Đánh giá kết quả hóa trị bổ trợ phác đồ 4AC+4T trên bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II, IIIA hạch nách dương tính tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh
Đánh giá kết quả hóa trị BbổệnthrợvpiệhnáTcrđuồn4gAưCơn+g4HTu..ế.
Nghiên cứu
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HÓA TRỊ BỔ TRỢ PHÁC ĐỒ 4AC + 4 T
TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ VÚ GIAI ĐOẠN II, IIIA HẠCH
NÁCH DƯƠNG TÍNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH HÀ TĨNH
Võ Văn Phương1*, Nguyễn Văn Khoa1, Trần Thị Thanh Hoa1
DOI: 10.38103/jcmhch.2020.65.6
TÓM TẮT
Mục tiêu: (1) Đánh giá kết quả hóa trị bổ trợ phác đồ 4AC + 4T trên bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II,
IIIA hạch nách dương tính. (2) Nhận xét một số tác dụng không mong muốn của phác đồ.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu và tiến cứu có theo dõi dọc trên 39
bệnh nhân nữ mắc UTV giai đoạn II, IIIA được phẫu thuật cắt tuyến vú và vét hạch nách triệt căn biến đổi,
có hạch nách dương tính được điều trị hóa chất bổ trợ phác đồ 4AC + 4T tại Bệnh viện tỉnh Hà Tĩnh từ tháng
1 năm 2013 đến tháng 6 năm 2019.
Kết quả: Sống còn toàn bộ tích lũy là 83,6%. Sống còn không bệnh tích lũy là 75,6%. Sống còn không
bệnh và sống còn toàn bộ giảm dần theo sự tăng lên của kích thước u, hạch di căn càng nhiều thì sống
còn càng giảm, thụ thể ER và/PR (+) có tiên lượng tốt hơn (-), bệnh ở giai đoạn II tốt hơn giai đoạn IIIA
(p<0,05). Độc tính chủ yếu của phác đồ 4AC + 4T: Tỉ lệ hạ bạch cầu là 64,1%, hạ độ 3,4 là 10,1%. Tỉ lệ hạ
bạch cầu hạt là 61,5%, hạ độ 3,4 là 7,6%. Tỉ lệ hạ huyết sắc tố là 51,3%, hạ độ 3,4 là 7,6%. Tỉ lệ hạ tiểu cầu
là 17,9%, không có hạ độ 3,4. Tỉ lệ tăng men gan là 43,6%, nhưng không gặp tăng độ 3,4. Tăng Creatinin
máu chỉ gặp độ 1 với tỉ lệ 5,1%. Nôn và buồn nôn chiếm 87%, viêm miệng 30,8%, tiêu chảy là 38,4%, đau
cơ 87%, rối loạn thần kinh ngoại vi 74,4%, phù ngoại vi 38,5%.
Kết luận: Phác đồ 4AC + 4T mang lại hiệu quả cao trong điều trị ung thư vú bổ trợ có hạch nách dương
tính và độc tính ở mức độ chấp nhận được.
Từ Khóa: Ung thư vú, hóa trị bổ trợ 4AC + 4T, Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh.
ABSTRACT
EFFECTIVENESS AND TOXICITY OF 4AC + 4T REGIMEN AS ADJUVANT CHEMO-
THERAPY FOR STAGE II, IIIA BREAST CANCER PATIENTS WITH AXILLARY LYMPH
NODE POSITIVE AT HA TINH GENERAL HOSPITAL
Vo Van Phuong1*, Nguyen Van Khoa1, Tran Thi Thanh Hoa1
Objectives: (1) Evaluate the efficacy of 4AC+4T regimen as adjuvant chemotherapy for stage II, IIIA
breast cancer patients with axillary lymph node positive. (2) Describe toxicity of the regimen.
1 Khoa Ung bướu – Y học hạt nhân, Bệnh - Ngày nhận bài (Received): 30/9/2020; Ngày phản biện (Revised): 05/10/ 2020;
viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh
- Ngày đăng bài (Accepted): 04 /12 /2020
- Người phản hồi (Corresponding author): Võ Văn Phương
36
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
Bệnh viện Trung ương Huế
Methods: Retrospective and prospective descriptive longitudinal study, in 39 stage II-III breast cancer
patients with lymph node positive underwent modified radical mastectomy and axillary lymph node dissec-
tion, treated with 4AC + 4T regimen at Ha Tinh General Hospital from January 2013 to June 2019.
