Hiệu quả mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các trường đào tạo mỹ thuật ứng dụng ở nước ta hiện nay

Tạp chí Khoa học Viện Đại học Mở Hà Nội 54 (04/2019) 75-84  
75  
HIỆU QUẢ MỐI QUAN HỆ  
GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ CÁC TRƯỜNG ĐÀO TẠO  
MỸ THUẬT ỨNG DỤNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY  
EFFICIENCY OF RELATIONSHIP BETWEEN BUSINESS AND SCHOOLS OF  
APPLIED ART IN VIETNAM  
Vương Quốc Chính*‡‡‡‡‡‡‡‡  
Ngày tòa soạn nhận được bài báo: 3/10/2018  
Ngày nhận kết quả phản biện đánh giá: 4/4/2019  
Ngày bài báo được duyệt đăng: 29/4/2019  
Tóm tắt: Đào tạo nguồn nhân lực Mỹ thuật ứng dụng đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp,  
người sử dụng lao động luôn là mối quan tâm sâu sắc của các cấp ban ngành và Bộ chủ quản.  
Đào tạo MTUD là lĩnh vực đào tạo khá chuyên biệt, hệ thống khoa học của nó cần tư duy khác  
biệt, việc đánh giá kết quả cũng cần có sự khác biệt, lực lượng chuyên sâu giảng dạy cũng cần có  
cách đòi hỏi riêng. Đối với các doanh nghiệp cần phải chủ động hơn nữa trong việc tăng cường  
và nâng cao hiệu quả hợp tác trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Mối quan hệ này cần phải  
được xây dựng dựa trên lợi ích thiết thực từ các bên. Trên cơ sở đó mới nâng cao được chất lượng  
giáo dục nghề nghiệp. Qua bài viết này, tác giả đồng thời cũng đưa ra một số kiến nghị và giải  
pháp nhằm nâng cao mối liên kết giữa doanh nghiệp, người sử dụng lao động với các cơ sở đào  
tạo mỹ thuật ứng dụng - một ngành học hướng đến tính ứng dụng, đến sự gắn kết giữa nhà trường  
và doanh nghiệp.  
Từ khoá: Mỹ thuật ứng dụng, doanh nghiệp, đào tạo, chính sách, thực trạng, giải pháp.  
Abstract: Training human resources of applied fine arts meeting the needs of businesses  
and employers is always a deep concern of all levels of departments and line ministries. Applied  
arts training is quite specialized training field. Its scientific system needs different thinking, the  
evaluation of results also needs to be different, the intensive teaching force also needs to have its  
own requirements. For businesses, it is necessary to be more proactive in enhancing and  
enhancing the effectiveness of cooperation in vocational education activities. This relationship  
needs to be built on the practical benefits from the parties. On that basis, the quality of vocational  
education is improved. Through this article, the author offers a number of recommendations and  
solutions to improve the linkage between businesses and employers with applied art training  
institutions - a study aimed at applicability. , to the cohesion between schools and businesses.  
Keywords: Applied arts, business, training, policies, reality, solutions.  
*
‡‡‡‡‡‡‡‡Trường Đại học Mở Hà Nội  
76  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
Bản chất của MTUD là tạo ra các sản  
phẩm mang tính ứng dụng cao, tuy nhiên có  
một thực tế trái ngược đang diễn ra đó là sinh  
viên ngành MTUD đang bị bó hẹp trong  
khuôn khổ lý thuyết mà ít được tiếp cận với  
thực tế. Chính việc học “chay”, “nhồi nhét”  
lý thuyết khiến khả năng sáng tạo và tính thực  
tế của sinh viên bị hạn chế không ít.  
1. Đặt vấn đề  
Chủ trương liên kết giữa các trường  
đào tạo nghề, đại học với các doanh nghiệp  
(DN), cơ sở sản xuất để tạo việc làm cho sinh  
viên sau khi tốt nghiệp ra trường và đẩy mạnh  
xuất khẩu lao động đã được Chính phủ chỉ  
đạo tại nhiều văn bản như Nghị quyết số  
100/NQ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ  
ban hành Chương trình hành động của Chính  
phủ nhiệm kỳ 2016-2021, Nghị quyết của  
Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ  
yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch  
phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân  
sách nhà nước hàng năm; Thông tư số  
29/2017/TT-BLĐTBXH, ngày 15/12/2017  
của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quy  
định về liên kết tổ chức thực hiện chương  
trình đào tạo. Theo đó, nhà trường và Doanh  
nghiệp(DN) có thể liên kết tổ chức đào tạo,  
trong đó DN có thể đảm nhận đến 40%  
chương trình đào tạo.  
Nhờ những chủ trương trên, nhiều mô hình  
liên kết với DN của các trường đại học đã  
được triển khai hiệu quả trong thời gian qua,  
tuy nhiên bên cạnh đó còn tồn tại khá nhiều  
bất cập như mối quan hệ giữa nhà trường,  
doanh nghiệp, người lao động, người sử dụng  
lao động còn nhiều khoảng trống và lỏng lẻo.  
Theo khảo sát, ở Việt Nam trung bình mỗi  
năm có khoảng 10.000 chỉ tiêu đào tạo các  
ngành liên quan đến mỹ thuật: hội họa, mỹ  
thuật ứng dụng, sư phạm mỹ thuật… được Bộ  
Giáo dục và Đào tạo cho phép các cơ sở đào  
tạo tuyển sinh trong cả nước. Đây là con số  
không hề nhỏ, Qua đó chúng cho thấy một  
thực tế xã nhu cầu tuyển dụng lao động trong  
lĩnh vực Mỹ thuật ứng dụng(MTUD) không  
hề nhỏ. Tuy nhiên số cử nhân ngành MTUD  
sau khi ra trường đáp ứng được yêu cầu của  
doanh nghiệp đang yếu và thiếu.  
