Đào tạo ngành tạo dáng công nghiệp với mô hình học tập tại xưởng

24  
Tạp chí Khoa học Viện Đại học Mở Hà Nội 57 (07/2019) 24-32  
ĐÀO TẠO NGÀNH TẠO DÁNG CÔNG NGHIỆP  
VỚI MÔ HÌNH HỌC TẬP TẠI XƯỞNG  
INDUSTRIAL DESIGN TRAINING  
WITH THE LEARNING MODEL IN THE FACTORY  
Trần Thanh Nam *1  
Ngày tòa soạn nhận được bài báo: 2/01/2019  
Ngày nhận kết quả phản biện đánh giá: 4/7/2019  
Ngày bài báo được duyệt đăng: 26/7/2019  
Tóm tắt: Trước sự phát triển của khoa học công nghệ, cũng như đòi hỏi về nguồn nhân lực  
của ngành Tạo dáng sản phẩm công nghiệp ngày càng cao. Đứng trước ngưỡng cửa của cuộc cách  
mạng 4.0, việc đào tạo ngành Tạo dáng sản phẩm công nghiệp bộc lộ nhiều bất cập và thiếu hiệu  
quả, dẫn đến sự kém hấp dẫn của ngành học, không đáp ứng được những đòi hỏi của sự phát triển  
kinh tế xã hội. Các cơ sở đạo tạo mỹ thuật ứng dụng phải tự điều chỉnh và làm mới mình, cập nhật  
và thiết kế lại chương trình đào tạo, cân đối hài hòa giữa lý thuyết và thực hành. Mô hình học tập  
tại xưởng đem lại những ích lợi thiết thực, giúp sinh viên hoàn thiện các kỹ năng sáng tạo trong  
điều kiện thực tế. Song song với việc trau dồi kiến thức, việc học tập đi đôi với thực hành dưới sự  
hướng dẫn của chuyên gia, các nhà chuyên môn giúp sinh viên tự tin và có đủ năng lực hoạt động  
nghề nghiệp sau khi ra trường.  
Từ khóa : Mỹ thuật ứng dụng, tạo dáng sản phẩm công nghiệp, chương trình đào tạo, học tập tại  
xưởng tạo dáng.  
Abstract: The development of science and technology and the increasing demand for human  
resources of Industrial Product Design, at the threshold of the 4.0 revolution, the training of  
Industrial Product Design reveals many shortcomings and inefficiencies, leading to the unattractive  
of the study, failing to meet the requirements of socio-economic development. Applied fine art  
training units must adjust and refresh themselves, update and redesign the training program to  
harmonize and balance the theory and practice. The learning model at the factory brings practical  
benefits to help students improve their creative skills in real contexts. In parallel with cultivating  
knowledge, the students' learning is practiced under the guidance of experts and teachers. Thanks to  
that, students are confident and capable of professional activities after graduation.  
Keywords: Applied fine arts, industrial product design, training programs, models, factory.  
1* Trường Đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
25  
trường hợp ngành Đồ họa ở trường Đại học  
Nghệ thuật Huế. Trên thế giới, ngành Thiết  
kế - Tạo dáng công nghiệp luôn nằm trong  
10 nghề mà giới trẻ lựa chọn. Rõ ràng là,  
mỹ thuật ứng dụng đang có sức hút rất lớn  
đối với người học trong sự chuyển biến  
nhanh chóng của nền kinh tế của đất nước.  
Hàng hóa được sản xuất nhiều hơn, người  
tiêu dùng cũng có những đòi hỏi khắt khe  
hơn với các sản phẩm công nghiệp. Tạo  
dáng sản phẩm công nghiệp là đòn bẩy  
quan trọng trong cuộc cạnh tranh giữa các  
nhà sản xuất khác nhau. Mẫu mã đa dạng,  
có sức cuốn hút về mặt thị giác, hấp dẫn  
người tiêu dùng là động lực thúc đẩy sản  
xuất hàng hóa. Do đó, nhu cầu về nguồn  
nhân lực tạo dáng sản phẩm công nghiệp  
càng bức thiết hơn bao giờ hết. Các Nhà  
thiết kế mẫu mã - những Nhà tạo dáng sản  
phẩm công nghiệp là những người thực  
hiện kế hoạch sáng tạo, tạo ra các đồ vật,  
không chỉ đáp ứng nhu cầu sử dụng, mà  
còn phải đem đến sự hấp dẫn bên ngoài.  
