Đánh giá mối liên quan giữa FDG PET/CT và bộc lộ PD L1 ở bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
ĐÁNH GIÁ MỐI LIÊN QUAN GIỮA FDG PET/CT VÀ
BỘC LỘ PD L1 Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ PHỔI BIỂU MÔ TUYẾN
1
2
3
BÙI TIẾN CÔNG , NGUYỄN THUẬN LỢI , ĐOÀN MINH KHUY ,
1
1
PHẠM VĂN THÁI , PHẠM CẨM PHƯƠNG
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá mối liên quan giữa chuyển hóa FDG PET/CT và mức độ bộc lộ PD L1
ở bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 114 bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến của phổi giai đoạn
IIIb, IV được chụp FDG PET/CT, xét nghiệm PD L1 trước điều trị từ 11/2018 đến 07/2020.
Kết quả: Độ tuổi trung bình 62,3 ± 8,4, tỷ lệ nam (63,2%), nữ (36,8%), giai đoạn IIIb (42,98%) và giai
đoạn IV (57,0%). Tỉ lệ đột biến gen EGFR và tỷ lệ không có đột biến tương ứng 55,3% và 44,7%. Có
43,0% bệnh nhân nghiên cứu không bộc lộ PD L1, 57,0% BN nghiên cứu có kết quả xét nghiệm PD L1
dương tính mức độ yếu và mạnh. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm PD L1 âm tính và dương
tính theo các đặc điểm giới tính (p = 0,006), đặc điểm khối u nguyên phát (p = 0,03), giai đoạn bệnh (p =
0,02), tình trạng đột biến gen EGFR (p = 0,03). Giá trị SUVmax tại u nguyên phát ở nhóm PD L1 dương
tính cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm âm tính (p = 0,04). Diện tích dưới đường cong (AUC) của
SUV max trong dự đoán PD L1 dương tính là 0,614 (p < 0,05). Kết hợp 4 yếu tố SUV max, giới, tình trạng
hút thuốc, tình trạng đột biến gen EGFR AUC của 4 yếu tố là 0,676.
Kết luận: Đặc điểm FDG PET/CT có mối liên quan và có giá trị dự đoán tình trạng bộc lộ PD L1 ở
bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến của phổi.
Từ khóa: Ung thư phổi, biểu mô tuyến, FDG PET/CT, PD L1.
EGFR và mức độ bộc lộ PD - L1 được khuyến cáo
tiến hành thường quy cho các bệnh nhân UTPKTBN
nhằm lựa chọn chiến lược điều trị cho bệnh nhân.
PET/CT là kĩ thuật chẩn đoán y học hạt nhân giúp
chẩn đoán sớm và cung cấp thông tin chính xác
về giai đoạn bệnh, có giá trị tiên lượng ở bệnh nhân
UTPKTBN. Con đường chết theo chương trình
PD - 1 được lập trình là một điểm kiểm tra miễn dịch
chính. Sự gắn kết của phổi tử PD-1 (PD-L1) với
PD-1 gây ra quá trình chết tế bào hoặc cạn kiệt
tế bào lympho T, các tác nhân chặn tín hiệu ức chế
này đã được chứng minh có thể tăng cường hoạt
động của tế bào T3. Các nghiên cứu đã chỉ ra sự bộc
lộ PD - L1 tăng lên ở các khối u đặc như phổi4,
ung thư vú5, ung thư đại trực tràng6, ung thư gan7,
ung thư dạ dày8.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư phổi (UTP) là bệnh có tỷ lệ mắc và tỷ lệ
tử vong cao trên thế giới, theo GLOBOCAN 2018,
UTP là một trong những bệnh đứng thứ 2 về tỷ lệ
mắc mới với gần 2,1 triệu ca mới được chẩn đoán ở
cả hai giới, đứng đầu ở nam giới và đứng hàng thứ
3 ở nữ giới1.