Đào tạo đã thực gắn với doanh  
nghiệp?  
Tại hội thảo hợp tác Việt Nam - Anh Quốc  
trong giáo dục và đào tạo kỹ năng nghề  
nghiệp diễn ra tại Hà Nội ngày 17/1,  
NGƯT.TS Vũ Xuân Hùng, Viện trưởng Viện  
Khoa học Giáo dục Nghề nghiệp, nêu rõ thực  
trạng đào tạo gắn với doanh nghiệp ở nước ta.  
Theo đó, trong tổng 1.979 cơ sở giáo dục  
nghề nghiệp, chỉ 483 cơ sở thuộc doanh  
nghiệp. Những cơ sở này chủ yếu đào tạo  
nhân lực cho chính doanh nghiệp đó. Khảo  
sát phía doanh nghiệp và nhà trường cho thấy  
mức độ hợp tác giữa hai bên còn thấp. Phía  
doanh nghiệp, việc hợp tác thường xuyên chỉ  
ở mức 12,3%, còn lại là không hoặc thỉnh  
thoảng hợp tác. Trong khi đó, từ phía trường,  
tỷ lệ hợp tác từ thường xuyên, thỉnh thoảng  
đến không lần lượt chiếm 32,8%, 60,3% và  
6,9%. Hình thức hợp tác chủ yếu là doanh  
nghiệp tiếp nhận và hướng dẫn học viên trong  
quá trình thực tập. Lý giải mối quan hệ lỏng  
lẻo giữa doanh nghiệp và cơ sở giáo dục nghề  
nghiệp, NGƯT.TS Vũ Xuân Hùng cho rằng  
doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm với công  
tác đào tạo. Tình trạng học viên học nghề ra  
trường thất nghiệp không hoàn toàn vì kém  
chất lượng. Trên thực tế, hai bên đang lệch  
nhau trong công tác đào tạo, trường dạy cái  
này nhưng doanh nghiệp lại cần cái khác.  
“Trường dạy A, doanh nghiệp lại cần B  
Trường không biết doanh nghiệp cần gì vì  
không tiếp cận được chủ lao động, phần lớn  
doanh nghiệp tiếp xúc trường để tuyển sinh  
viên về làm việc chứ không tham gia từ đầu,  
2. Thực tế mối quan hệ giữa các cơ  
sở hoạt động tư vấn thiết kế và cơ sở đào  
tạo ngành MTUD  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
77  
tức từ khâu lên chương trình đào tạo. Vì thế,  
phía nhà tuyển dụng chấp nhận tuyển về rồi  
đào tạo thêm. Nhiều doanh nghiệp tuyển  
thẳng lao động phổ thông để tự đào tạo. Họ  
chọn phương án này vì nhiều lý do, bao gồm  
việc chỉ phải trả lương thấp. Một số doanh  
nghiệp khác sa thải người lao động sau 3-5  
năm làm việc với lý do không thích ứng được  
sự thay đổi nhanh chóng trong ngành sản  
xuất.  
Để gắn kết trường và doanh nghiệp, nâng cao  
chất lượng giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao  
động - Thương binh và Xã hội đã triển khai  
một số biện pháp nhưđặt ra yêu cầu hàng  
năm, các doanh nghiệp phải cung cấp thông  
tin về nhu cầu lao động để bộ phối hợp các  
trường đào tạo sát nhu cầu. Việc này được  
giao đến từng địa phương. Tuy nhiên vấn đề  
này gặp không ít khó khăn, nhiều doanh  
nghiệp từ chối phản hồi vì nước ta không có  
chế tài nào buộc họ phải tuân thủ. Với vấn đề  
nêu trên: quan điểm của bà Trần Thị Lan  
Anh - Phó Tổng Thư ký Phòng Thương mại  
và Công nghiệp Việt Nam, Giám đốc Văn  
Phòng giới sử dụng lao động cho rằng: “Cần  
xây dựng một cơ chế chặt chẽ cho sự hợp tác  
giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh  
nghiệp”.Theo đó, các cơ sở giáo dục nghề  
nghiệp và doanh nghiệp cần phải chủ động  
hơn nữa trong việc tăng cường và nâng cao  
hệ hợp tác chưa chặt chẽ này. Trong đó,  
nguyên nhân lớn nhất là do doanh nghiệp thụ  
động trong việc tham gia vào sự hợp tác với  
cơ sở, nhà trường, trung tâm đào tạo nghề  
Chia sẻ rõ hơn về điều này, Ông  
Nguyễn Trung Thành - Giám đốc Công ty cổ  
phần thiết kế và in ấn bao bì Thăng Long cho  
biết: “Việc công ty chưa chủ động trong việc  
hợp tác với nhà trường, có thể là do quy mô  
của doanh nghiệp chưa có yêu cầu cao về việc  
đào tạo. Hay cũng có thể cũng chưa nắm bắt  
được thông tin về các chính sách, quy định  
pháp luật, hoặc chưa nhận thức được lợi ích  
của việc tham gia liên kết đào tạo với các cơ  
sở, trường, trung tâm đào tạo nghề”.  
Trên quan điểm này, ông Vũ Xuân  
Hùng - Vụ trưởng Vụ Đào tạo Chính quy -  
Tổng Cục Giáo dục nghề nghiệp - Bộ Lao  
động Thương binh và Xã hội cho rằng: “Bài  
toán về chất lượng nguồn lao động sẽ không  
giải quyết được nếu như không gắn với doanh  
nghiệp. Bởi hơn ai hết chính doanh nghiệp  
mới là người sử dụng lao động” họ biết nhu  
cầu thị trường cần gì. Vì vậy, khi có sự tham  
gia của doanh nghiệp, nhà trường sẽ có điều  
kiện tiếp cận sâu sắc hơn nữa với nhu cầu của  
xã hội chưa kể là sinh viên được tiếp cận các  
trang thiết bị, cơ sở vật chất hiện đại, từ đó  
chất lượng nguồn lao động cũng sẽ thay đổi.  
