Ý vị của đường nét trong tác phẩm tạo hình

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 9. 2011  
Ý VỊ CỦA ĐƯỜNG NÉT TRONG TÁC PHẨM TẠO HÌNH  
Đào Thị Hà1  
TÓM TẮT  
Đường nét, màu sắc... là những thành tố cơ bản trong việc tạo nên tác phẩm hội hoạ.  
Nét lâu nay được hiểu như là một phương tiện ghi nhận của thị giác về thế giới khách quan để  
truyền đạt thông tin, hay nó là chu vi của một diện tích tạo nên sự tách biệt giữa hình và nền.  
Trong hội họa thì điều đáng nói không phải là vai trò, tính chất hay công dụng của đường nét  
mà quan trọng là những giá trị thẩm mỹ mà nó đem lại trong tác phẩm tạo hình.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Trong hệ thống chương trình học về nghệ thuật tạo hình của sinh viên trong đó có cả  
SV chuyên mĩ thuật, sư phạm mĩ thuật và không phải chuyên ngành mĩ thuật (như SV khoa SP  
Mầm non - SP Tiểu học) thì yếu tố đường nét trong các bài tập về bố cục chưa được phân tích  
và nghiên cứu một cách có hệ thống. Thông qua tìm hiểu một số bài tập thực hành về bố cục tôi  
nhận thấy các em sinh viên thường chú trọng hơn về hình khối, màu sắc và còn xem nhẹ cấu  
trúc của đường nét, cấu trúc đường nét đó là một yếu tố chiếm tỉ lệ rất ít nhưng lại vô cùng tinh  
tế nếu như được sử dụng đúng chỗ sẽ gợi được hiệu quả về không gian, về nhịp điệu, v.v...  
trong các bài tập.  
Trong hình học: Nét được định nghĩa là tập hợp của điểm hoặc là dấu vết di chuyển  
của một điểm trong không gian. Mặt khác điểm lại được định nghĩa là nơi hai đường thẳng cắt  
nhau [1] Đó là định nghĩa kiểu biện chứng hình học.  
Trong hội hoạ: Đường nét được hiểu như là một phương tiện ghi nhận của thị giác về  
thế giới khách quan, một phương tiện để truyền đạt thông tin, nó tạo nên sự tách biệt về hình  
và nền. Tuy nhiên nếu ta tách riêng nét thì ý nghĩa của nó hẹp hơn cụ thể hơn: “Nét (Trait) là  
vết đứt đoạn hoặc liên tục, để viền hình, phân mảng, nhấn mạnh hoặc diễn tả đậm nhạt”[1].  
Trong hội hoạ Trung Hoa người ta chia ra làm 18 loại nét còn hội hoạ Phương Tây thì lại chia  
ra làm 4 kiểu nét chính và ở mỗi kiểu lại phân ra các dạng khác nhau. Hội hoạ châu Âu thế kỷ  
20 ẩn mình trong ngôn ngữ của đường nét với những tác giả, tác phẩm nổi tiếng như: Hans  
Hatung, Jackson Pollock (Mỹ), Siquezos (Mehico)... ở Việt Nam có Nguyễn Tư Nghiêm,  
Nguyễn Gia Trí.  
Cấu trúc của một tổ hợp đường nét được dùng để diễn đạt các nhu cầu tạo hình của  
người hoạ sĩ như: Tạo sự chuyển động, tạo nhịp điệu, tạo phương hướng, tạo sự đối lập, tạo  
khối, tả chất, tạo không gian, thời gian vv.. bằng cách phối kết hợp các loại đường nét với nhau  
một cách có cấu trúc và hệ thống.  
Trong một tác phẩm hội hoạ đường nét có thể có hình (Hữu hình) và có thể không có  
hình (Vô hình) nhưng người xem vẫn cảm nhận được nó. Đó là điều thú vị và chính vì thế nó  
nghiễm nhiên trở thành một hình thức cơ bản trong nghệ thuật tạo hình.  