UTP có độ ác tính cao, tiến triển nhanh, tiên
lượng xấu, tỷ lệ sống thêm sau 5 năm thấp khoảng
15% ở cả 2 giới2. Tuy nhiên đa số các bệnh nhân
được chẩn đoán bệnh ở giai đoạn IIIb, IV. Trong
những năm gần đây, liệu pháp trúng đích, miễn dịch
là một trong những phương pháp điều trị chủ yếu
được chỉ định cho các bệnh nhân UTP giai đoạn IIIb,
IV. Xét nghiệm xác định tình trạng đột biến gen
Địa chỉ liên hệ: Bùi Tiến Công
Email: drcongbui@hmu.edu.vn
Ngày nhận bài: 05/10/2020
Ngày phản biện: 03/11/2020
Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020
1 Bộ môn Y học hạt nhân - Đại học Y Hà Nội;
Trung tâm Y học hạt nhân và Ung Bướu - Bệnh viện Bạch Mai
2 Trung tâm Y học hạt nhân và Ung Bướu - Bệnh viện Bạch Mai
3 Trung tâm Giải phẫu bệnh và tế bào học - Bệnh viện Bạch Mai
192
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
Trên thế giới, đã có nghiên cứu chỉ ra mối liên
quan giữa giá trị SUVmax và mức độ bộc lộ PD-L1.
Các nghiên cứu về mối liên quan giữa mức độ bộc lộ
PD-L1 ở BN UTPKTBN và giá trị SUVmax vẫn chưa
có sự đồng thuận giữa kết quả nghiên cứu của các
tác giả9,10,11. Tại Việt Nam, còn rất ít các nghiên cứu
về mức độ bộc lộ PD-L1 ở BN UTPKTBN, đặc biệt là
chưa có nghiên cứu nào chỉ ra mối liên quan giữa
PET/CT và tình trạng đột biến gen EGFR, mức độ
bộc lộ PD-L1. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu
với mục tiêu “Đánh giá mối liên quan giữa FDG
PET/CT và mức độ bộc lộ PD L1 ở bệnh nhân
ung thư phổi biểu mô tuyến”.
Nội nghiên cứu
Ghi nhận đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân:
Tuổi, giới tính, mô bệnh học, tiền sử hút thuốc lá,
tình trạng đột biến gen EGFR.
FDG PET/CT: Mỗi bệnh nhân được tiêm tĩnh
mạch FDG liều 0,15mCi/kg sau khi nhịn đói ít nhất
4 giờ. Tiến hành ghi hình sau tiêm thuốc phóng xạ
45 phút. Bệnh nhân được ghi hình từ 1/3 trên đùi
đến đỉnh đầu. thiết bị sử dụng là PET/CT Scanners
của Siemens. Hình ảnh được xử lý bằng phần mềm
Syngo Via. Kết quả hình ảnh FDG PET/CT được
phân tích bởi 2 bác sỹ chuyên ngành y học hạt nhân
có kinh nghiệm. Phân tích đặc điểm PET/CT: kích
thước u phổi nguyên phát, giai đoạn T trên PET/CT,
giá trị SUVmax tại u phổi nguyên phát, đặc điểm
hạch di căn (N) trên PET/CT, giai đoạn bệnh đánh
giá trên PET/CT.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
Mô tả cắt ngang.
Đối tượng nghiên cứu
Xét nghiệm PD L1: Tiến hành xét nghiệm PD L1
tại Trung tâm Giải phẫu bệnh - Tế bào học, bệnh
viện Bạch Mai. Mẫu bệnh phẩm sinh thiết (bệnh
phẩm sinh thiết tại u phổi nguyên phát) được bảo
quản bằng hỗn hợp formalin - parafin. Đánh giá kết
quả: bệnh phẩm đủ tiêu chuẩn yêu cầu phải có ít
nhất 100 tế bào ung thư, tính phần trăm bằng số
lượng tế bào u bắt màu SP263 dương tính sau đó
chia cho tổng số tế bào u. Kết quả phân tích mức độ
biểu lộ PD L1 < 1% được xem là âm tính, 1% - 49%
là dương tính yếu, 50% là dương tính mạnh.
114 bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến của phổi
giai đoạn IIIb, IV.
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
BN chẩn đoán ung thư phổi biểu mô tuyến.
BN được chụp FDG PET/CT, xét nghiệm đột
biến gen EGFR, PD-L1 trước điều trị.