Họ là những chuyên gia quyết định hình  
dáng bên ngoài sản phẩm và các đặc tính  
của các mặt hàng khác nhau được sản xuất  
theo dây chuyền công nghiệp. Công việc  
của một nhà thiết kế công nghiệp là quy  
trình đưa ra những đặc điểm thẩm mỹ của  
sản phẩm. Bao gồm: 1- phác thảo ý tưởng,  
2 - làm mô hình, 3 - tạo mẫu sản phẩm và 4  
- sản xuất thử nghiệm. Khả năng biến hàng  
hoá thành sản phẩm mang nghệ thuật tính,  
đã trở thành bằng chứng cho sự phát triển  
kinh tế ở mỗi quốc gia. Nhưng, hiện nay đa  
số sinh viên ở các trường đào tạo Tạo dáng  
sản phẩm chỉ có thể làm tốt công đoạn 1 và  
2. Còn để tạo ra mẫu sản phẩm có thể  
thuyết phục nhà sản xuất, đang còn hạn  
chế.  
1. Đặt vấn đề  
Khoa học công nghệ phát triển  
không ngừng trên thế giới và có ảnh hưởng  
to lớn đến ngành Tạo dáng sản phẩm công  
nghiệp, nhất là trong giai đoạn khời đầu  
của cuộc cách mạng 4.0 tại VN. Do đó,  
việc nhận diện lại chương trình đào tạo và  
phương pháp giảng dạy của ngành nghệ  
thuật non trẻ này ở nước ta là vô cùng cần  
thiết. Cùng với thực tiễn phát triển kinh tế -  
xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện  
nay, trước thực trạng đào tạo mỹ thuật ứng  
dụng có nhiều bất cập tại các cơ sở đào tạo  
trong cả nước. Chúng ta mạnh dạn vạch ra  
những yếu kém, thiếu cập nhật trong  
chương trình đào tạo, cũng như những ngộ  
nhận về khối lượng tri thức cần trang bị  
cho sinh viên. Tình trạng nhiều sinh viên  
sau khi tốt nghiệp yếu về kỹ năng nghề  
nghiệp, thậm chí không thề hành nghề  
đang là vấn đề lớn đối với các doanh  
nghiệp. Nhu cầu về nguồn nhân lực trong  
lĩnh vực tạo dáng sản phẩm công nghiệp  
ngày càng lớn. Nhưng để đáp ứng được  
chuẩn đầu ra cho sinh viên, đang là thách  
thức lớn của gần 40 cơ sở đào tạo mỹ thuật  
ứng dụng trên toàn quốc. Những cuộc khảo  
sát về tỉ lệ sinh viên sau khi tốt nghiệp có  
việc làm chính là những con số biết nói, để  
các cơ sơ đào tạo đánh giá lại chương trình  
học và tự điều chỉnh lại mình. Trong cuộc  
cạnh tranh khốc liệt về tuyển sinh, nhiều  
cơ sở đào tạo đã làm công tác truyền thông  
thương hiệu một cách hiệu quả, song đó  
chỉ là biện pháp giải quyết tình thế. Vấn đề  
đặt ra là để phát triển bền vững, các cơ sở  
đào tạo phải quan tâm nâng cao chất lượng  
giảng viên, đổi mới chương trình đào tạo  
phù hợp với trào lưu chung của thế giới. Số  
lượng thí sinh đăng ký tuyển sinh vào các  
trường Mỹ thuật Tạo hình ngày càng giảm,  
thậm chí phải đóng cửa ngành học như  
Vấn đề đặt ra là các cơ sở đào tạo  
phải thay đổi cách dạy và cách học như thế  
26  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
nào để người học hội đủ những phẩm chất  
của nhà thiết kế trong điều kiện hiện nay  
của đấ nước. Đáp ứng được những yêu cầu  
của doanh nghiệp – những người sử dụng  
nguồn nhân lực.  
nhà tạo dáng biến phác thảo trên bản vẽ 2D  
thành sản phẩm cụ thể trong không gian  
3D. Muốn làm được điều này, ngay khi  
còn học tập trên nghế nhà trường, các nhà  
tạo dáng tương lai phải có nhiều thời gian  
thực hành, làm việc trong môi trường thực  
tế. Các chương trình đạo tạo phải xây dựng  
chuẩn đầu ra, trong đó kỹ năng thực hành  
là một trong những tiêu chí quan trọng.  
Nhưng trong thực tế, nhiều cơ sở đào tạo  
không đủ điều kiện mở các xưởng thực  
hành, thiếu trang thiết bị để thực tập.  