Results: Overall survival was 83.6%. Disease-free survial was 75.6%. DFS and OS are inversely pro-
portional to tumor size, the number of metastatic lymph nodes, ER and/PR positive have a better prognosis
than ER/PR negative, stage II disease have better prognosis than stage IIIA (p<0.05). Toxicities of AC+4T:
Leukopenia in 64.1% of patients, with 10,1% was grade 3, 4. Neutropenia in 61.5% of patients, with 7,6%
was grade 3, 4. Hypopigmentation in 51.3% of patients, with 7,6% was grade 3, 4. Thrombocytopenia in
17.9% of patients. Transaminase elevation in 43.6% of patients, no seen grade 3, 4. Increased blood
creatinine was only recorded at grade 1 at 5.1%. Vomiting and nausea 87%, stomatitis 30.8%, diarrhea
38.4%, muscle pain 87%, peripheral neuropathy 74.4% peripheral edema 38.5%.
Conclusion: The 4AC + 4T regimen shows high efficacy and a acceptable toxicity in the treatment of
stage II, IIIA breast cancer with axillary lymph node positive.
Key words: Breast cancer, 4AC+4T adjuvant chemotherapy, Ha Tinh General Hospital.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tại Việt Nam ung thư vú (UTV) là bệnh lý ác
tính đứng hàng đầu ở nữ giới với khoảng 15.229
trường hợp mới mắc và 6.103 ca tử vong [1]. Tỉ
lệ mắc đang có xu hướng gia tăng nhưng tỉ lệ tử
vong lại có xu hướng giảm nhờ những thành tựu
đạt được trong phòng bệnh, phát hiện sớm và điều
trị, đặc biệt là các tiến bộ trong điều trị hệ thống
[2]. Đối với UTV giai đoạn IIIA trở xuống thì phẫu
thuật là phương pháp được lựa chọn đầu tiên, hóa
trị bổ trợ sau phẫu thuật giúp đề phòng bệnh tái
phát. Phác đồ bổ trợ 4AC+4T (là phác đồ phối hợp
3 loại hóa chất: Doxorubicin, Cyclophosphamid x
4 chu kỳ + Paclitaxel x 4 chu kỳ) trên bệnh nhân
UTV đã được nhiều nghiên cứu chứng minh là
hiệu quả cải thiện thời gian sống còn không bệnh
và giảm tỉ lệ tái phát với độc tính chấp nhận được
[3]. Phác đồ này đã được áp dụng tại Bệnh viện
đa khoa tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2013 đến nay, tuy
nhiên chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả
của phác đồ. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu này nhắm đến 2 mục tiêu:
2.1. Đối tượng nghiên cứu: 39 bệnh nhân nữ
mắc UTV giai đoạn II, IIIA được phẫu thuật cắt
tuyến vú và vét hạch nách triệt căn biến đổi, có hạch
nách dương tính được hóa trị bổ trợ phác đồ 4AC +
4T tại Bệnh viện tỉnh Hà Tĩnh từ tháng 1 năm 2013
đến tháng 6 năm 2019.
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi cứu
và tiến cứu có theo dõi dọc, lấy mẫu toàn bộ.
2.3. Các bước tiến hành: Chẩn đoán UTV giai
đoạn II, IIIA theo AJCC 2010; Phẫu thuật cắt tuyến
vú và vét hạch nách triệt căn biến đổi; Hóa trị bổ
trợ phác đồ 4AC+4T; Các điều trị chuẩn tiếp theo;
Đánh giá hiệu quả và tác dụng phụ của phác đồ sau
điều trị.
2.4. Xử lý số liệu: Phần mềm SPSS 22.0. Sử
dụng các thuật toán thống kê mô tả. Khảo sát sống
còn bằng phương pháp Kaplan-meier và kiểm định
test Log-rank với p < 0,05 được xác định là có ý
nghĩa thống kê.