BN có chức năng gan thận, tủy xương bình
thường.
BN tự nguyện tham gia nghiên cứu.
BN có hồ sơ bệnh án đầy đủ.
Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS
16.0.
Các thuật toán thống kê
Tiêu chẩn loại trừ bệnh nhân
Các tham số mẫu: Trung bình, độ lệch chuẩn,
giá trị min, max.
BN UTP tế bào nhỏ, UTP không phải loại UTBM
tuyến.
So sánh các tỉ lệ: Sử dụng test so sánh 2, các
so sánh có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05. Trong
trường hợp cỡ mẫu nhỏ hơn 5 thì sử dụng test 2 có
hiệu chỉnh Fisher.
Bệnh phẩm xét nghiệm mô bệnh học được lấy
không phải tại u nguyên phát.
Bệnh nhân không xác định được khối u nguyên
phát trên PET/CT.
So sánh các giá trị trung bình: Sử dụng test
Fisher Snedecor.
BN có các mẫu bệnh phẩm sinh thiết không đủ
để thực hiện các xét nghiệm EGFR, PD-L1.
So sánh các giá trị trước và sau điều trị: Sử
dụng test Student.
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11/2018-07/2020.
Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Y học hạt nhân và
Ung Bướu Bệnh viện Bạch Mai.
Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được cho phép
của Hội đồng xét duyệt đề cương Bộ môn Y học hạt
nhân Đại học Y Hà Nội, chấp thuận nghiên cứu của
Trung tâm Y học hạt nhân và Ung Bướu, bệnh viện
Bạch Mai.
193
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
KẾT QUẢ
Bảng 1. Đặc điểm chung của bn nghiên cứu (n = 114)
Đặc điểm
Tuổi ( sd)
n
Tỷ lệ %
62,3 ± 8,5
X
Nam
72
42
54
60
63
51
49
36
29
14
21
35
44
15
17
52
30
49
65
63,2
36,8
47,4
52,6
55,3
44,7
43,0
31,6
25,4
12,3
18,4
30,7
38,6
13,2
14,9
45,6
26,3
43,0
57,0
Giới
Nữ
Có
Hút thuốc
Không
Có đột biến
Đột biến gen EGFR
Mức độ bộ lộ PDL1
Không có đột biến
Âm tính
1 - 49%
≥ 50%
T1
T2
Giai đoạn T trên PET/CT
T3
T4
N0
N1
Giai đoạn N trên PET/CT
N2
N3
IIIb
Giai đoạn sau chụp PET/CT
IV
Nhận xét: Độ tuổi trung bình của BN nghiên cứu là 62,32 ± 8,48, trong đó tỷ lệ nam nhiều hơn nữ với
63,2%, Các BN trong nghiên cứu thuộc giai đoạn tiến xa IIIb, IV trong đó giai đoạn IV chiếm ưu thế (57,0%).
Tỉ lệ đột biến gen EGFR (55,3%) cao hơn tỷ lệ không có đột biến (44,7%). Phần lớn BN nghiên cứu có kết quả
xét nghiệm PD L1 dương tính mức độ yếu và mạnh (57,0%).
SUV max (AUC=0.614)
4 yếu tố (AUC=0.676)
Độ đặc hiệu
Biểu đồ 1. Giá trị dự báo mức độ bộc lộ PD L1 của SUVmax và SUVmax kết hợp các đặc điểm giới tính,
tiền sử hút thuốc, tình trạng đột biến EGFR
194
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
Nhận xét: Sử dụng biểu đồ ROC cho thấy, diện tích dưới đường cong (AUC) của SUVmax trong chẩn
đoán PD L1 dương tính là 0,614 (p < 0,05). Kết hợp 4 yếu tố SUVmax, giới, tiền sử lá hút thuốc, tình trạng đột
biến gen EGFR cho kết quả chẩn đoán PD L1 dương tính tốt hơn, cụ thể diện tích dưới đường cong (AUC)
của 4 yếu tố là 0,676 (p < 0,05).