Thực tế đào tạo trong các trường  
hiệu quả hợp tác trong hoạt động giáo dục  
nghề nghiệp. Mối quan hệ này cần phải được  
xây dựng dựa trên lợi ích thiết thực từ các  
bên. Trên cơ sở đó mới nâng cao được chất  
lượng giáo dục nghề nghiệp.  
Mỹ thuật ứng dụng  
Là người tâm huyết đi tiên phong mở  
đường, xây dựng và phát triển khoa Tạo dáng  
Công nghiệp cố PGS.TS Nguyễn Ngọc  
Dũng, đã có rất nhiều phân tích tình hình các  
trường đào tạo MTUD, trong bài viết “ Bàn  
về Design” PGS.TS đã viết: “Thiết kế Design  
không phải là thiết kế kỹ thuật đơn thuần,  
nhằm mục đích hoàn thiện hoặc vận hành  
thuần túy hệ thống kỹ thuật và cũng không  
phải là công tác thiết kế mỹ thuật biểu thị  
niềm hưng phấn của họa sĩ, nó là việc làm mà  
thông qua đó sản xuất được nối liền với thị  
Câu chuyện gắn kết giữa các cơ sở  
đào tạo, nhà trường, trung tâm với doanh  
nghiệp đã có từ rất lâu, tuy nhiên mối quan hệ  
này vẫn còn “lỏng lẻo”, hình thức. Điều này  
được thể hiện ở chất lượng nguồn lao động  
được đào tạo ra chưa đáp ứng được nhu cầu  
của doanh nghiệp. Theo các chuyên gia, có  
nhiều nguyên nhân để lý giải cho mối quan  
78  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
trường. Thường người thiết kế sản phẩm phải  
có giác quan thứ sáu về người mua hàng đại  
chúng, không thiết kế sản phẩm từ yêu cầu  
biểu thị cá nhân mình. Chính nhu cầu sáng tác  
chân thực Design. Tuy nhiên, việc tạo hình  
dáng sản phẩm vẫn phải theo quy luật phát  
triển thẩm mỹ. Đó là mục đích, xét về thực tế  
thì thẩm mỹ có cả trong hành động mua bán.  
Mua bán giờ đây không chỉ là hành động kinh  
tế đơn thuần mà có cả hành động thẩm mỹ.”.  
Cũng ở lĩnh vực này, trong một phát biểu ,  
họa sĩ Vũ Hiền phân tích về chuyên môn hiện  
tại cũng lâm vào tình trạng thiếu giáo trình  
mới. Việc gắn bó với thực tiễn xã hội còn  
nhiều bất cập. Một số nơi chưa là cầu nối cho  
sinh viên đến được các cơ sở sản xuất để tham  
quan, thực tập, thực hành. Điều này khiến khi  
ra trường, sinh viên thiếu thực tế, ngơ ngác  
trước các phương tiện kỹ thuật có liên quan  
tới ngành nghề. Có khi, họ phải mất 1 - 2 năm  
để tiếp cận sản xuất… bên cạnh đó cũng có  
những bất cập khác là bắt đầu hình thành yếu  
tố bảo thủ, suy diễn kinh nghiệm, sinh viên  
được học kinh nghiệm thực tiễn thông qua  
các giảng viên, các bài tập đều xoay quanh  
trục kiến thức có tính cơ bản hàn lâm của nhà  
trường kể cả những kiến thức đã có hàng trăm  
năm… Vì thế khi hội nhập gặp không ít khó  
khăn, sinh viên ra trường thể hiện khá tốt  
song nó lại không phải mang màu sắc của một  
nhà thiết kế mà mang màu sắc “thợ vẽ” nhiều  
hơn. Trong thời gian gần đây cũng đã có  
nhiều trường thiết kế bài tập và xây dựng  
khung chương trình cho học viên tập trung  
vào việc thị trường cần thì ta đáp ứng, nhưng  
khi thị trường thay đổi, những thị trường cao  
cấp mang yếu tố quốc tế vào Việt Nam thì ta  
lúng túng.  
tham gia vào thị trường thế giới với tư cách  
là người lắp ráp, làm thuê chứ chưa sáng tạo,  
sản xuất ra bất kỳ máy móc, sản phẩm nào.  
Suốt thế kỷ 20, nước ta hầu như không có nhà  
thiết kế chuyên nghiệp, mà chỉ có các họa sĩ  
tham gia làm thiết kế đồ họa, người bấm máy  
tính trong sự chỉ bảo của ông chủ sản xuất”.  
Ông Marc Pechart, Quản lý học vụ Viện thiết  
kế ADS, người từng có 16 năm làm trong lĩnh  
vực thiết kế ở Việt Nam cũng cho rằng, mỹ  
thuật ứng dụng ở Việt Nam còn thiếu vắng  
bản sắc. Cũng tại hội thảo nói về thực trạng  
đào tạo các ngành mỹ thuật ứng dụng tại Việt  
Nam, ông Riccardo Francesch, đại diện  
Trường Đại học Thiết kế LABA (Ý) cho  
rằng: “Việc giáo dục và đào tạo các nhà thiết  
kế hiện tại rất mang tính thực dụng hơn là  
sáng tạo. Thường sinh viên tốt nghiệp sẽ trở  
thành kỹ thuật viên hơn là nhà thiết kế. Họ  
biết cách sử dụng thành thạo các phần mêm  
2D, 3D nhưng chưa biết cách phát triển ý  
tưởng trên cơ sở là một nhà thiết kế.  