1 Khoa sư phạm Mầm non - trường Đại học Hồng Đức  
89  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 9. 2011  
2. NỘI DUNG:  
2.1. Ý nghĩa bao quát  
Khi loài người chưa có ngôn ngữ, chữ viết thì những ký hiệu của nét về hình ảnh để  
diễn đạt nội dung thông tin rất quan trọng. Sau này khi chữ viết hình thành và phát triển ở nhiều  
nơi trên thế giới và có nhiều kiểu chữ khác nhau, nhưng xét dưới góc độ tạo hình thì kiểu chữ  
Hán vẫn được đánh giá là kiểu chữ có đường nét đẹp nhất, nó được chia ra làm 6 kiểu viết: Chữ  
chân, Triện thư, Lệ thư, Thảo thư, Hoành thư, Khải thư. Sau này khi thư pháp phát triển ta có  
thể thấy giữa hội hoạ và thư pháp có mối tương đồng chung về hiệu quả biểu đạt của nét.[4]  
Khi đặt bút diễn đạt tác phẩm bằng đường nét thì người nghệ sĩ phải có ý tưởng, ý định  
và sự tính toán trước đó. Có thể nói cái Ý ở đây là bản chất đã định sẵn, đã hình thành và mang  
một ý nghĩa. Lão Tử thiết lập: “cái giai đoạn đầu của Ý là giai đoạn mà cái trọn vẹn chưa bị  
gián đoạn hay phát tán. Đó là giai đoạn vừa mới nhú ra và chưa loại trừ lẫn nhau” [4]. Nhưng  
khi nó bắt đầu khai trương đến Tượng, đến Hình (tức cái cụ thể) thì sẽ gặp hai trạng thái sau:  
- Một là: Tác phẩm diễn ra đúng ý tưởng ban đầu và thành công thì ta coi đó là một  
chân lý.  
- Hai là: Đằng sau ý tưởng đó sự hoàn thiện bị rạn nứt và thiếu hụt thì tự sau nó sẽ làm  
nảy sinh những ý nghĩa mới.  
Như vậy từ Ý đến Tượng, đến Hình là cả một giai đoạn, tuy Ý là giai đoạn trừu tượng  
không thuộc về hình vẽ mà mới chỉ là : Ý tưởng - Ý định (dự định).  
Khi cụ Nguyễn Du tả hai nàng Thúy Kiều và Thúy Vân chỉ viết vài câu chung chung  
nhưng ngữ nghĩa của nó lại hết sức cô đọng.  
"Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang  
(Thuý Vân)  
hoặc :  
"Làn thu thuỷ nét xuân sơn,  
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh"  
(Thuý Kiều)  
Có thể nói Ý ở đây chính là nội tâm, là nơi nghệ sỹ cảm thông với những hiện tượng, sự  
vật khách thể. Giá trị thẩm mỹ không chỉ ở ngoại cảnh mà cộng hưởng phát sinh từ ý tưởng của  
tác giả: Tâm đắc với nghệ thuật điêu khắc đình làng kết hợp với kiến thức về hội hoạ hiện đại  
mà Nguyễn Tư Nghiêm cho ra đời tác phẩm “Điệu múa cổ” với những đường nét vừa tinh vừa  
mộc, vừa thực vừa hư đưa ta về một thế giới vừa hiện tại vừa xa xưa.  
Ngược lại với Ý là cái trừu tượng không nắm bắt được thì Vị là cái có thể cảm nhận  
được thông qua các giác quan. Ở vị giác: Ta nhận thấy vị ngọt, mặn, đắng cay… Ở thính giác:  
Ta nhận biết đâu là âm nhạc đâu là âm thanh hỗn độn... Nếu chức năng của 5 giác quan chỉ là  
thu nhận thông tin từ thế giới bên ngoài một cách vô tư thì việc chọn lọc chất lượng thông tin lại  
là hữu ý. Đối với một người “thực bất tri kỳ vị” (ăn không biết thế nào là ngon) thì Vị cay đắng  
90  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 9. 2011  
hay ngọt bùi đều được chấp nhận một cách thản nhiên. Như vậy thì hình vẽ Ngựa trong tranh Từ  
Bi Hồng và hình vẽ Ngựa trong sách giáo khoa chẳng có gì khác nhau.  
Như vậy, ta có thể khẳng định Vị của nét không được cảm nhận thông qua vị giác mà  
nó được cảm nhận qua thị giác và tư duy của chúng ta. Ta cảm nhận được vị tươi ngon của trái  
táo trong tranh: “Tĩnh vật” của Paul Cezanne với những nét cong khép kín hay ta cảm thấy sự  
cuồng nhiệt và nồng nàn lôi cuốn trong bức tranh: “Nụ hôn”của Klimt, ở bức tranh này ta thấy  
những tổ hợp nét khá kỳ lạ trên thân thể của 2 nhân vật nam và nữ nhưng chỉ ở hai dạng khái  
quát; nét thẳng và nét cong, nét cứng và nét mềm.  