p=0.11
Biểu đồ 2. So sánh giá trị SUVmax tại u phổi nguyên phát với mức độ bộc lộ PD L1
(âm tính, dương tính yếu, dương tính mạnh)
Nhận xét: Không thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giá trị SUVmax của u phổi nguyên phát ở 3 nhóm
bộc lộ PD L1âm tính, dương tính yếu, dương tính mạnh (p = 0,11).
p=0.04
Biểu đồ 3. So sánh giá trị SUVmax tại u phổi nguyên phát với mức độ bộc lộ PD L1 (âm tính, dương tính)
Nhận xét: Giá trị SUVmax tại khối u phổi nguyên phát ở nhóm PD L1 dương tính cao hơn có ý nghĩa
thống kê so với nhóm PD L1 âm tính.
Bảng 2. Đặc điểm BN nghiên cứu liên quan đến mức độ bộc lộ PD L1 âm tính, dương tính
Đặc điểm
PD L1 âm tính
Dương tính
p
0,36
61,8 ± 7,8
62,7 ± 8,9
Tuổi ( sd)
X
Nam
Nữ
38 (52,8%)
11 (26,2%)
23 (42,6%)
26 (43,3%)
34 (47,2%)
31 (73,8%)
31 (57,4%)
34 (56,7%)
Giới
0,006
Có
Hút thuốc
0,9
Không
0,92
8,6 ± 8,8
7,3 ± 5,0
Kích thước u trên PET/CT ( sd)
X
T1
T2
T3
11 (78,6%)
10 (47,6%)
12 (34,3%)
3 (21,4%)
11 (52,4%)
23 (65,7%)
Giai đoạn T trên PET/CT
0,03
195
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
T4
0
16 (36,4%)
7 (46,7%)
5 (29,4%)
27 (51,9%)
10 (33,3%)
22 (33,8%)
27 (55,1%)
33 (52,4%)
16 (31,4%)
28 (63,6%)
8 (53,3%)
1
12 (70,6%)
25 (48,1%)
20 (66,7%)
43 (66,2%)
22 (44,9%)
30 (47,6%)
35 (68,6%)
Giai đoạn N trên PET/CT
0,24
0,02
2
3
IIIb
Giai đoạn sau khi chụp PET/CT
IV
Âm tính
Tình trạng đột biến gen EGFR
Dương tính
0,03
0,04
12,7 ± 7,4
15,7 ± 8,6
SUVmax tại u nguyên phát ( sd)
X
Nhận xét: Có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê về mức độ bộc lộ PD L1 ở các nhóm Giới tính, giai đoạn
T (khối u nguyên phát), giai đoạn bệnh, tình trạng đột biến gen EGFR, trong đó tỷ lệ PD L1 dương tính cao hơn
ở nữ (p = 0,006), tỷ lệ PD L1 dương tính cao hơn ở nhóm có đột biến gen EGFR (p = 0,03) và giá trị SUVmax
ở nhóm có PD L1 dương tính cao hơn có ý nghĩa so với nhóm PD L1 âm tính (p = 0,04).