Các sản phẩm tạo ra thiếu tính ứng  
dụng. Bên cạnh việc nắm bắt và sử dụng các  
kỹ thuật, nhà thiết kế còn phải nắm bắt được  
xu thế thị hiếu người tiêu dùng, các kỹ thuật  
thi công sản phẩm, các học trình về nghệ  
thuật, lịch sử nghệ thuật, lịch sử kiến trúc  
không có nhiều trong chương trình học. Nếu  
một sinh viên mà không biết về kỹ thuật thi  
công sản phẩm phổ biến, hiện đại… thì sao  
sinh viên đó có thể trở thành một nhà thiết kế  
giỏi để đáp ứng được nhu cầu thực tế  
3. Thực trạng mối quan hệ giữa  
Làng nghề thủ công mỹ nghệ và các cơ sở  
đào tạo mỹ thuật ứng dụng  
Làng nghề là một tài sản quý báu của  
dân tộc ta. Trong thời kỳ mới, thực hiện Nghị  
quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng (tháng 1-  
2011) tiếp tục phát triển bền vững đất nước,  
làng nghề có vị trí và vai trò rất quan trọng.  
Trước yêu cầu của tình hình mới, cùng với  
quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi  
Tại Hội thảo khoa học toàn quốc “Đổi  
mới đào tạo mỹ thuật ứng dụng ở Việt Nam”  
ngày 25/6/2016 tại Thành phố Hồ Chí Minh,  
nhà nghiên cứu mỹ thuật Phan Cẩm Thượng  
nhìn nhận: “Mỹ thuật ứng dụng của Việt Nam  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
79  
mô hình tăng trưởng, làng nghề cũng phải tái  
cấu trúc nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm  
hàng hóa, đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao  
hơn. Trên thực tế, việc thiếu nhân lực có kỹ  
thuật của các làng nghề đang ngày càng trở  
nên trầm trọng, do lao động có tay nghề đang  
chuyển dịch sang làm việc ở các lĩnh vực  
khác hoặc thoát ly khỏi địa phương. Nhiều  
làng nghề truyền thống hiện nay không có thợ  
tạo mẫu và thợ có tay nghề tinh xảo đáp ứng  
yêu cầu thẩm mỹ ngày càng cao của người  
tiêu dùng, cho nên sản phẩm của các làng  
nghề truyền thống chưa đa dạng về mẫu mã,  
thiếu sức cạnh tranh so với sản phẩm cùng  
loại trong nước và quốc tế. Trong bài viết “  
Bàn về Design” PGS.TS Nguyễn Ngọc Dung  
viết : “…. Thay đổi không phải chỉ ở phương  
diện từ ngữ, mà là nội hàm công việc.  
công nghiệp (Sở Công Thương Hà Nội), Hà  
Nội hiện có 1.350 làng nghề và làng có nghề,  
trong đó, nhiều làng nghề vẫn giữ được tốc  
độ phát triển tốt như sơn mài, khảm trai, điêu  
khắc gỗ, thêu, dệt lụa…  
Tuy nhiên, hiện nay các làng nghề  
đang đứng trước thực trạng thiếu lao động có  
tay nghề để đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ ngày  
càng cao của người tiêu dùng.Trong lĩnh vực  
mỹ thuật thì Thủ công Mỹ nghệ vốn là hình  
thái nghệ thuật thị giác luôn luôn gắn liền với  
nghệ thuật truyền thống, nghệ thuật thủ công  
mỹ nghệ (Handicraft) của một quốc gia,  
vùng, khu vực, dân tộc, sắc tộc, chủng tộc,  
tôn giáo cụ thể của từng địa phương.  
Người nghệ sĩ của nghệ thuật thủ công  
mỹ nghệ vốn xuất thân là nghệ nhân hay thợ  
thủ công (Craftman), chuyên sử dụng ngôn  
ngữ, chất liệu cùng với thị hiếu, văn hóa bản  
địa của dân tộc mình, đồng thời sử dụng  
những tài năng, vốn sống, kinh nghiệm cha  
truyền con nối để sáng tác làm đẹp cho xã hội,  
điều này đã làm cho nghệ thuật thủ công  
mang lại hình thức độc đáo riêng của từng địa  
phương, từng dân tộc, chủng tộc, sắc tộc mà  
trong đó ẩn tàng tính dân tộc sâu sắc nhất  
nhưng cũng là một nguyên nhân khiến sản  
phẩm các làng nghề truyền thống chưa đa  
dạng về mẫu mã, thiếu sức cạnh tranh so với  
sản phẩm cùng loại trong nước và quốc tế.  
Trước thách thức này Mỹ thuật ứng dụng  
phải trở thành nguồn gốc tích lũy của các trào  
lưu cách tân văn hóa và kinh tế. Đầu tư cho  
thiết kế phải có chiều sâu, ngoài nối tiếp từ  
truyền thống xa xưa, còn phải biết đặt nó vào  
dòng phát triển của nền công nghiệp. nhưng  
tiếc thay các nhà quản lý cũng chưa có sự  
quan tâm thấu đáo hơn cho việc phát triển  
làng nghề . Còn trong thời kinh tế đang hòa  
nhập toàn cầu, các nhà kinh tế mong muốn có  
sự cân bằng trong xuất và nhập khẩu. Từ lãnh  
đạo đến các doanh nghiệp đều thấy phải có  
mẫu hàng mới trong xuất khẩu. Cứ theo sự  
Design không đồng nghĩa với trang trí  
và cũng không cần phải là ứng dụng mỹ thuật  
vào sản xuất. Cần phải thấy sự tiến triển của  
design gắn bó với sự tiến bộ của sản xuất, là  
kết quả nảy sinh, phát triển của nhu cầu tiêu  
dùng và biểu hiện tính cách của người tạo  
dựng môi trường văn hóa thẩm mỹ thời đại.  