2.5. Đạo đức nghiên cứu: Đối tượng tham gia
là hoàn toàn tự nguyện. Các thông tin về tình trạng
bệnh và thông tin cá nhân khác của bệnh nhân được
giữ bí mật. Nghiên cứu không làm ảnh hưởng đến
kết quả điều trị của bệnh nhân.
(1). Đánh giá kết quả hóa trị bổ trợ phác đồ
4AC+4 T trên bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II,
IIIA hạch nách dương tính.
(2). Nhận xét một số tác dụng không mong muốn
của phác đồ.
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
37
Đánh giá kết quả hóa trị BbổệnthrợvpiệhnáTcrđuồn4gAưCơn+g4HTu..ế.
III. KẾT QUẢ
3.1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Tuổi trung bình là 51,9 ± 3,1; Độ tuổi hay gặp
50 - 59; Phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu ở
giai đoạn II (76,9%); Vị trí một phần tư trên ngoài
thường gặp nhất, chiếm 48,7%; Kích thước u ≤ 5 cm
chiếm đa số (69,2%); Số bệnh nhân có tỉ lệ di căn từ
1-3 hạch là nhiều nhất chiếm 64,1%; Độ mô học 2
chiếm tỉ lệ cao nhất 61,5%; Có 2/3 bệnh nhân có thụ
thể ER và/hoặc PR dương tính.
3.2. Đánh giá kết quả của phác đồ hóa trị bổ
trợ 4 AC + 4 T
3.2.1. Sống còn không bệnh (DFS) tích lũy
theo thời gian
Biểu đồ 1: Sống còn không bệnh tích lũy
theo thời gian
Trong số 39 bệnh nhân nghiên cứu, có 4 bệnh
nhân tái phát hoặc di căn. Bệnh nhân được điều trị
đầu tiên tháng 3 năm 2013, với thời gian theo dõi
trung bình 43 tháng, thời gian theo dõi dài nhất gần
71 tháng. Trong đó có một bệnh nhân tái phát tại
chỗ sau phẫu thuật, 2 bệnh nhân tái phát di căn hạch
xa, 1 bệnh nhân tái phát di căn xương.
Trung bình thời gian sống còn không bệnh ước
tính theo Kaplan Meier: 64,2 ± 2,1 tháng (95% CI:
60,0-68,4). Tỉ lệ sống còn không bệnh tích lũy 1
năm, 2 năm, 3 năm, 4 năm, 5 năm tương ứng là:
100%; 100%; 97%; 86,4%; 75,6%.
3.2.2. Sống còn không bệnh theo một số đặc điểm bệnh nhân
Bảng 1: Sống còn không bệnh theo một số đặc điểm bệnh nhân
DFS
Trung bình DFS
(tháng)
Đặc điểm
Kích thước u
Số bn
p (Log-rank test)
n
%
≤ 5cm
27
12
26
9
96,3
75,0
67,5 ± 1,4
48,9 ± 2,6
0,002
> 5cm
Di căn hạch
1-3 hạch
25
14
24
96,0
78,6
67,5 ± 1,4
48,7 ± 2,4
0,002
0,002
0,438
0,002
4-9 hạch
11
ER, PR
ER và/PR (+)
ER và/PR (-)
HER 2
26
13
25
10
96,2
76,9
67,5 ± 1,4
48,9 ± 2,6
HER 2 (+)
HER 2 (-)
Giai đoạn
Giai đoạn II
Giai đoạn IIIA
15
24
14
21
93,3
87,5
66,5 ± 2,3
58,6 ± 2,2
30
9
29
6
96,7
66,7
67,2 ± 1,5
49,5 ± 4,6
Kích thước u; Số lượng hạch di căn; Thụ thể nội tiết ER, PR và giai đoạn bệnh có mối liên quan có ý
nghĩa thống kê với thời gian sống còn không bệnh.
3.2.3. Sống còn toàn bộ (OS) tích lũy theo thời gian
Kết thúc theo dõi vào thời điểm tháng 6 năm 2019 có 3 bệnh nhân tử vong.