Bảng 3. Đặc điểm BN nghiên cứu liên quan đến mức độ bộc lộ PD L1 theo nhóm âm tính, dương tính yếu
(1 - 49%), dương tính mạnh ( 50%)
Đặc điểm
PD L1 âm tính
1< PD L1 ≤ 49%
PD L1 ≥ 50%
p
0,48
61,8 ± 7,8
63,1 ± 9,3
62,1 ± 8,7
Tuổi ( sd)
X
Nam
Nữ
38 (52,8%)
11 (26,2%)
20 (27,8%)
16 (38,1%)
14 (19,4%)
15 (35,7%)
Giới
0,02
0,64
8,6 ± 8,8
7,6 ± 4,8
7,0 ± 5,4
Kích thước u trên PET/CT ( sd)
X
T1
11 (78,6%)
10 (47,6%)
12 (34,3%)
16 (36,4%)
7 (46,7%)
0 (0%)
3 (21,4%)
4 (19,1%)
9 (25,7%)
13 (29,6%)
4 (26,6%)
5 (29,4%)
12 (23,1%)
8 (26,7%)
9 (15,7%)
28 (34,1%)
14 (22,2%)
T2
7 (33,3%)
14 (40,0%)
15 (34,1%)
4 (26,7%)
7 (41,2%)
13 (25,0%)
12 (40,0%)
14 (24,6%)
32 (39,1%)
16 (25,4%)
Giai đoạn T trên PET/CT
0,08
0,59
T3
T4
0
Giai đoạn N
Trên PET/CT
1
5 (29,4%)
2
27 (51,9%)
10 (33,3%)
34 (59,7%)
22 (26,8%)
33 (52,4%)
3
Giai đoạn sau khi chụp PET/CT
IIIb
0,08
IV
Âm tính
Tình trạng đột biến gen EGFR
Tiền sử hút thuốc
0.075
Dương
tính
16 (31,4%)
20 (39,2%)
15 (29,4%)
Có
23 (42,6%)
26 (43,3%)
19 (35,2%)
17 (28,3%)
12 (22,2%)
17 (28,4%)
0.65
0.11
Không
12,7 ± 7,4
15,7 ± 8,3
15,7 ± 9,2
SUVmax tại u nguyên phát ( sd)
X
Nhận xét: Không có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê về mức độ bộc lộ PD L1 ở các nhóm giai đoạn T
(khối u nguyên phát), giá trị SUVmax, giai đoạn bệnh, tình trạng đột biến gen EGFR (p >0,05).
196
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
Khi so sánh mức độ hấp thu FDG tại khối u phổi
nguyên phát (SUVmax), giá trị SUVmax ở nhóm
bệnh nhân PD L1 dương tính cao hơn có ý nghĩa
thống kê so với nhóm PD L1 âm tính (p = 0,04). Khi
chia mức độ bộc lộ PD L1 thành các phân nhóm âm
tính, dương tính yếu (1 - 49%), dương tính mạnh (≥
50%) thì không thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê khi so sánh mức độ hấp thụ FDG tại khối u phổi
nguyên phát (p = 0,11). Trong nghiên cứu của
Tazuki Takada (2017) trên các bệnh nhân được
phẫu thuât, trong đó phần lớn bệnh nhân ung thư
biểu mô tuyến (441/579) cho thấy SUVmax tại khối u
phổi nguyên phát ở nhóm PD L1 dương tính cao
hơn có ý nghĩa so với nhóm âm tính, kết quả của
nghiên cứu này cũng chỉ ra mức độ bộc lộ PD L1
cao và SUVmax cao liên quan âm tính với kết quả
phẫu thuật ở bệnh nhân ung thư biểu mô vảy trong
nghiên cứu14. Một nghiên cứu khác trên nhóm BN
ung thư phổi biểu mô vảy được phẫu thuật không
cho thấy sự khác biệt rõ rệt giá trị SUVmax tại khối u
nguyên phát giữa nhóm PD L1 âm tính và dương
tính. Mức độ bộc lộ PD L1 và giá trị SUVmax tại u
nguyên phát có liên quan với độ biệt hóa của mô
bệnh học, tình trạng hạch di căn (N). Tuy nhiên
nghiên cứu này được thực hiện trên số lượng BN ít
hơn so với nghiên cứu của Tazuki Takada15. Kết quả
nghiên cứu của Yan Cui và cộng sự cũng cho thấy
sự khác biệt có ý nghĩa giữa giá trị SUVmax, TLG
(total lesion glycolysis), GLUT 1 ở nhóm PD L1 âm
tính (< 5%) và dương tính trong khi MTV (metabolic
tumor volume) tại u nguyên phát không cho thất sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê ở hai nhóm PD L1 âm
tính và dương tính16. Nghiên cứu trên 763 bệnh
nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ, Yang Wang và
cộng sự cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa giữa
SUVmax và mức độ bộc lộ PD 1 (p = 0,003) và
PD L1. (p = 0,012). Giai đoạn bệnh, SUVmax, MTV,
TLG, PD L1 cũng cho thấy mối liên quan với thời
gian sống toàn bộ (OS: overall survival)17.