Chính vì vậy, việc liên kết với các xưởng  
thiết kế, tạo dáng, phân xưởng sản xuất  
nhằm mục đích đưa sinh viên đến thực  
hành, học tập với chuyên gia. Để đáp ứng  
yêu cầu sử dụng nhân lực, cũng như đáp  
ứng được nhu cầu xã hội phù hợp với thời  
đại là: có năng lực sáng tạo, tính chuyên  
nghiệp. Giáo dục đào tạo luôn gắn kết vối  
thực tiễn cuộc sống. Vấn đề đặt ra là: sinh  
viên ra trường phải sống bằng nghề nghiệp,  
chứ không phải là những người chỉ bán ý  
tưởng.  
Sự tiến bộ không ngừng của khoa  
học - công nghệ đã tác động đến ngành  
Tạo dáng sản phẩm công nghiệp. Đã xuất  
hiện những kỹ năng mới, khái niệm mới  
trong thiết kế. Do đó, đòi hỏi phải có sự  
cập nhật, bổ sung kiến thức trong chương  
trình đào tạo ở các trường có đào tạo mỹ  
thuật ứng dụng. Thậm chí xuất hiện những  
xu hướng tổng hợp trong thiết kế, tạo dáng  
công nghiệp. Vấn đề đặt ra là các nhà thiết  
kế/ tạo dáng tương lai phải có kiến thức đa  
dạng về các ngành nghệ thuật gần, kiến  
thức liên ngành, cũng như kỹ năng hành  
nghề mới đáp ứng được những yêu cầu đổi  
mới trong cuộc cách mạng công nghiệp lần  
thứ 4.  
Từ thực tiễn kinh nghiệm giảng dạy  
và làm nghề, người viết đề xuất một số ý  
kiến và giải pháp như sau:  
Được học tập và làm việc với các  
chuyên gia – những người giỏi chuyên  
môn, có kinh nghiệm hành nghề, sẽ mang  
lại lợi ích thiết thực cho việc đào tạo  
nghành nghề cho sinh viên. Quá trình làm  
việc với họ giúp cho người học tích lũy  
được nhiều kinh nghiệm của các thế hệ đi  
trước. Giúp sinh viên tiết kiệm được thời  
gian trải nghiệm nghề nghiệp. Được xem,  
học hỏi các thao tác của chuyên gia giúp  
họ hoàn thiện các kỹ năng nghề nghiệp  
nhanh hơn. Những năm 70 - 80 của thế kỷ  
XX, tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế,  
Ban Giám hiệu đã chủ động mời giảng dạy  
về nghề khảm sành sứ Nghệ nhân Trương  
Văn Lập (Cửu lập), nhờ vào tài năng của  
mình đã được vua Bảo Đại phong hàm  
“Cửu phẩm” vào năm 1936. Nghệ nhân  
2. Đào tạo theo mô hình xưởng  
2.1. Làm việc với chuyên gia  
Cần phải xác định rằng đào tạo  
ngành Tạo dáng sản phẩm công nghiệp là  
đạo tạo nguồn lực làm nghề thiết kế, có kỹ  
năng hành nghề được trang bị kiến thức ở  
bậc đại học. Đảm bảo các tiêu chí về: Kiến  
thức – Kỹ năng – Thái độ. Do đó, sinh viên  
sau khi tốt nghiệp phải có khả năng hành  
nghề, để thực hiện các công việc cụ thể của  
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Ý tưởng  
sáng tạo sẽ được chắp cánh nếu người thiết  
kế có kỹ năng biến chúng thành những sản  
phẩm, có khả năng đưa vào sản xuất công  
nghiệp, phục vụ nhu cầu thực tiễn của con  
người. Khả năng thực tế hóa các sản phẩm  
tạo dáng công nghiệp chỉ có ý nghĩa, nếu  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
27  
chạm khắc gỗ Phan Thế Huề, nghệ nhân  
cuối cùng của triều Nguyễn được mời làm  
2.2. Học tập tại xưởng  
Mô hình xưởng trong trường được  
giảng viên Bộ môn Điêu khắc. Tuy không  
biết chữ những phương pháp truyền miệng  
của các cụ vô cùng độc đáo, đã truyền  
ngọn lửa đam mê nghề nghiệp cho nhiều  
thế hệ sinh viên. Nhưng hơn tất cả là tình  
yêu, sự kế thừa tinh hoa mỹ thuật cổ truyền  
mà cụ truyền cho các thế hệ con cháu.  