38
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
Bệnh viện Trung ương Huế
Trung bình thời gian sống còn toàn bộ
ước tính theo Kaplan Meier: 65,4 tháng (95%
CI: 61,6-69,1). Tỉ lệ sống còn toàn bộ 1 năm,
2 năm, 3 năm, 4 năm, 5 năm tương ứng là:
100%; 100%; 96,6%; 92%; 83,6%.
Biểu đồ 2: Sống còn
toàn bộ tích lũy
theo thời gian
3.2.4. Sống còn toàn bộ theo các đặc điểm của bệnh nhân
Bảng 2: Kết quả sống còn toàn bộ theo các đặc điểm của bệnh nhân
OS
Trung bình OS
(tháng)
Đặc điểm
Kích thước u
Số bn
p (Log-rank test)
n
%
≤ 5cm
27
12
26
10
96,3
83,3
67,5 ± 1,4
50,1 ± 2,3
0,049
> 5cm
Di căn hạch
1-3 hạch
25
14
24
12
96,0
85,7
67,6 ± 1,3
49,6 ± 2,1
0,030
0,041
0,139
0,007
4-9 hạch
ER, PR
ER và/PR (+)
ER và/PR (-)
HER 2
26
13
25
96,2
84,6
67,5 ± 1,4
49,8 ± 2,5
11
HER 2 (+)
HER 2 (-)
Giai đoạn
Giai đoạn II
Giai đoạn IIIA
15
24
15
21
100
63,8 ± 2,4
59,0 ± 2,0
87,5
30
9
28
6
96,7
77,8
67,5 ± 1,4
51, ± 5,1
Kích thước u; Số lượng hạch di căn; ER, PR và giai đoạn bệnh có mối liên quan với thời gian sống còn
toàn bộ.
3.3. Một số độc tính của phác đồ 4AC + 4T (Theo CTCAE năm 2010) [6]
Bảng 3: Bảng đánh giá độc tính theo tiêu chuẩn CTCAE 2010
Độ 1
Độ 2
Độ 3
Độ 4
Chung
%
Độc tính
n
14
13
12
6
%
n
7
8
5
1
4
0
%
17,9
20,5
12,8
2,5
n
3
2
2
0
0
0
%
7,6
5,1
5,1
0
n
1
1
1
0
0
0
%
2,5
2,5
2,5
0
Hạ bạch cầu
Hạ BC hạt
Hạ Hb
39,5
33,3
30,7
15,1
33,3
5,1
64,1
61,5
51,3
17,9
43,6
5,1
Hạ TC
Gan
13
2
10,2
0
0
0
Thận
0
0
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
39
Đánh giá kết quả hóa trị bBổệntrhợvpihệnácTđruồn4gAưCơn+g4HTu..ế.
Các độc tính trên hệ tạo huyết gặp nhiều nhất và nặng nhất là hạ bạch cầu và bạch cầu hạt. Tăng men gan
gặp 43,6% nhưng chỉ gặp độ 1 và 2, Độc tính trên thận ít gặp.
Bảng 4: Đánh giá độc tính ngoài hệ tạo huyết theo tiêu chuẩn CTCAE 2010
Độ 0
Độ 1
Độ 2
Độ 3
Chung
%
Độc tính
n
4
%
n
%
n
10
2
%
25,6
5,1
n
0
0
0
1
1
0
%
0
Nôn, buồn nôn
Viêm miệng
Ỉa chảy
10,3
69,2
61,5
10,3
25,6
61,5
25
10
10
29
0
61,4
25,7
25,6
74,4
0
87
27
24
4
0
30,8
38,4
87
5
12,8
12,8
71,8
0
0
Đau cơ
5
2,5
2,5
0
RLTK ngoại vi
Phù ngoại vi
10
24
28
0
74,4
38,5
15
38,5
Nôn, buồn nôn, viêm miệng chỉ gặp độ 1, 2 không có bệnh nhân nào gặp độ 3, 4. Các độc tính rối loạn
thần kinh ngoại vi và đau cơ gặp đa số, ngoài độ 1, 2 là chủ yếu còn gặp cả độ 3. Phù ngoại vi gặp 38,5%,
nhưng tất cả chỉ ở độ 1.