Với Design ở nước ta thỉnh thoảng lại dội lên  
những cổ động, như triễn lãm mẫu thiết kế  
sản phẩm, lời hô hào trên báo chí, nhưng tới  
bây giờ nền kinh tế đã mở cửa Design vẫn  
chưa trở thành bộ phận hữu cơ của nền sản  
xuất công nghiệp. Lời kêu gọi của các cơ sở  
sản xuất phải có mẫu, mã hàng mới. Nhưng  
nào thấy ai “tự nguyện” đầu tư cho nghiên  
cứu và ứng dụng Design vào sản phẩm của  
mình. Thường là sao chép mẫu mã của nước  
ngoài, nếu không thì nằm chờ để ký hợp đồng  
gia công.  
Là địa phương có số lượng làng nghề  
nhiều nhất cả nước với gần 300 làng nghề,  
các làng nghề tại Hà Nội cũng rơi vào tình  
trạng thiếu nguồn nhân lực, nhất là các nhân  
lực trẻ và nhân lực có tay nghề cao. Theo  
Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển  
80  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
phân tích trên, thì MTUD có vị trí quan trọng  
với công việc này. Nhưng cần có một thái độ  
và sự quan tâm đúng đắn cho sự phát triển  
làng nghề, phố nghề của chúng ta.  
nguồn gốc tích lũy và phát huy các trào lưu  
cách tân văn hóa và kinh tế. Đầu tư cho kiểu  
dáng mẫu mã sản phẩm mới phải có chiều  
sâu, ngoài nối tiếp từ truyền thống, còn phải  
biết đặt nó vào dòng phát triển của nền công  
nghiệp hiện đại tiên tiến. Trong quan niệm,  
chúng ta luôn đề cao đào tạo nguồn nhân lực  
thiết kế mỹ thuật ứng dụng cao , nhưng thực  
tế chúng ta đã làm gì cho tốt hơn. Trong thời  
kinh tế đang hòa nhập toàn cầu, các nhà kinh  
tế mong muốn có sự cân bằng trong xuất và  
nhập khẩu. Từ lãnh đạo đến các doanh nghiệp  
đều thấy phải có mẫu hàng mới trong xuất  
khẩu. Cứ theo sự phân tích trên, thì Đào tạo  
nguồn nhân lực Mỹ thuật ứng dụng có vị trí  
quan trọng với công việc này. một số mặt  
hàng như đồ gốm, giầy da, quạt máy, đồ gỗ,  
đồ thủ công mỹ nghệ đã phần nào có vị trí  
nhất định thị trường tiêu thụ quốc tế. Song  
vẫn là cung cách làm việc với tư duy ngắn  
hạn vụ mùa. Các trường đào tạo MTUD  
không thể đứng bên lề sản xuất lúc này, Nhà  
nước và cá nhân doanh nghiệp cũng cần có  
chính sách kết hợp với các trường đào tạo  
MTUD.  
Sẽ là rất thuận tiện để phát huy, cái  
hồn truyền thống độc đáo này trong những  
sản phẩm truyền thống khi mà bản thân  
người, nghệ nhân, nghệ sĩ bản địa thích dùng  
ngôn ngữ, chất liệu truyền thống để chuyển  
tải những đề tài, ý tưởng mới mà anh ta thích  
cùng với sự sử dụng các kỹ thuật thể hiện hiện  
đại. Ông Nguyễn Phương Quang, Giám đốc  
Công ty TNHH Việt Quang (thôn Phú Vinh,  
xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ) chia sẻ,  
làng nghề Phú Vinh nổi tiếng với nghề mây  
tre đan truyền thống. Các sản phẩm của làng  
nghề không chỉ được cả nước biết đến mà còn  
xuất khẩu đi nhiều nước được các khách hàng  
nước ngoài ưa chuộng.  
Theo ông Nguyễn Phương Quang, để  
kế thừa và phát huy được thế mạnh của làng  
nghề thì cần phải xây dựng đội ngũ nhân lực  
trẻ có trình độ cao. Do đó cần phải có những  
chính sách đào tạo nghề và truyền nghề cho  
thế hệ trẻ. Chỉ có nguồn nhân lực chất lượng  
tốt thì mới giữ và phát triển các làng nghề  
truyền thống ngày càng phát triển.  
Theo UBND TP.Hà Nội, trong những  
năm qua Hà Nội đã có nhiều chính sách nhằm  
hỗ trợ phát triển các làng nghề như quy hoạch  
các làng nghề, những chính sách hỗ trợ vốn,  
hỗ trợ đầu ra sản phẩm, tổ chức các hội chợ  
nhằm quảng bá sản phẩm làng nghề…  
Báo cáo của Sở Công Thương cho  
thấy, trong năm 2016, các làng nghề Hà Nội  
đã tạo việc làm cho gần 800 nghìn lao động,  
giá trị sản xuất đạt gần 14 nghìn tỷ đồng. Thu  
nhập bình quân của người lao động ở làng  
nghề đạt khoảng 35 triệu đồng/năm. Đặc biệt,  
thu nhập của người lao động tại các huyện  
Gia Lâm, Đông Anh, Hà Đông... lên đến 50 -  
60 triệu đồng/năm. Chính vì vậy, Hà Nội cần  
tiếp tục phát huy những giá trị truyền thống,  
kết hợp tiếp thu KHCN mới trong thiết kế và  
sản xuất, nhất là các làng nghề có những sản  
phẩm xuất khẩu. Nhưng cần có một thái độ  
và sự quan tâm đúng đắn cho sự phát làng  
nghề của chúng ta.Trong đó khâu quan trọng  
chính đào tạo ngành MTUD phải trở thành  
Đặc biệt công tác đào tạo nghề cho  
các làng nghề cũng được thành phố đặc biệt  
quan tâm. Đầu năm 2017, UBND TP. Hà Nội  
đã ban hành Kế hoạch số 36/KH-UBND về  
hoạt động của Ban Chỉ đạo phát triển nghề và  
làng nghề TP.Hà Nội năm 2017.  