BÀN LUẬN
Nghiên cứu 114 bệnh nhân ung thư biểu mô
tuyến của phổi giai đoạn IIIB, IV từ tháng 11 năm
2018 đến tháng 8 năm 2020. Kết quả nghiên cứu
cho thấy độ tuổi trung bình của BN nghiên cứu là
62,3 ± 8,5, trong đó độ tuổi thường gặp là từ 50 - 70
tuổi. Tỉ lệ nam nhiều hơn nữ tương ứng là 63,2% và
36,8%. Kết quả này cũng phù hợp với đặc điểm
bệnh nhân nghiên cứu của các tác giả khác như
Phạm Văn Thái (2014) và Đinh Thị Nguyệt
(2018)11,12. Các bệnh nhân nghiên cứu thuộc giai
đoạn IIIb và giai đoạn IV tương ứng chiếm. 43,0% và
57,0%, với đặc điểm khối u nguyên phát tương ứng
T1, T2, T3, T4 lần lượt là 12,3%, 18,4%, 30,7% và
38,6%. Trong khi đó Đinh Thị Nguyệt (2018) T1 là
10,9%, T2 là 23,6% T3 là 17,8%, T4 là 47,7%.
Do nghiên cứu của chúng tôi chỉ tiến hành trên nhóm
bệnh nhân giai đoạn IIIb, IV do đó giai đoạn T3 và
T4 đánh giá trên PET/CT chiếm ưu thế trong nghiên
cứu của chúng tôi12. Tỷ lệ đột biến gen EGFR dương
tính (55,26%) cũng cao hơn so với nhóm âm tính
(44,74%) cũng tương đồng với kết quả nghiên cứu
của Mai Trọng Khoa và cộng sự trong nghiên cứu
PIONEER (2014) có tỉ lệ đột biến gen EGFR là
62,5% ở BN Việt Nam13.
Tỷ lệ bệnh nhân có bộc lộ PD L1 là 77,0% trong
đó có 31,6% bên nhân dương tính yếu (1 - 49%) và
25,4% dương tính mạnh (50%). Khi so sánh mối
liên quan giữa mức độ bộc lộ PD L1 giữa các nhóm
đối tượng theo các đặc điểm giới tính, tiền sử hút
thuốc lá, giai đoạn bệnh, đặc điểm khối u nguyên
phát (T) đánh giá trên PET/CT, đặc điểm hạch vùng
(N) đánh giá trên PET/CT, tình trạng đột biến gen
EGFR, tìm thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
giữa nhóm PD L1 âm tính và dương tính theo các
đặc điểm giới tính (p = 0,006), đặc điểm khối u
nguyên phát (p = 0,03), giai đoạn bệnh (p = 0,02),
tình trạng đột biến gen EGFR (p = 0,03) trong đó tỷ
lệ bộc lộ PD L1 ở nữ cao hơn nam, giai đoạn T càng
cao thì tỷ lệ dương tính với PD L1 càng cao. Tỷ lệ
PD L1 dương tính cao hơn ở nhóm có đột biến gen
EGFR. Giá trị SUVmax ở nhóm PD L1 dương tính
cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm PD L1 âm
tính. Tuy nhiên khi phân tích dưới nhóm mức độ bộc
lộ PD L1 theo ba phân nhóm âm tính, dương tính
yếu (1 - 49%), dương tính mạnh (≥ 50%) thì chỉ có
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ bộc lộ
PD L1 theo đặc điểm giới tính. Nghiên cứu của
Tazuki Takada (2017) trên 579 bệnh nhân ung thư
phổi được phẫu thuật cho thấy tiền sử hút thuốc,
tình trạng xâm lấn màng phổi, mức độ hấp thu FDG
tại khối u nguyên phát (SUVmax) có mối liên quan
đến mức độ bộc lộ PD L114.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
SUVmax tại u phổi nguyên phát có giá trị dự báo tình
trạng bộc lộ PD L1, diện tích dưới đường cong AUC
= 0,614 (p < 0,05). Khi kết hợp với các đặc điểm giới
tính, tiền sử hút thuốc lá, tình trạng đột biến gen
EGFR cho giá trị dự đoán mức độ bộc lộ PD L1 cao
hơn với AUC = 0,676 (p < 0,05). Nghiên cứu trên
73 bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến của phổi, kết
quả củaYan Cui và cộng sự cũng cho thấy SUVmax
có giá trị dự báo mức độ bộc lộ PD L1 (AUV = 0.855
(95% CI, 0.764 - 0.947, P < 0.0001), cho giá trị
cut off SUVmax là 9,5 cho giá trị dự báo với độ nhạy
là 76,7% và độ đặc hiệu là 88,4%16.