các nước phương Tây áp dụng từ rất sớm,  
cũng như việc làm quen với môi trường lao  
động nghệ thuật, sản xuất sản phẩm công  
nghiệp. Học tập và làm việc tại xưởng đem  
lại những hiệu quả thiết thực, đó là khả  
năng làm việc tập thể. Ngoài học từ chuyên  
gia, họ còn học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau,  
hợp tác trong công việc trong các dự án  
lớn. Bởi lẽ, năng khiếu không phân đều  
cho tất cả mọi người. Mỗi một sinh viên có  
thế mạnh riêng của mình, họ sẽ chọn đúng  
sở trường chuyên môn của mình trong quá  
trình học tập. Đây là bài học vẫn còn  
nguyên giá trị đến ngày hôm nay, do đó  
việc mở những xưởng thiết kế, sản xuất  
trong các cơ sở đào tạo là vô cùng cần thiết  
để gắn kết học đi đôi với hành, cho sinh  
viên khi đang còn ngồi trên ghế nhà  
trường. Tránh những bỡ ngỡ, thiếu tự tin  
khi bắt đầu hành nghề tại các doanh  
nghiệp. Ngoài ra, làm việc trong môi  
trường thực tế, được thấy kết quả công  
việc của mình giúp cho họ nuôi dưỡng  
những cảm xúc thẩm mỹ, yêu nghề hơn.  
“Nghệ thuật phải là phương tiện chuyển tải  
những cảm xúc làm rung động lòng người.  
Cảm hứng sáng tạo chỉ có thể có trong quá  
trình lao động. Nếu như Nhà thiết kế thiếu  
sự rung cảm của tâm hồn Việt Nam, thì sản  
phẩm không thể mang tính dân tộc” (1).  
Điều này lý giải một phần tại sao có những  
sản phẩm tạo dáng không phù hợp với tâm  
lý thụ cảm nghệ thuật của người Việt, thiếu  
cái “hồn” của sản phẩm và trở nên xa lạ  
với đại đa số quần chúng nhân dân.  
Ở nước Nga, các giảng viên giảng  
dạy tại các trường Mỹ thuật Tạo hình, Mỹ  
thuật Công nghiệp đều là các nhà chuyên  
môn có uy tín, được nhà nước hay các  
Viện Hàn lâm mời giảng dạy sau khi đã đạt  
những thành tựu trong nghề nghiệp. Trong  
các trường Mỹ thuật như Học viện Hàn  
lâm Mỹ thuật quốc gia Surikov, Học viện  
Hàn lâm Mỹ thuật Công nghiệp quốc gia  
Stroganov, đều có các xưởng thực hành  
như: xưởng đá, gỗ, thủy tinh, gốm…, điều  
hành các xưởng này không phải các giáo  
sư mà là các bậc thầy vễ kỹ thuật vật liệu  
chuyên ngành. Trong lần tham quan, trao  
đổi kinh nghiệm với trường Mỹ thuật  
Lasalle (Singapore), người viết được  
chứng kiến các chuyên gia nước ngoài  
tham gia giảng dạy tại xưởng của trường.  
Họ là những nhà thiết kế - tạo dáng có uy  
tín, tên tuổi trên thế giới, được nhà trường  
mời thỉnh giảng. Điều này không những  
nâng cao vị thế, uy tín của trường, mà còn  
giúp sinh viên mở rộng kiến thức và tầm  
nhìn ra khỏi phạm vi một quốc gia.  
H.1 Xưởng tạo dáng, Trường Nghệ thuật,  
Tạo dáng và Truyền thông, Đại học  
Nanyang Singapore. Nguồn: Tác giả.  
28  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
móc, thiết bị mới bởi sự cạnh tranh khốc  
liệt của thị trường. Việc liên kết đào tạo  
với các doanh nghiệp sản xuất là vô cùng  
quan trọng, giúp cho nhà trường lấp đầy  
khoảng trống khi chưa có điều kiện đầu tư  
máy móc hiện đại. Các sản phẩm mỹ thuật  
công nghiệp đều gắn liền với nền công  
nghiệp, không ai phủ nhận vai trò của máy  
móc. Tạo dáng công nghiệp là một ngành  
H.2. Xưởng thực hành chất liệu, Khoa Mỹ  
thuật, trường Gangneung Wonji, thành  
phố Gangwon – do, Hàn Quốc. Nguồn:  
Tác giả.  