Theo đó, sẽ tập trung đào tạo nghề,  
truyền nghề cho khoảng 30 nghìn lao động tại  
các làng nghề truyền thống ở khu vực nông  
thôn. Ban Chỉ đạo phát triển nghề và làng  
nghề TP.Hà Nội cho hay, trong năm 2017,  
toàn thành phố phấn đấu đào tạo nghề, truyền  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
81  
nghề, đồng thời tập huấn nâng cao năng lực  
quản trị doanh nghiệp cho khoảng 100 chủ  
doanh nghiệp là giám đốc, phó giám đốc các  
cơ sở sản xuất làng nghề.  
CMCN 4.0 cần được xem xét, đánh giá toàn  
diện với nhiều yêu cầu và thách thức mới đặt  
ra cho các cơ sở đào tạo, đó là:  
Một là, cần chủ động đón đầu xu thế  
và yêu cầu của thị trường lao động. Bài toán  
về phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân  
lực chất lượng cao trong bối cảnh hiện nay đã  
có thêm những tiêu chí, điều kiện ràng buộc  
mới, hết sức khó khăn, đòi hỏi sự đổi mới  
toàn diện trong công tác đào tạo.  
Các cơ sở đào tạo không thể vẫn sử  
dụng phương pháp cũ, thiếu tính tương tác,  
thiếu thực tiễn của mô hình sản xuất mới để  
đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng sự phát triển  
và ứng dụng nhanh chóng của các công nghệ  
hiện đại từ cuộc CMCN 4.0. Điều này sẽ dẫn  
đến nguy cơ tụt hậu và đào thải rất cao.  
Hệ thống đào tạo cả nước cần sớm đổi  
mới nội dung và chương trình đào tạo nhằm  
đáp ứng trước những thay đổi từ thực tiễn. Ví  
dụ, trong lĩnh vực ….  
Đặc biệt, đổi mới phương thức đào  
tạo và quản trị đại học, đẩy mạnh ứng dụng  
công nghệ thông tin, công nghệ số vào trong  
hoạt động giảng dạy và nâng cao năng lực và  
chất lượng của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản  
lý.  
Để đáp ứng yêu cầu đào tạo trong môi trường  
mới, đội ngũ giảng viên giáo phải có những  
năng lực mới, năng lực sáng tạo và do đó đòi  
hỏi phải có những phẩm chất mới trên cơ sở  
chuẩn hóa, thông qua các hoạt động đào tạo,  
tự đào tạo và bồi dưỡng kiến thức chuyên  
môn.  
Bên cạnh hoạt động đào tạo, cần tích  
cực tham gia công tác nghiên cứu khoa học  
để nâng cao trình độ, kiến thức chuyên môn,  
gắn nghiên cứu với các hoạt động chuyển  
giao tại cơ sở, đặc biệt chú trọng các nghiên  
cứu mô phỏng, nghiên cứu tương tác…  
Hai là, cần đẩy mạnh công tác dự báo,  
nghiên cứu nhu cầu thị trường trong tương lai  
gần và xa hơn. Đây là nội dung cần được đặc  
Theo Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát  
triển công nghiệp Hà Nội, từ đầu năm đến  
nay, Trung tâm đã chủ trì, phối hợp với các  
sở, ngành liên quan, các hiệp hội ngành nghề  
tổ chức 40 lớp truyền nghề thủ công mỹ nghệ  
cho 1.400 học viên tại 40 thôn, xã; tổ chức  
cho 1.500 chủ cơ sở sản xuất công nghiệp  
nông thôn tham gia 15 lớp tập huấn khởi sự  
doanh nghiệp, hội nhập kinh tế quốc tế, thiết  
kế mẫu mã sản phẩm, quản trị doanh nghiệp,  
kinh doanh và marketing… Các nghề chính  
được Trung tâm nhân cấy là mây tre đan, sơn  
mài, khảm trai, thêu ren, dệt lụa, gốm sứ…  
Có thể thấy, việc đào tạo nhân lực cho  
các làng nghề vẫn là bài toán nan giải .  
4. Giải pháp  
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng  
cao phục vụ quá trình công nghiệp hóa - hiện  
đại hóa đất nước là vấn đề sớm được đặt ra  
trong định hướng của Đảng và tổ chức triển  
khai của Chính phủ. Kết quả thực hiện thời  
gian qua đã đóng góp những thành tựu tích  
cực cho công cuộc phát triển chung của đất  
nước.  
Tuy nhiên, phải thẳng thắn nhìn nhận,  
hệ thống đào tạo trong nước hiện còn tồn tại  
quá nhiều bất cập; Đội ngũ giảng viên cao  
đẳng, đại học còn mỏng và yếu; Cơ sở vật  
chất chưa đáp ứng với yêu cầu đào tạo;  
Phương thức đào tạo vẫn theo kiểu cũ, lối  
mòn, thiếu sự gắn kết với thực tiễn, dẫn đến  
chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo chưa  
đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của xã hội  
trong xu thế phát triển vũ bão và tác động  
mạnh mẽ, sâu rộng tới mọi mặt đời sống xã  
hội của cuộc CMCN 4.0.  
Trong giai đoạn hiện nay cũng như  
định hướng phát triển trong giai đoạn tới, việc  
đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho  
82  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
biệt quan tâm, bởi cuộc CMCN 4.0 sẽ có tác  
động rất lớn tới cơ cấu của nền kinh tế, khả  
năng suy giảm của nhiều ngành nghề cũng  
như sự xuất hiện mới của những ngành nghề  
trong tương lai là hoàn toàn có thể xảy ra,  
điều này sẽ dẫn tới những thay đổi rất lớn  
trong cơ cấu việc làm.  
phân luồng đào tạo và phát triển kỹ năng nghề  
nghiệp cho học sinh phổ thông.  