197
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
KẾT LUẬN
regulatory T-cell infiltration of breast cancer and
poor prognosis of patient. J Cancer. 2016; 7:
784-793.
Nghiên cứu 114 bệnh nhan ung thư biểu mô
tuyến của phổi giai đoạn IIIb, IV được chụp FDG
PET/CT, xét nghiệm PD L1 trước điều trị từ 11/2018
đến 07/2020 tại trung tâm Y học hạt nhân và Ung
Bướu, bệnh viện Bạch Mai chúng tôi có một số kết
luận sau:
7. Li Y, Liang L, Dai W, Cai G, et al. Prognostic
impact of programed cell death-1 (PD-1) and
PD-ligand 1 (PD-L1) expression in cancer cells
and tumor infiltrating lymphocytes in colorectal
cancer. Mol Cancer. 2016;15:55.
Độ tuổi trung bình 62,3 ± 8,4, tỷ lệ nam (63,2%)
nữ (36,8%), giai đoạn IIIb (42,98%) và giai đoạn IV
(57,0%). Tỉ lệ đột biến gen EGFR và tỷ lệ không có
đột biến tương ứng 55,3% và 44,7%. Có 43,0%
bệnh nhân nghiên cứu không bộc lộ PD L1, 57,0%
BN nghiên cứu có kết quả xét nghiệm PD L1 dương
tính mức độ yếu và mạnh.
8. Calderaro J, Rousseau B, Amaddeo G, et
al.Programmed death ligand 1 expression in
hepatocellular carcinoma: relationship with
clinical and pathological features. Hepatology.
2016; 64:2038-2046.
9. Takamochi, K., et al. (2017), Correlation of
EGFR or KRAS mutation status with 18F-FDG
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm
PD L1 âm tính và dương tính theo các đặc điểm
giới tính (p = 0,006), đặc điểm khối u nguyên phát
(p = 0,03), giai đoạn bệnh (p = 0,02), tình trạng đột
biến gen EGFR (p = 0,03). Giá trị SUVmax tại u
nguyên phát ở nhóm PD L1 dương tính cao hơn có
ý nghĩa thống kê so với nhóm âm tính (p = 0,04).
uptake
on
PET-CT
scan
in
lung
adenocarcinoma.PLoS One, 2017; 12(4): p.
e0175622.
10. Na, II, et al. 18F-FDG uptake and EGFR
mutations in patients with non-small cell lung
cancer:
a
single-institution
retrospective
Diện tích dưới đường cong (AUC) của SUV
max trong dự đoán PD L1 dương tính là 0,614
(p < 0,05). Kết hợp 4 yếu tố SUV max, giới, tình
trạng hút thuốc, tình trạng đột biến gen EGFR AUC
của 4 yếu tố là 0,676 (p <0,05).
analysis.Lung Cancer, 2010; 67(1): p.76-80.
11. Đinh Thị Nguyệt và Trần Hoàng Thành (2018).
Tìm hiểu mối liên quan giữa lâm sàng, cận lâm
sàng với tình trạng di căn xương trong ung thư
phổi không tế bào nhỏ, Luận văn thạc sĩ y học,
Trường Đại học Y Hà Nội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. World Health Organization. Globocan (2018):
Estimated cancer incidence, mortality and
12. Phạm Văn Thái (2014). Nghiên cứu hiệu quả
điều trị ung thư phổi di căn não bằng hóa xạ trị,
Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội.
prevalence
<globocan.iarc.fr/pages/online.aspx>,
9/11/2018.
worldwide
in
2018,
xem
13. Shi Y., Au J.S., Thongprasert S., et al. A
prospective, molecular epidemiology study of
EGFR mutations in Asian patients with advanced
non-small-cell lung cancer of adenocarcinoma
histology (PIONEER), J Thorac Oncol. 2014;
9(2), 154-162.