của nghệ thuật tạo hình, công việc thiết kế  
sản phẩm công nghiệp vẫn là hoạt động  
nghệ thuật. Máy móc chỉ là công cụ hỗ trợ,  
chúng không thể thay thế con người trong  
sáng tạo nghệ thuật. Nhưng, để nâng cao  
chất lượng sản xuất hàng hóa, các doanh  
nghiệp sản xuất phải cập nhật công nghệ  
mới, do đó việc liên kết với đào tạo giúp  
sinh viên được hưởng lợi từ những đầu tư  
trang bị của doanh nghiệp. Sinh viên được  
tiếp cận với trang thiết bị hiện đại, giúp  
cho sinh viên có những nhận thức mới  
trong tư duy sáng tạo. Tạo dáng công  
nghiệp là hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực  
sản xuất công nghiệp và thương mại. Do  
đó, trong chương trình dạy và học phải gắn  
kết đào tạo với cơ sở sản xuất sản phẩm  
mỹ thuật công nghiệp. Việc thiết kế các bài  
học phải gắn liền với nhu cầu thực tiễn, có  
thể đưa vào sản xuất công nghiệp. Tránh  
những trường hợp bài học xa rời thực tế  
đất nước như tạo dáng xe ô tô, máy bay...  
trong khi những nền công nghiệp này của  
chúng ta còn non trẻ, chủ yếu là lắp ráp và  
chuyển giao công nghệ với nước ngoài.  
Nhà trường cần liên kiết với các doanh  
nghiệp, xí nghiệp, xưởng sản xuất..., để  
đưa sinh viên tham quan học tập, cũng như  
thiết kế chương trình đào tạo gắn với thực  
tế. Sinh viên sẽ được học tập trong môi  
trường chuyên nghiệp, rèn luyện tác phong  
công nghiệp. Nhà thiết kế - Nhà tạo dáng  
tương lai, trong suốt quá trình học tập, phải  
Lý thuyết phải gắn liền với thực  
hành, trong quá trình tiếp thu lý thuyết tại  
xưởng, sinh viên có điều kiện để thấy  
người thầy thị phạm, thao tác trên máy  
móc, thiết bị. Đây là những bài học từ thực  
tế sinh động, giúp cho người học dễ nắm  
bắt kiến thức hơn là những bài giảng lý  
thuyết khô khan trên các giảng đường. Dạy  
và học hiện nay mang tính truyền bá kiến  
thức đại trà, do đó mô hình học tại xưởng  
hướng đến đào tạo từng con người về kỹ  
năng hành nghề. Trong quá trình học tại  
xưởng, các kỹ năng của sinh viên sẽ được  
bộc lộ và được tôi luyện. Được chứng kiến  
cách làm việc của các chuyên gia giúp cho  
sinh viên có những hứng thú trong công  
việc. Bởi lẽ, một hành vi sáng tạo nhiều  
khi gây nên niềm cảm hứng cho một hành  
vi sáng tạo khác.  
3. Lợi ích từ việc liên kết với các  
doanh nghiệp trong đào tạo  
Có nhiều cơ sở đào tạo cũng xây  
dựng các xưởng thiết kế để phục vụ công  
tác giảng dạy, song với máy móc thiết bị  
còn lạc hậu, thiếu thực tế dẫn đến việc thực  
hành chỉ mang tính hình thức và còn nặng  
về lý thuyết suông. Các doanh nghiệp, nhà  
máy, phân xưởng sản xuất sản phẩm công  
nghiệp luôn luôn phải đầu tư trang bị máy  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
29  
luôn giữ mối quan hệ mật thiết với các kỹ  
thuật viên và các chuyên gia liên quan.  
Mối quan hệ này nhằm mục đích đáp ứng  
nhu cầu thực tế của người tiêu dùng, cũng  
như tăng hiệu quả của quá trình sản xuất.  
Nhằm thỏa mãn hài hòa giữa tính công  
năng và tính thẩm mỹ. Mỹ thuật và khoa  
học công nghệ luôn luôn đồng hành trong  
các hoạt động sáng tạo sản phẩm mỹ thuật  
ứng dụng. Đây là điều tất yếu khi đào tạo  
ngành Tạo dáng công nghiệp.  
thành thạo, nếu không đầu tư nhiều thời  
gian thực hành, bởi lao động nghệ thuật  
luôn là một quá trình mài dũa và khổ  
luyện. Sản phẩm mỹ thuật ứng dụng của  
người Việt phải phù hợp với nhân trắc  
học cũng như tâm lý, tình cảm của cộng  
đồng dân cư. Nếu không, các sản phẩm  
đó sẽ không đáp ứng nhu cầu sử dụng của  
người tiêu dùng.  