2.2. Sự đa nghĩa  
Tính đa nghĩa của đường nét là do sự kết hợp giữa nét thẳng với nét cong tạo thành; với  
loại nét thẳng ta có ý nghĩa giữa nét thẳng đứng với nét thẳng nghiêng; với loại nét cong ta có ý  
nghĩa giữa nét cong ngược lên phía trên với nét cong úp xuống phía dưới vv... Mỗi kiểu nét vốn  
đã có một ý nghĩa riêng những khi kết hợp chúng với một loại nét khác chúng lại tạo ra một ý  
nghĩa mới.  
Trong thế giới của đường nét không phải là nét nào cũng có giá trị như nhau. “Có nét  
mang nghĩa, mà nếu vắng nó, hình sẽ không có nghĩa, mong muốn tín hiệu cần thông tin sẽ mất.  
Có nét chỉ mang tính cấu tạo, có nó thì sẽ đầy đủ, mà vắng nó thì người ta vẫn nhận ra hình một  
cách đầy đủ qua liên tưởng như trường hợp số (5) và số (3) chỉ thay đổi một nét duy nhất là nét  
thẳng và nét xiên ở giữa thiếu một trong hai nét ấy người ta có thể mường tượng ra.” [1] Tùy  
vào từng ngành nghề, tri thức và tùy thuộc vào quy ước của mỗi cộng đồng xã hội mà tạo nên  
các ý nghĩa của nét, hai đoạn thẳng giao nhau tại điểm giữa (+) và vuông góc nhau tạo nên biết  
bao ý nghĩa. Chúng có thể là dấu cộng trong toán học, hình chữ thập ở xe cứu thương hay cây  
thánh giá.  
Quay trở lại với hội hoạ, sau nghệ thuật hàn lâm là sự lên ngôi của một loạt tranh vẽ  
thiên về nét như: tranh khắc gỗ Nhật Bản, sự hoang dã của nghệ thuật châu Phi và sự phát hiện  
các tác phẩm trong hang động thời Cổ Đại. Một người công dân Pháp sau khi xem bảo tàng dân  
tộc học ở Pari năm 1945 ( Mussé de l’homme) đã thốt lên rằng: “Người da đen sống giữa tự  
nhiên, bởi thế mà nghệ thuật của nghệ thuật không sao chép những thứ quanh mình mà khám  
phá ra các thể dạng, còn giới nghệ sĩ của chúng ta nhốt kín trong thành phố, cắt đứt mối quan  
hệ với tự nhiên, thì chỉ đeo đuổi sự bắt chước mà thôi”[2]. Có lẽ đó là khởi nguồn của nhiều  
cuộc ra đi tìm hình thức thể hiện mới với những sự chia tay của các họa sĩ với các trường phái  
nghệ thuật đương thời lúc đó.  
Hình khắc trên đá ở châu Phi  
91  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 9. 2011  
Sự kỳ lạ trong bản khắc nét của nghệ thuật Châu Phi và nghệ thuật cổ đại đó là: những  
đường nét có thể rất tự nhiên không theo một quy luật khắt khe nào cả, cũng có thể nó là những ký  
hiệu riêng mang tính tôn giáo của dân tộc. Nhưng một điều quan trọng nữa mà chúng ta phải thừa  
nhận rằng: với những dụng cụ thô sơ như vậy (chỉ dùng đá nhọn, mũi dùi đồng, thỏi đất màu..) lại  
có thể tạo nên những hình vẽ độc đáo và hấp dẫn. Chứng tỏ tài năng không cần tỉ lệ thuận với sự  
phát triển xã hội. Nghĩ như vậy thì ngày nay chúng ta mới ngả mũ cúi chào ánh hào quang của  
tranh tường Ai Cập, hoa văn gốm cổ Trung Quốc, tranh trên vách đá sa mạc Sahara, hang động  
Lát-xcô, hang Altamira và các vòng trang trí trên mặt trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lũ, Hoàng Hạ.  
Khi quan sát tác phẩm ta thường có những mối liên tưởng như: liên tưởng về không  
gian, thời gian... Tranh Gội đầu – khắc gỗ của Trần Văn Cẩn - giải nhất trong triển lãm năm  
1943 do hội FARTA (Hội nghệ thuật An Nam) tổ chức tại nhà khai trí Tiến Đức (Hàng Trống  
- Hà Nội), khẳng định khả năng sáng tạo của người nghệ sĩ, ông không sao chép vốn cổ mà  
cũng không quá ảnh hưởng hội họa Phương Tây với cách nhìn hiện đại, hình ảnh cô đọng, chỉ  
có một mảng chính duy nhất song lại phản ánh được thói quen sinh hoạt của người dân vùng  
đồng bằng Bắc bộ, và quan niệm về cái đẹp của một dân tộc thời bấy giờ.  
