tế Thừa Thiên Huế tăng gấp 1,6 lần; thu ngân  
sách Nhà nƣớc đạt xấp xỉ 5.000 tỷ đồng (tăng 1,6 lần); thu nhập bình quân đầu ngƣời đạt  
2.000 USD (tăng gần 2 lần); tổng vốn đầu tƣ xã hội đạt gần 70.000 tỷ đồng; giá trị kim  
ngạch xuất khẩu tăng bình quân 15,6%/năm. Các ngành dịch vụ phát triển đa dạng  
(chiếm 55,7% trong GRDP), đóng vai trò chủ lực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Công  
nghiệp - xây dựng tăng trƣởng bình quân 8,9%/năm (chiếm 34,7% trong GRDP); nông  
nghiệp phát triển toàn diện (chiếm 9,6% trong GRDP). Hoạt động đối ngoại và kinh tế  
đối ngoại triển khai tích cực, hiệu quả; các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển. [15]  
1.2.2 Tình hình phát triển của các nghành kinh tế  
Thừa Thiên-Huế là một cực tăng trƣởng của vùng kinh tế trọng điểm miền trung.  
Nền kinh tế của tỉnh liên tục tăng trƣởng khá với tốc độ tăng trƣởng kinh tế bình quân  
hằng năm thời kỳ 2001 - 2008 đạt 11%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hƣớng dịch  
11  
     
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 75 trang yennguyen 21340 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đồ án Áp dụng chỉ số chất lượng nước để đánh giá biến động chất lượng nước sông Bồ, tỉnh Thừa Thiên Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdo_an_ap_dung_chi_so_chat_luong_nuoc_de_danh_gia_bien_dong_c.pdf