Học tập trong các môi trường  
sản xuất của các doanh nghiệp mang lại  
lợi ích thiết thực. Những kiến thức mà  
sinh viên thu được xuất phát từ thực tế  
cuộc sống. Đó là những bài học sống  
động, bổ ích mà họ mang theo trong hành  
trang của mình sau khi tốt nghiệp.  
4. Vai trò của giảng viên và sinh  
viên trong đào tạo theo mô hình xưởng.  
4.1. Đối với người dạy  
H.3. Xưởng Thiết kế - tạo dáng phương  
tiện giao thông, Học viện Hàn lâm Mỹ  
thuật công nghiệp quốc gia Mátxcơva,  
mang tên Stroganov, LB Nga. Nguồn:  
Một trong những yếu tố quan trọng  
trong việc nâng cao chất lượng đào tạo ở  
các trường Mỹ thuật Ứng dụng, đó là chất  
lượng đội ngũ giảng viên. Việc dạy nghề  
luôn luôn gắn liền kinh nghiệm hành nghề,  
cũng như uy tín về chuyên môn của người  
thầy. Họ sẽ là những người đồng hành  
cùng sinh viên trong các hoạt động sáng  
tạo, chia sẻ kinh nghiệm, kỹ năng cũng  
như truyền cảm hứng trong lao động nghệ  
thuật. Điều hành công việc ở các xưởng tạo  
dáng, ngoài các thầy/cô có thâm niên hoạt  
động nghề nghiệp thì cần phải có sự tham  
gia của các chuyên gia, kỹ thuật viên lành  
nghề trong nhiều lĩnh vực khác nhau như:  
tạo khuôn mẫu, vận hành máy in, máy cắt  
lớp 3D..., hay các máy công cụ cầm tay.  
Tất nhiên không phải người thầy nào cũng  
có thể nắm vững tất cả các kỹ năng sử  
dụng máy móc, công nghệ. Do đó, việc cập  
nhật các kỹ năng cho giảng viên cũng góp  
phần trau dồi chuyên môn, nghề nghiệp là  
cần thiết.  
Trong chương trình học, cần đưa ra  
những bài tập cụ thể theo đặt hàng của  
doanh nghiệp. Điều này vừa mang giá trị  
thực tiễn, vừa làm quen với cách tự tiếp thị  
và tiêu thụ sản phẩm. Từ đó, các doanh  
nghiệp nhận ra những lợi ích mà thiết kế  
sản phẩm có thể mang lại cho doanh  
nghiệp của mình, xây dựng mối quan hệ  
bền vững hai bên cùng có lợi. Ngoài ra,  
các sản phẩm được doanh nghiệp đưa vào  
sản xuất cũng tạo nguồn thu nhập cho sinh  
viên khi đang còn học tập tại trường. Đây  
là cách làm mà khoa Mỹ thuật của trường  
Gangneung Wonji, thành phố Gangwon –  
do, Hàn Quốc áp dụng.  
Do thời gian học tập tại trường là  
quá ít cho một chương trình đào tạo 4 – 5  
năm. Sinh viên không thể có tay nghề  
30  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
Trước đây để xây dựng đội ngũ  
phần làm cho những bài giảng trở sinh  
động, tạo nguồn cảm hứng cho người học.  
Yếu tố nguồn nhân lực mang tính nòng cốt  
trong chiến lược phát triển giáo dục.  
giảng viên kế cận, các cơ sở đào tạo  
thường chọn những sinh viên tốt nghiệp  
xuất sắc, bồi dưỡng để trở thành những  
người thầy. Sẽ không có gì sai khi họ tiếp  
tục nâng cao trình độ, trau dồi nghề  
nghiệp, tham gia các hoạt động sáng tạo  
theo ngành nghề được đào tạo. Song, một  
bộ phận không nhỏ các giảng viên trẻ thủ  
phận, hài lòng với những gì mình đã có,  
không hoạt động nghề nghiệp. Do đó, các  
bài giảng trở nên khô khan vì thiếu kiến  
thức thực tế. Khoa học công nghệ luôn  
luôn biến đổi, nếu giảng viên không tham  
gia hoạt động sáng tạo, không tự làm mới  
mình, họ sẽ bị lạc hậu kém sức hấp dẫn đối  
với sinh viên.  
4.2. Đối với người học  
Qúa trình học tập tại xưởng, sinh  
viên được nghiên cứu, thực hành trong  
môi trường thực tế. Họ phải tích cực chủ  
động trong học tập, chứ không thụ động  
tiếp nhận kiến thức từ người dạy. Phải biết  
điểm yếu của mình để tự bổ sung kiến  
thức, cũng như kỹ năng thực hành. Trong  
các cuộc thi hay giao lưu với sinh viên  
quốc tế, sinh viên Việt Nam thường rất  
giỏi về lý thuyết, nhưng rất yếu về thực  
hành. Đều này cũng dễ hiểu vì sinh viên ở  
các nước tiên tiến được tiếp xúc với khoa  
học công nghệ trước khi bước vào đại học.  