Đổi mới nội dung, phương thức đào  
tạo nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả  
giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp,  
cơ sở vật chất của nhà trường cũng phải đáp  
ứng được hoặc có mức độ phù hợp nhất định  
đối với doanh nghiệp.  
Ba là, cần sự kết hợp 3 “nhà”: Nhà  
trường - Nhà khoa học - Nhà Doanh nghiệp  
trong đào tạo nhân lực phục vụ CMCN 4.0.  
Hiện tại, chủ yếu là phía doanh nghiệp có nhu  
cầu gắn kết với nhà trường - nhà khoa học,  
còn nhà trường, nhất là các trường công lập,  
chỉ tập trung công tác đào tạo chứ chưa chủ  
động hợp tác với doanh nghiệp.  
Bốn là, cơ chế chính sách của trường  
phải đảm ứng được yêu cầu của doanh  
nghiệp. Cụ thể, thể hiện sự năng động, chủ  
động của nhà trường trong việc xây dựng các  
gói đào tạo hoặc chương trình đào tạo ngắn  
hạn cho doanh nghiệp.  
Năm là, thiết lập nhiều kênh kết nối trường  
đại học với doanh nghiệp. Cơ quan quản lý  
cần đứng ra chủ chì tổ chức nhiều hơn nữa  
các diễn đàn, hội nghị, hội thảo KH để nhà  
trường và doanh nghiệp có nhiều cơ hội tiếp  
cận gần gũi hơn  
- Nhà trường và doanh nghiệp nên thành lập  
các quỹ đầu tư phát triển chung để gia tăng  
sự ràng buộc, nâng cao tính năng động cũng  
như trách nhiệm của các chủ thể liên kết.  
Về phía nhà trường: Nên chủ động mời các  
nhà quản lý, nhân lực giỏi từ doanh nghiệp  
tham gia vào hoạt động đào tạo của nhà  
trường về những kỹ năng tác nghiệp trên máy  
móc, thiết bị thực tế để quá trình nghiên cứu,  
giảng dạy trên giảng đường sát với thực tiễn.  
+ Nâng cao năng lực đào tạo thông qua bồi  
dưỡng trình độ của đội ngũ giảng viên, đầu tư  
cơ sở vật chất thiết yếu; cập nhật, đổi mới  
chương trình nhằm bảo đảm chất lượng giáo  
dục.  
Các trường đào tạo MTUD cần học  
tập, kinh nghiệm đào tạo của các trường đại  
học ở nước ngoài, trong việc xây dựng các  
trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo gắn  
rất chặt với nhu cầu thực tế XH. Nhờ những  
trung tâm đó, sinh viên được học tập ở môi  
trường rất thật; các doanh nghiệp liên kết với  
các trường để tìm nguồn nhân lực tương lai.  
Hiện nay, đã có một vài cơ sơ đào tạo  
nhen nhóm hình thành các trung tâm nghiên  
cứu và thực hành điển hình như Trung tâm  
ART & DESIGN - Khoa Tạo dáng Công  
nghiệp-Trường ĐH Mở Hà Nội. Hoạt động  
của trung tâm tập trung nghiên cứu đổi mới,  
sáng tạo các sản phẩm ứng dụng mới hoặc  
nâng cao cải tiến các sản phẩm MTUD đã có  
trên thi trường. Từ đây, xây dựng môi trường  
dạy và học mà phải gắn rất chặt với môi  
trường kinh doanh, với thực tiễn đặt hàng của  
xã hội…  
Cần rà soát, sắp xếp, quy hoạch lại hệ  
+ Thiết lập bộ phận chuyên trách về liên kết,  
hợp tác.  
Về phía doanh nghiệp: Tạo điều kiện tiếp  
nhận sinh viên kiến tập, thực tập, tham quan,  
khảo sát, tuyển dụng và sử dụng sinh viên tốt  
nghiệp của nhà trường.  
thống bài giảng, bài tập ứng dụng tại cơ sở  
giáo dục đại học, cao đẳng đào tạo về MTUD  
gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội  
và nhu cầu của thị trường lao động trong cả  
nước, từng vùng và địa phương.  
Thực hiện tốt công tác tuyển sinh đại  
học, cao đẳng. Xây dựng cơ chế, chính sách  
+ Có chiến lược nuôi dưỡng, ươm mầm tài  
năng tại các trường đại học với nhiều hình  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
83  
thức như cung cấp học bổng, đầu tư cơ sở vật  
chất kỹ thuật, tuyển dụng trước và sau tốt  
nghiệp.  
+ Chủ động phối hợp với trường đại học  
trong việc biên soạn giáo trình, nội dung và  
phương pháp giảng dạy, bảo vệ đồ án, luận  
văn tốt nghiệp... để chương trình đào tạo “ăn  
khớp” với nhu cầu của Doanh nghiệp và xã  
hội.  
mình, trong quá trình giảng bài giảng viên kết  
hợp với chuyên gia từ các doanh nghiệp,  
giảng dạy lý thuyết và thực hành thị phạm,  
kết quả dạy và học được đánh giá qua bài tập  
thể hiện của sinh viên. Thể hiện của sv có thể  
trên giấy. Có thể được thể hiện thành sản  
phẩm ứng dụng ngay cho doanh nghiệp. Tuỳ  
theo yêu cầu .  
+ Hình thành thư viện chuyên ngành  
+ Cần có cơ chế, chính sách khuyến khích  
đội ngũ giáo sư, tiến sĩ, giảng viên có chất  
lượng cao trong các trường đại học tham gia  
vào các dự án hoặc chia sẻ, cố vấn cho doanh  
nghiệp thông qua các chương trình đào tạo  
nội bộ.  