bình 43 tháng. Trong đó có một bệnh nhân tái phát
IV. BÀN LUẬN
tại chỗ sau phẫu thuật, 2 bệnh nhân tái phát di căn
4.1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
hạch xa, 1 bệnh nhân tái phát di căn xương. Tỉ lệ
Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu trong
sống còn không bệnh tích lũy 1 năm, 2 năm, 3
nghiên cứu này khá tương đồng với một số nghiên
năm, 4 năm, 5 năm tương ứng là: 100%; 100%;
cứu của các tác giả khác tại Việt Nam khi nghiên
97%; 86,4%; 75,6%. Tỉ lệ sống còn toàn bộ 1 năm,
cứu về điều trị hóa chất bổ trợ trong ung thư vú. Tuy
2 năm, 3 năm, 4 năm, 5 năm tương ứng là: 100%;
nhiên nghiên cứu của chúng tôi có một vài điểm
100%; 96,6%; 92%; 83,6%. Theo Đ.T.K. Anh tỉ
khác biệt, chẳng hạn như tuổi trung bình của bệnh
lệ sống còn không bệnh sau 1 năm, 2 năm, 3 năm,
nhân trong nghiên cứu của chúng tôi là 52 tuổi, độ
4 năm tương ứng là 90,6%; 79,1%; 77%; 73,4%.
tuổi gặp nhiều nhất là 50-59. Tuổi trung bình cao
Tỉ lệ sống còn toàn bộ sau 1 năm, 2 năm, 3 năm,
hơn so với nghiên cứu của tác giả Đ.T.K. Anh là
4 năm tương ứng là 98,1%; 94,3%; 87,8%; 84,1%
45,7 tuổi [4]. Tác giả N.T. Sang là 49 tuổi [5], có thể
[4]. Tỉ lệ sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ
nói tuổi hay gặp UTV những năm gần đây cao hơn
thấp hơn kết quả của chúng tôi tuy nhiên điều này
so với trước.
có thể lý giải được do giai đoạn bệnh muộn hơn
4.2. Hiệu quả điều trị của phác đồ 4AC - 4 T
so với chúng tôi. Theo N. T. Huyền khi đánh giá
4.2.1. Hiệu quả sống còn không bệnh và sống
kết quả hóa trị bổ trợ phác đồ 4AC+4T có kết hợp
còn toàn bộ
trastuzumab trên bệnh nhân ung thư vú giai đoạn
Nghiên cứu của chúng tôi trên 39 bệnh nhân
II, III có Her 2 neu dương tính cho kết quả tỉ lệ
UTV giai đoạn II, IIIA sau khi đã được phẫu thuật
sống còn không bệnh 1 năm, 2 năm, 3 năm, 4 năm,
5 năm tương ứng là: 100%; 98,4%; 95,2%; 92,1%;
92,1%. Tỉ lệ sống còn toàn bộ 1 năm, 2 năm, 3
năm, 4 năm, 5 năm tương ứng là: 100%; 100%;
100%; 98,4%; 98,4% [7]. Kết quả này cao hơn rõ
rệt so với nghiên cứu của chúng tôi. Có thể nói việc
cắt tuyến vú và vét hạch nách triệt căn biến đổi
được điều trị hóa chất bổ trợ phác đồ 4AC×4 chu
kỳ sau đó 4 chu kỳ Paclitaxel, kết thúc hóa trị
bệnh nhân được tiếp tục điều trị khác theo phác
đồ chuẩn. Trong số 39 bệnh nhân nghiên cứu, tính
đến thời điểm kết thúc nghiên cứu tháng 6 năm
2019 có 4 bệnh nhân tái phát hoặc di căn. Bệnh bổ sung Tratuzumab vào phác đồ đã cải thiện đáng
nhân được theo dõi dài nhất gần 71 tháng, trung kể thời gian sống còn cho bệnh nhân.
40
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
Bệnh viện Trung ương Huế
4.2.2. Thời gian sống còn và một số đặc điểm
của bệnh nhân
triển của thuốc tăng trưởng bạch cầu và tăng trưởng
hồng cầu thì độc tính hạ bạch cầu và hạ huyết sắc tố
đã được giải quyết.