Đất nước ta trên đà phát triển, khoảng cách  
nhiều ngành công nghiệp còn xa đối với  
thế giới. Do đó, chỉ có cách chủ động học  
và tự học mới hy vọng bù đắp những  
nhược điểm đó trong cuộc cách mạng công  
nghiệp lần thứ 4.  
Hiện nay tại trường Đại học Kiến  
trúc Tp. Hồ Chí Minh, nơi đào tạo ngành  
Kiến trúc, Mỹ thuật Công nghiệp, Kiến  
trúc Nội thất đòi hỏi giảng viên phải đáp  
ứng được các tiêu chí: là Nhà sư phạm,  
Nhà khoa học và Nhà hoạt động chuyên  
môn. Không phải tất cả những người giỏi  
về chuyên môn đều có khả năng sư phạm,  
nhưng khả năng truyền đạt kiến thức cho  
người học là những yếu tố mang tính quyết  
định trong đào tạo. Cùng với công tác  
nghiên cứu khoa học để cập nhật thông tin,  
khoa học công nghệ và thiết kế giáo trình,  
giáo án phù hợp với những đòi hỏi về  
nguồn nhân lực mỹ thuật ứng dụng trong  
giai đoạn hiện nay. Ngoài ra, việc sử dụng  
thông thạo ngoại ngữ trong giao tiếp,  
nghiên cứ tư liệu nước ngoài cũng là một  
lợi thế của giảng viên. Khi có các hoạt  
động giao lưu quốc tế, hay mời chuyên gia  
nước ngoài đến làm việc tại các xưởng.  
Hoạt động nghề nghiệp của giảng viên  
không chỉ thỏa mãn niềm đam mê sáng tạo,  
tăng thu nhập, mà còn là hoạt động tích lũy  
kinh nghiệm, trau dồi nghề nghiệp. Góp  
Sinh viên phải ý thức được rằng  
học tại xưởng là học tập và làm việc trong  
môi trường sản xuất. Do đó, rèn luyện kỹ  
năng làm việc trong môi trường công  
nghiệp là hết sức cần thiết. Kỷ luật lao  
động luôn luôn phải được tuân thủ nghiêm  
nghặt trong môi trường sản xuất có nhiều  
máy móc, thiết bị, có nhiều rủi ro về tai  
nạn lao động. Xây dựng tác phong công  
nghiệp, rèn luyện kỹ năng làm việc tập thể  
là những điều bắt buộc đối với sinh viên  
học theo mô hình xưởng.  
Rèn luyện kỹ năng làm việc với  
chuyên gia, kỹ thuật viên cũng vô cùng cần  
thiết. Sinh viên phải biết tận dụng cơ hội  
khi có điều kiện làm việc với họ. Hơn ai  
hết, các chuyên gia là những người có kinh  
nghiệm và kỹ năng thao tác trên các máy  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
31  
công cụ. Đặt câu hỏi hay đề nghị thị phạm  
mang đến những kiến thức hữu ích từ kinh  
nghiệm thực tế, đó là cách học chủ động,  
tiếp thu những kiến thức ngoài sách, vở.  
Với sự phát triển của công nghệ  
của nó đem lại cho những hoạt động sáng  
tạo của nhà thiết kế. Song cũng cần phải  
tỉnh táo khi xây dựng chương trình đào tạo,  
để cân đối giữa các môn học lý thuyết và  
thực hành một cách hợp lý. Việc họp tập  
tại xưởng rèn luyện cho sinh viên biết vận  
dụng tri thức kết hợp với kỹ năng. Mỹ  
thuật ứng dụng vẫn là ngành sáng tạo nghệ  
thuật. Máy móc, thiết bị chỉ là những công  
cụ hỗ trợ cho hoạt động sáng tạo nghệ  
thuật. Song, không rèn luyện kỹ năng làm  
việc trong môi trường sản xuất, thì nhà tạo  
dáng tương lai khó đáp ứng được yêu cầu  
của nhà tuyển dụng. Không sử dụng thuần  
thục công cụ sản xuất thì những ý tưởng  
sáng tạo chỉ nằm trên trang giấy trắng. Tạo  
dáng công nghiệp là hoạt động sáng tạo  
trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và  
thương mại. Do đó, trong chương trình dạy  
và học phải gắn kết đào tạo với cơ sở sản  
xuất sản phẩm mỹ thuật công nghiệp. Nhà  
trường cần liên kiết với các doanh nghiệp,  
công ty, xưởng sản xuất..., để đưa sinh viên  
tham quan học tập, cũng như thiết kế  
chương trình đào tạo gắn với thực tế. Xây  
dựng và tái đào tạo đội ngũ giảng viên để  
đáp ứng được những đòi hỏi, thách thức và  
đổi mới trong giáo dục đào tạo.  