Tranh: Gội đầu - Khắc gỗ của Trần Văn Cẩn  
Tranh: Guernica - 1936 - Sơn dầu của Picasso  
Khi xem hình vẽ trong tranh Guernica của Picasso, tác phẩm bày tỏ sự kinh tởm của  
Picasso đối với trận dội bom huỷ diệt thành phố Ghe-ni-ca trong cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha,  
tổ hợp nét của ông lúc mau, lúc thưa, lúc đột ngột chuyển hướng, khiến người xem bị lôi cuốn  
bởi những ý nghĩ sâu sắc nhất, phô bày những tình cảm phức tạp mãnh liệt nhất về chiến tranh  
mà không cần dùng đến những hình ảnh hiện thực như súng ống, đạn dược. Đường nét của  
Picasso gợi cho người ta phải suy nghĩ nghiêm túc về những tội ác do chiến tranh gây ra.  
2.3. Chiều hướng  
Tất cả mọi vật nặng đều rơi vào trung tâm như là một quy luật sau khi phát hiện về vụ  
nổ Bicbang tức là vào 1 điểm nhỏ nhất. Khi đó thì trọng lực của mọi vật đều rất nặng, vì vậy  
92  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 9. 2011  
một điểm không thể chịu lực nổi nó sẽ tạo ra một lực phản lực đẩy và nổ ra - vụ nổ đầu tiên gọi  
là Bigbang. Bây giờ vũ trụ đang giãn nở đến một lúc nào đó nó hết tốc độ chuẩn bị nổ tung ra  
thì nó quay, khi hết tốc độ thì nó lại rơi vào trung tâm và đến một độ nào đó nó không chịu nổi  
thì nó lại nổ lần thứ hai như vậy ta gọi là ly tâm. Trên trái đất cũng thế chúng ta sống trên mặt  
trái đất đều vận động, chúng ta đứng nhưng không thể đứng ra ngoài mặt trái đất như vậy là  
hướng tâm.  
Với đường nét điểm nhìn được tập trung vào chiều hướng của các góc nhọn nên muốn  
tạo hiệu quả hướng tâm và ly tâm người ta thường sử dụng cấu trúc như sau:  
Ly tâm  
Hướng tâm  
Hướng tâm các góc nhọn được đưa vào phía bên trong, ly tâm các góc nhọn được đưa  
ra phía bên ngoài. Với những bức tranh sử dụng đường nét thẳng và các góc nhọn thì tạo hiệu  
quả chuyển động nhiều hơn. Trong bức tranh: “Hà nội moving I” của Lê Quý Tông, tác giả sử  
dụng đường nét theo quy luật xa gần với những đường thẳng hút sâu vào phía bên trong, lợi  
dụng vào điểm nhìn của thị giác để tạo không gian mở, đồng thời sử dụng nhiều nét xiên  
trong mảng sáng ở giữa mà không có nét phá cách tạo nên một sự chuyển động ghê gớm trên  
các làn đường cao tốc, có lẽ tác giả muốn lấy hình ảnh đó để diễn đạt sự di chuyển của các  
phương tiện như một cơn lốc trong thời kỳ bùng nổ công nghiệp hoá đất nước. Tác phẩm:  
“Tiếng thét” của Munch cũng sử dụng những đường thẳng xiên hút sâu vào phía bên trái, như  
muốn thu gọn thế giới nội tâm, nội lực của nhân vật, những nét thẳng xiên được trả lại phía  
bên phải bằng những nét cong mềm hơn tạo thành ba góc nhọn kéo dãn ra. Bức tranh không  
có lời song ta cảm nhận thấy có một tiếng thét vang lên ghê sợ thoát ra ngoài và đồng thời nó  
bị va đập vang vọng vào nhau bởi các tầng lớp âm thanh. Tác phẩm“Sao đêm” của Van Gogh  
với bút phát cuồng nhiệt biểu đạt tác phẩm tương đối khác lạ, ở đây đường nét không đơn  
thuần chỉ là sự miêu tả các vì sao, mà nó mở ra một không gian rộng lớn với sự chuyển động  
không ngừng của vũ trụ. Ông đã làm tăng giá trị biểu cảm đó bằng cách sử dụng nhiều nét  
nhát bút trong các đường cong mềm mại.  