Chúng tôi phân tích sống thêm không bệnh và
sống còn toàn bộ bằng phương pháp Kaplan - Maier
với một số yếu tố như tuổi, kích thước u, giai đoạn
bệnh, độ mô học, tình trạng di căn hạch… Cho thấy:
Kích thước u càng lớn thì sống còn càng giảm, u ≤
5cm có trung bình thời gian sống còn không bệnh là
67,5 ± 1,4 tháng, u trên 5cm là 48,9± 2,6 tháng, p <
0,05. Trung bình thời gian sống còn toàn bộ nhóm
u ≤ 5cm là 67,5 ± 1,4 tháng, nhóm u > 5cm: 50,1 ±
2,3 tháng, với p < 0,05; Di căn hạch càng nhiều thì
thời gian sống còn càng giảm, di căn từ 1-3 hạch có
trung bình thời gian sống còn không bệnh là 67,5 ±
1,4 tháng, trên 3 hạch là 48,7 ± 2,4 tháng, p < 0,05,
thời gian sống còn toàn bộ thì nhóm di căn từ 1-3
hạch có thời gian sống còn toàn bộ trung bình 67,6
± 1,3, tháng nhóm di căn từ 4-9 hạch là 49,6 ± 2,1
tháng, với p < 0,05; Thụ thể nội tiết ER, PR (+) có
tiên lượng tốt hơn so với âm tính, sống còn không
bệnh trung bình nhóm ER và/hoặc PR (+) là 67,5
± 1,4 tháng, trái lại ở nhóm ER PR(-) là 48,9 ± 2,6
tháng, p < 0,05. Sống còn toàn bộ trung bình nhóm
ER và/PR (+) là 63,8 ± 2,4 tháng, nhóm ER PR (-)
là 59,0 ± 2,0 tháng, với p < 0,05. Trong nghiên cứu
phân tích gộp B-31/N9831 (2011) các tác giả cho
thấy mối liên quan về sống thêm không bệnh với
một số yếu tố như kích thước u, tình trạng di căn
hạch nách, độ mô học [8].
4.3.2. Độc tính ngoài hệ tạo huyết
Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả tỉ lệ bệnh
nhân có tăng men gan là 43,6%. Các thuốc hóa
chất được dùng trong nghiên cứu chủ yếu được
chuyển hóa qua gan và thải trừ qua thận. Trong
đó, doxorubicin được chuyển hóa ở gan nhờ men
cyt.P450 và được thải trừ tới 50% qua đường mật.
Nghiên cứu này tỉ lệ bệnh nhân có tăng men gan là
43,6%, nhưng chỉ gặp độ 1, độ 2 không gặp độ 3, độ
4 và chủ yếu xảy ra ở chu kỳ cuối của quá trình điều
trị nên không có bệnh nhân nào phải ngừng điều trị
vì tăng men gan. Độc tính trên thận hầu như không
có chỉ có 5,1% tăng Creatinin máu độ 1, không có
bệnh nhân nào phải giảm liều và ngừng điều trị vì
độc tính này.
V. KẾT LUẬN
1. Kết quả phác đồ hóa trị bổ trợ 4AC + 4T
Tỉ lệ sống còn toàn bộ tích lũy là 83,6%. Tỉ lệ
sống còn không bệnh tích lũy là 75,6%. Thời gian
sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ giảm dần
theo sự tăng lên của kích thước u, hạch di căn càng
nhiều thì sống còn càng giảm, ER và/PR (+) có tiên
lượng tốt hơn ER và/PR (-), giai đoạn II tốt hơn giai
đoạn IIIA.
2. Một số tác dụng không mong muốn của
phác đồ 4AC + 4T
4.3. Một số tác dụng không mong muốn của
phác đồ
Tỉ lệ hạ bạch cầu là 64,1%, hạ độ 3,4 là 10,1%.
Tỉ lệ hạ bạch cầu hạt là 61,5%, hạ độ 3,4 là 7,6%.
Tỉ lệ hạ huyết sắc tố là 51,3%, hạ độ 3,4 là 7,6%.
Tỉ lệ hạ tiểu cầu là 17,9%, không có hạ độ 3,4. Tỉ lệ
tăng men gan là 43,6%, nhưng chỉ có tăng độ 1,2.