thông tin hiện nay, đã mang lại lớn ích to  
lớn trong việc cập nhật, tiếp cận với các  
sản phẩm mỹ thuật công nghiệp trong nước  
và thế giới một cách dễ ràng. Đây là điều  
kiện thuận lợi của cuộc cách mạng 4.0  
mang lại. Do đó, việc thường xuyên cập  
nhật các phần mềm thiết kế mới, hay nắm  
vững kỹ năng sử dụng máy móc, thiết bị  
mới là điều kiện tiên quyết cho sinh viên  
hội nhập nhanh với công việc tại các doanh  
nghiệp sau khi ra trường. Do đó, kỹ năng  
tiếp thu công nghệ mới là điều kiện cần đối  
với sinh viên khi còn học tập tại xưởng.  
5. Kết luận:  
Xuất phát từ vai trò của ngành Tạo  
dáng sản phẩm công nghiệp trong bối cảnh  
hiện nay. Cùng với những thách thức của  
cuộc cách mạng 4.0, các cơ sở đào tạo Mỹ  
thuật ứng dụng cần xem xét, điều chỉnh,  
thiết lại chương trình đạo tạo, nhằm thỏa  
mãn những đòi hỏi bức thiết trong tình  
hình mới. Việc đưa mô hình học tập tại  
xưởng là cần thiết, nhưng phải bám sát tình  
hình thực tế đặc thù của tường địa phương.  
Xây dựng chuẩn chuẩn đầu vào cũng như  
chuẩn đầu ra phải đáp ứng hài hòa giữa lý  
thuyết và thực hành; giữa tri thức và kỹ  
năng. Dựa trên những dữ liệu cụ thể, được  
thống kê từ thực tế của nền công nghiệp  
hàng hóa, kinh tế, thương mại của đất  
nước. Có như vậy, tính chất ứng dụng mới  
đi vào thực tế sản xuất và đời sống một  
cách hiệu quả, thiết thực. Sự bùng nổ của  
khoa học công nghệ, có tác động mạnh đến  
đến đào tạo tạo dáng sản phẩm công  
nghiệp. Không ai có thể phủ nhận hiệu quả  
Đào tạo ngành tạo dáng cần phải có  
những chuyển biến cơ bản để đáp ứng  
được những yêu cầu mang tính thời đại,  
phù hợp với quy luật phát triển. Có như thế  
mới thỏa mãn được nhu cầu sử dụng lao  
động trong ngành công nghiệp sản xuất  
hàng hóa, góp phần phát triển, xây dựng  
thương hiệu cho ngành tạo dáng sản phẩm  
mang nhãn hiệu Việt Nam./.  
Tài liệu tham khảo:  
1.Trần Thanh Nam, Đào tạo ngành Tạo dáng  
công nghiệp với những thách thức của bối  
cảnh kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay, Tạp chí  
32  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
Khoa học & Đào tạo, Trường Đại học Công  
nghệ Sài gòn, số 1/2018, tr. 41 -48.  
2.M. Cagan (2004), Hình thái học của nghệ  
thuật, Phan Ngọc dịch, Nxb Hội Nhà văn,  
Hà Nội.  
4. Ocvirk, Stinson, Wingg, Bone, Cayton  
(2006), Những nền tảng của mỹ thuật, lý  
thuyết và thực hành, Lê Thành dịch, Nxb  
Mỹ thuật, Hà Nội.  
3. Cynthia Freeland, Một đề dẫn về lý thuyết  
nghệ thuật, Nguyễn Như Huy dịch, Nxb Tri  
thức, Hà Nội, 2010.  
Địa chỉ tác giả: Trường Đại học Kiến trúc  
TP. Hồ Chí Minh  
pdf 9 trang yennguyen 10460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đào tạo ngành tạo dáng công nghiệp với mô hình học tập tại xưởng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdao_tao_nganh_tao_dang_cong_nghiep_voi_mo_hinh_hoc_tap_tai_x.pdf