Hà Nội moving I - SD của Lê Quý Tông Sao đêm - SD của Van Gogh  
Tiếng thét - SD của Munch  
93  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - SỐ 9. 2011  
3. KẾT LUẬN  
Nghệ thuật Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá đã và đang tiếp cận nhiều trào lưu  
nghệ thuật mới ra đời. Với một chút tìm hiểu về các giá trị biểu đạt của đường nét ta nhận thấy  
nó tạo được rất nhiều hiệu quả khác nhau trên các tác phẩm. Càng có kiến thức vững chắc về ý  
nghĩa của nét thì trước khi sáng tác người hoạ sĩ càng phải cân nhắc sử dụng sao cho phù hợp  
với đề tài và nội hàm của tác phẩm.  
Qua nghiên cứu ta nhận thấy ba điều đáng nói: Một là: Những tác phẩm hội hoạ phần  
đa là được tạo nên bởi mặt phẳng hai chiều (Giấy, vải, lụa..) nhưng lại có thể tạo nên được  
nhiều tầng lớp không gian và thời gian. Hai là: Sự phân loại ra các dạng đường nét mới chỉ ra  
được những giá trị đơn lẻ của chúng mà chưa đề cập đến cấu trúc và sự kết hợp các dạng đường  
nét để tạo ra các giá trị mới. Ba là: Các loại đường nét thẳng chỉ khác các đường nét cong ở tính  
chất cứng hay mềm nhưng đều có khả năng tạo ra hiệu quả chuyển động như nhau khi kết hợp  
nhiều nét trong cùng một chiều hướng. Vì vậy, ta có thể nói nghệ thuật tạo hình vốn là nghệ  
thuật của sự tĩnh lặng (không có tiếng nói) nhưng nó lại có thể sống động nhiều hơn cả lời nói.  
Đường nét vốn chỉ chiếm một diện tích nhỏ trong tổng diện tích của mặt tranh nhưng các giá trị  
của nó lại không hề nhỏ. Thật là một điều đáng để tâm suy nghĩ.  
Những đề nghị: Với SV mĩ thuật ở các trường cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp  
được học nhiều phân môn, nhiều dạng bài tập tạo hình nhưng nhìn chung về thời gian phân phối  
cho chuyên ngành còn ít, chưa xây dựng hệ thống bài tập về đường nét một cách khoa học và tinh  
tế nên cách sử dụng đường nét vẫn còn nhiều hạn chế. Với những SV không phải chuyên ngành  
mĩ thuật như SV Mầm non và Tiểu học, thì do thời lượng được học quá ngắn khoảng 40-80  
tiết/đơn vị học trình thì ta mới tạm gọi là xoá mù cho các em về nghệ thuật chứ chưa dám đặt ra  
yêu cầu cao. Thiết nghĩ số lượng tiết học nghệ thuật tạo hình cần tăng lên số và số lượng bài tập  
cần hợp lý, tránh quá tải, khoa học để các SV có thể hoàn thành chúng một cách tốt hơn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]  
[2]  
[3]  
[4]  
[5]  
Nguyễn Quân, Tiếng nói của hình và sắc, Nxb Văn hóa (1986).  
Thái Bá Vân, Tiếp xúc nghệ thuật - Viện Mỹ thuật, Nxb Bản đồ (1996).  
Phạm Quang Vinh (chủ biên), Sách của người xưa, Nxb Kim Đồng (2000).  
Vương Hoàng Lực, Nguyên lý hội họa đen trắng, Nxb Mỹ thuật (2006).  
Francois Jullien, Đại tượng vô hình, Nxb Đà Nẵng (2004).  
MEANINGS OF LINES AND TRAITS IN PAINTING  
ABSTRACT  
Lines, traits and colors are basis components in creating a painting.Traits have been  
understood as a vision's mean to give and receive information about objective world for a  
long time. In the other words, thay can be considered as circunyerence of a certain areauliecs  
diffenentiates shape from background. In painting, it is more important to realize the beauty  
values which are revealed in lines and traits than thier roles, charactaristics and usages.  
Key words: Lines, traits and colors  
94  
pdf 6 trang yennguyen 31320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ý vị của đường nét trong tác phẩm tạo hình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfy_vi_cua_duong_net_trong_tac_pham_tao_hinh.pdf