Tăng Creatinin máu chỉ gặp độ 1 với tỉ lệ 5,1%. Nôn
và buồn nôn chiếm 87%, viêm miệng 30,8%, tiêu
chảy là 38,4%, đau cơ 87%, rối loạn thần kinh ngoại
vi 74,4%, phù ngoại vi 38,5%. Phác đồ 4AC + 4T
mang lại hiệu quả cao trong điều trị ung thư vú bổ
trợ có hạch nách dương tính và độc tính ở mức độ
chấp nhận được.
4.3.1. Độc tính trên hệ tạo huyết
Tất cả các bệnh nhân đều hoàn thành 8 chu kỳ
hóa chất, không bệnh nhân nào phải ngừng điều trị
do độc tính không hồi phục. Tất cả các bệnh nhân
đều được điều trị đủ liều. Trong nghiên cứu của
chúng tôi, khi phân tích trên tổng số 39 bệnh nhân.
Độc tính hạ bạch cầu độ 3/4 là 10,1%, hạ bạch cầu
hạt độ 3/4 là 7,6%, tỷ lệ này thấp hơn so với tác giả
N.T. Sang khi sử dụng 3 thuốc cùng lúc (tỷ lệ hạ
bạch cầu độ 3/4 là 32,7%, hạ bạch cầu hạt độ 3/4
là 34,4%) [5], tỷ lệ hạ huyết sắc tố độ 3/4 là 7,6%,
không có hạ tiểu cầu độ 3/4. Hiện tại với sự phát
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
41
Đánh giá kết quả hóa trị BbổệnthrợvpiệhnáTcrđuồn4gAưCơn+g4HTu..ế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Globocan (2018), Breast Cancer - Estimated
đoạn II,III hạch nách dương tính tại Bệnh viện
K”, Luận án tiến sĩ, Trường đại học Y Hà Nội.
6. U.S Department of Health and Human Service
(2010). Common Terminology Criteria for
Adverse Events (CTCAE) version 4.0. <http://
evs.nci.nih.gov/ftp1/CTCAE/About.html>.
accessed 14 June 2019.
Incidence, mortality and prevalence Worldwide
2018.
2. D’Orsi CJ, Sickles EA, Mendelson EB, Morris
EA, et al (2013). American College of Radiology
Breast Imaging Reporting and Data System
BI-RADS, 5th ed, (Eds), American Colege of
Radiology, Reston, VA, 5: 758-61.
7. Phùng Thị Huyền (2016), “Đánh giá kết quả hóa
trị bổ trợ kết hợp Tratuzumab trên bệnh nhân ung
thư vú giai đoạn II, III ”, Luận án tiến sĩ, Trường
đại học Y Hà Nội.
3. Nguyễn Diệu Linh (2013). “Nghiên cứu điều trị
ung thư vú giai đoạn II, IIIA bằng phác đồ hóa
chất bổ trợ TAC và AC tại bệnh viện K”, Luận án
tiến sỹ y học. Trường Đại Học Y Hà Nội: 87-89. 8. Perez E.A, Romond E.H, Suman V.J et al (2011).
4. Đỗ Thị Kim Anh (2008), “Đánh giá kết quả điều
trị hóa chất bổ trợ phác đồ 4 AC - 4 paclitaxel trên
bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II, III tại bệnh viên
K” Luận văn thạc sĩ, Trường đại học Y Hà Nội.
5. Nguyễn Thị Sang (2016), “Đánh giá kết quả hóa
trị bổ trợ phác đồ TAC trong bệnh ung thư vú giai
Four-yearfollow-upoftrastuzumabplusadjuvant
chemotherapy for operable human epidermal
growth factor receptor 2-positive breast cancer:
joint analysis of data from NCCTG N9831 and
NSABP B-31. J Clin Oncol Off J Am Soc Clin
Oncol, 29(25): 3366-3373.
42
Tạp Chí Y Học Lâm Sàng - Số 65/2020
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả hóa trị bổ trợ phác đồ 4AC+4T trên bệnh nhân ung thư vú giai đoạn II, IIIA hạch nách dương tính tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
danh_gia_ket_qua_hoa_tri_bo_tro_phac_do_4ac4t_tren_benh_nhan.pdf