2. Nguyễn Bá Đức, Bùi Công Toàn, Trần Văn
Thuấn Ung thư phổi. Chẩn đoán và điều trị bệnh
ung thư, Nhà Xuất bản Y học. 2007; Hà Nội,
176-187.
3. Brahmer J, Reckamp KL, Baas P, et al.
Nivolumab versus docetaxel in advanced
squamous-cell non-small-cell lung cancer. N
Engl J Med. 2015; 373:123 - 135.
14. Tazuki Takada, Gouji Toyokawa, at al. Metabolic
characteristics of programmed cell death-ligand
1-expressing
fluorodeoxyglucose
tomography/computed
lung
cancer
positron
on
18F-
emission
tomography. Cancer
4. Zou W, Wolchok JD, Chen L. PD-L1 (B7-H1) and
PD-1 pathway blockade for cancer therapy:
Medicine. 2017; 6 (11): 2552-2561.
mechanisms,
combinations. Sci Transl Med. 2016; 8:328rv324.
response
biomarkers,
and
15. Minghui Zhang, Dalong Wang. Prognostic
significance of PD-L1 expression and 18F-FDG
PET/CT in surgical pulmonary squamous cell
carcinoma. Oncotarget. 2017; vol 8, (No. 31),
51630 - 51640.
5. Scheel AH, Ansen S, Schultheis AM, et al.
(2016). PD-L1 expression in non-small cell lung
cancer: correlations with genetic alterations.
Oncoimmunology. 2016; 5:e1131379.
16. Yan Cui. PD-L1 in Lung Adenocarcinoma:
Insights into the Role of 18F-FDG PET/CT.
Cancer Manag Res. 2020; 12: 6385-6395.
6. Li Z, Dong P, Ren M, Song Y, et al. PD-L1
expression is associated with tumor FOXP3(+)
198
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
17. Yang Wang. New insight on the correlation of
metabolic status on 18 F-FDG PET/CT with
immune marker expression in patients with non-
small cell lung cancer. Eur J Nucl Med Mol
Imaging. 2020; May; 47(5):1127-1136.
199
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1
ABSTRACT
The role of positron emission tomography (PET)/ computed tomography (CT) in the expression of
tumor programmed death Ligand-1 (PD-L1) in patients with adenocarcinoma lung cancer.
Objective(s): To evaluate the prognostic significance of FDG PET/CT at different PD-L1 status level
expressions in patients with adenocarcinoma lung cancer.
Subjects and research methods: 114 patients with stage IIIb, IV of adenocarcinoma lung cancer were
scanned with FDG PET/ CT and tested for PD L1 before treatment from November 2018 to July 2020.
Results: Average age 62.3 ± 8.4, sex (male/female: 63,2%/ 36,8%), stage IIIb (42.98%) and stage IV
(57.0%). The rate of EGFR gene mutation and the rate without mutation was 55.3% and 44.7%, respectively.
There were 43.0% of study patients do not reveal PD L1, 57.0% of study patients had positive results of PD L1.
There was a statistically significant difference between the negative PD L1 group and positive PD L1 group by
sex characteristics (p = 0.006), primary tumor trait (p = 0.03), stage of disease (p = 0.02), EGFR gene mutation
(p = 0.03). The value of SUVmax at the primary tumor in the positive PD L1 group was statistically significantly
higher than the negative group (p = 0.04). The area under the curve (AUC) of the SUVmax in the prediction of
positive PD L1 was calculated as 0.614 (p < 0.05), while a combination of 4 factors, SUV max, sex, smoking
status, and EGFR gene mutation were better independent prognostic indicator with AUC = 0.676.
Conclusion: The FDG PET/CT results were valuable in predicting PD L1 status expression in patients with
adenocarcinoma lung cancer.
Keyword: Lung cancer, Adenocarcinoma, FDG PET/CT, PD L1.
200
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá mối liên quan giữa FDG PET/CT và bộc lộ PD L1 ở bệnh nhân ung thư phổi biểu mô tuyến", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
danh_gia_moi_lien_quan_giua_fdg_petct_va_boc_lo_pd_l1_o_benh.pdf