Đặc biệt, Bộ cũng đề nghị đẩy mạnh việc hợp  
tác ba bên Nhà trường - Nhà khoa học -  
Doanh nghiệp. Trong đó, đa dạng hóa các  
hình thức hợp tác về xây dựng chuẩn đầu ra,  
chương trình đào tạo; tổ chức ký kết đào tạo  
theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp Bên  
cạnh đó, có sự phối hợp, hợp tác với cơ sở  
đào tạo cho sinh viên vừa học, vừa làm tại cơ  
sở đào tạo và doanh nghiệp. Đồng thời, hợp  
tác trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình  
độ, kỹ năng, cấp chứng chỉ nghề cho lao động  
và tuyển ngư  
+ Nâng cao trình độ ngoại ngữ, và công nghệ  
thông tin cho đội ngũ giảng viên và sinh viên  
trong Khoa.  
+ Xây dựng hình thức đào tạo theo yêu cầu  
của người học và đảm bảo chất lượng. Sau  
mỗi khóa học kiên quyết đưa hình thức đánh  
giá mức độ hài lòng của người học về giảng  
viên và môn học để khoa tự điều chỉnh môn  
học và thầy dạy.  
+ Xây dựng hệ thống quản trị khoa học, hiện  
đại, dân chủ với phương châm tăng mạnh uy  
tín đào tào của cơ sở thành thương hiệu xã  
hội.  
+ Thay vì đào tạo theo phương pháp hàn lâm,  
nặng về lý thuyết, thiếu thực hành, một số  
trường đã áp dụng mô hình đại học ứng dụng  
hiện đang rất phổ biến ở các nước phương  
Tây. Điểm ưu việt của mô hình thể hiện ở  
việc phân bổ thời gian dành cho lý thuyết và  
thực hành, theo đó lý thuyết chỉ chiếm 30%,  
còn lại 70% dành cho thực hành, thực tế tại  
doanh nghiệp. Các hoạt động trao đổi còn  
chưa phong phú và chưa liên kết toàn diện;  
Thiếu các hoạt động về trao đổi giữa giảng  
viên và cán bộ của doanh nghiệp trong hoạt  
động đào tạo.  
Đào tạo MTUD là lĩnh vực đào tạo  
khá chuyên biệt, hệ thống khoa học của nó  
cần tư duy khác biệt, việc đánh giá kết quả  
cũng cần có sự khác biệt, lực lượng chuyên  
sâu giảng dạy cũng cần có cách đòi hỏi  
riêng. Muốn vây cần có một thái độ và sự  
quan tâm đúng đắn cho sự phát triển của đào  
tạo MTUD trong ngành công nghiệp sản  
ời vào học nghề, thực tập để làm việc cho  
doanh nghiệp.  
+ Đào tạo xây dựng một đội ngũ giảng viên  
giỏi về nghiên cứu làm nòng cốt trong Khoa  
+ Mạnh dạn thể nghiệm đào tạo các khóa  
chuyên sâu. Hay dạy theo nhu cầu của người  
học. Áp dụng phương thức đào tạo theo yêu  
cầu chất lượng cao của người hoc, và học  
theo modul tín chỉ, và có chứng chỉ . Hoàn  
thành tất cả các tín chỉ thì cấp bằng  
+ Thí dụ: gói kiến thức về mầu và bố cục trên  
mặt phẳng, gói về nghệ thuật in khắc, gói về  
Nghệ thuật chữ, thiết kế logo... Giảng viên sẽ  
ra các bài tập có thể gắn với thực tiễn xã hội,  
hoặc doanh nghiệp có thể đưa ra yêu cầu đào  
tạo chuyên sâu về một lĩnh vực của đơn vị  
84  
Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion  
trong giảng dạy và học tập ngành mỹ thuật ứng  
dụng” Tạp chí khoa học Trường ĐH Mở Hà Nội  
– 12/20198  
xuất của chúng ta, Đó là một thách thức  
chúng ta phải vượt qua, tư duy lãnh đạo giáo  
dục trong lĩnh vực này nên cập nhật sâu sắc  
tránh tình trạng thiên về yếu tố hành chính.  
Chúng ta cần sẵn sàng vượt qua giai đoạn  
phát triển này để hoàn thiện hơn. Đặc biệt,  
trong thời kì hội nhập quốc tế và phát triển  
tại Việt Nam đang sang một giai đoạn mới./.  
n
5. Uyên Huy, Mỹ thuật úng dụng và tính dân tộc  
trong thời đại kinh tế thị trường,  
so-7-8  
6.Vũ Quốc Tuấn, Thực trạng và giải pháp phát  
triển sản phẩm làng nghề Việt Nam,  
7. Thông tư số 29/2017/TT-BLĐTBXH, ngày  
15/12/2017 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã  
hội  
8. Công văn số 786/2018/TT-BLĐTBXH, ngày  
15/12/2017 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã  
hội  
Tài liệu tham khảo:  
1. PGS.TS Nguyễn Ngọc Dũng Các bài viết về  
Design được đăng tải ở tập san “Mỹ thuật công  
nghiệp” (1976,1977,1978,1979) và website:  
tdcn.hou.edu.vn năm 2019, Bàn về thuật ngữ  
Design, Tạp chí Nghiên cứu Mỹ thuật, số 3,4/12,  
tr.12-15.  
2. PGS.TS Nguyễn Lan Hương(2018) Đào tạo  
ngành mỹ thuật ứng dụng trong bối cảnh cuộc  
cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (4.0)  
3. Vương Quốc Chính (2018) “Những khó khăn  
và thuận lợi khi sử dụng Công nghệ thông tin  
Địa chỉ tác giả: Trường Đại học Mở Hà Nội  
Email: [email protected].vn  
pdf 10 trang yennguyen 15060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các trường đào tạo mỹ thuật ứng dụng ở nước ta hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_moi_quan_he_giua_doanh_nghiep_va_cac_truong_dao_tao.pdf