Đặc điểm lâm sàng, áp lực cơ thắt hậu môn và các ngưỡng cảm nhận ở bệnh nhân có rối loạn đồng vận phản xạ rặn bằng kĩ thuật đo áp lực hậu môn trực tràng độ phân giải cao

NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG  
Đặc điểm lâm sàng, áp lực cơ thắt hậu môn  
và các ngưỡng cảm nhận ở bệnh nhân  
có rối loạn đồng vận phản xạ rặn bằng kĩ thuật  
đo áp lực hậu môn trực tràng độ phân giải cao  
Đào Việt Hằng1,2,3, Nguyễn Thùy Linh1, Nguyễn Vân Anh1, Lưu Thị Minh Huế1  
1Viện nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật  
2Bệnh viện Đại học Y Hà Nội  
3Trường Đại học Y Hà Nội  
TÓM TẮT  
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, đánh giá  
áp lực cơ thắt hậu môn và các ngưỡng cảm nhận ở  
bệnh nhân có rối loạn đồng vận phản xạ rặn bằng kĩ  
thuật đo áp lực hậu môn trực tràng độ phân giải cao  
(HRM).  
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi  
cứu ở 81 bệnh nhân trên 18 tuổi, được chẩn đoán  
rối loạn đồng vận phản xạ rặn trên HRM từ tháng  
7/2018 đến tháng 7/2019.  
Kết quả: Tỷ lệ nữ/nam: 1,5, tuổi trung bình  
47,4 14,3 (năm). Triệu chứng chủ yếu liên quan  
về chiều dài ống hậu môn, áp lực cơ thắt hậu môn  
khi nghỉ và co thắt, và các ngưỡng cảm nhận trực  
tràng giữa 4 nhóm.  
Kết luận: Rối loạn thói quen đại tiện thường  
gặp ở bệnh nhân có rối loạn đồng vận phản xạ rặn  
trên HRM. Rối loạn đồng vận phản xạ rặn gặp chủ  
yếu là type I. Áp lực cơ thắt hậu môn và các ngưỡng  
cảm nhận trực tràng không có sự khác biệt giữa 4  
type rối loạn đồng vận.  
Từ khóa: Rối loạn đồng vận phản xạ rặn, đo áp  
lực hậu môn trực tràng độ phân giải cao (HRM).  
đến rối loạn thói quen đại tiện (48,1%). Chiều dài ĐẶT VẤN ĐỀ  
ống hậu môn là 2,77 0,47 (cm), áp lực khi nghỉ,  
Rối loạn đồng vận phản xạ rặn là một trong  
khi co thắt ngắn và dài của cơ thắt hậu môn lần những rối loạn hậu môn – trực tràng chức năng  
lượt là 67,65 22,03, 150,07 47,90, 138,8 48,9 liên quan đến quá trình bài xuất phân, thường gặp  
(mmHg), trung vị các ngưỡng bắt đầu cảm nhận ở những bệnh nhân táo bón mạn tính. Cơ chế bệnh  
– bắt đầu buồn đi ngoài –dung nạp tối đa của trực sinh do sự mất khả năng phối hợp giữa các cơ thành  
tràng lần lượt là 30, 85 và 140 mmHg. Phân loại rối bụng và các cơ sàn chậu trong quá trình bài xuất  
loạn đồng vận: type I (n=48), type II (n=16), type phân dẫn đến các tình trạng áp lực tống đẩy phân  
III (n=16), type IV (n=1). Không có sự khác biệt của trực tràng yếu trong khi co bóp hậu môn nghịch  
Ngày nhận bài: 21/10/2020  
Ngày phản biện: 05/11/2020  
Ngày chấp nhận đăng: 10/11/2020  
|
TẠP CHÍ NỘI KHOA VIỆT NAM SỐ 19+20/2020  
0
147  
NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG  
thường hay khả năng giãn của ống hậu môn kém. số nghiên cứu đã được tiến hành trên đối tượng  
Tỷ lệ rối loạn đồng vận trên những bệnh nhân táo trẻ em có rối loạn táo bón chức năng và bệnh lí  
bón mạn tính được ghi nhận khoảng 27 – 59%[1], Hirschprung áp dụng kĩ thuật đo truyền thống với  
trong khi tỷ lệ táo bón mạn tính trong cộng đồng catheter có 6 vị trí nhận cảm áp lực. Tuy nhiên,  
theo một nghiên cứu tổng quan ước tính khoảng hiện chưa có nghiên cứu nào về rối loạn đồng vận  
11 – 18%[2]. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng rối phản xạ rặn trên đối tượng người trưởng thành sử  
loạn đồng vận hiện còn chưa rõ ràng. Một nghiên dụng kĩ thuật HRM, vì vậy chúng tôi tiến hành  
cứu trên 118 bệnh nhân có rối loạn đồng vận cho nghiên cứu này nhằm mục tiêu: Mô tả đặc điểm  
thấy 31% người bệnh có khởi phát bệnh từ nhỏ, lâm sàng, đánh giá áp lực cơ thắt hậu môn và các  
29% người bệnh có liên quan đến tiền sử sinh đẻ, ngưỡng cảm nhận ở bệnh nhân có rối loạn đồng vận  
chấn thương, và 40% không rõ nguyên nhân[3]. phản xạ rặn bằng kĩ thuật đo áp lực hậu môn trực  
Bệnh nhân thường có các triệu chứng như táo tràng độ phân giải cao(HRM).  
bón, khó đi ngoài, cảm giác đi ngoài không hết  
phân, đau bụng hay cảm giác đau tức hậu môn – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
trực tràng. eo tiêu chuẩn ROME IV, chẩn đoán Đối tượng  
rối loạn đồng vận ngoài dựa vào triệu chứng lâm  
Nghiên cứu hồi cứu mô tả trên các bệnh nhân  
sàng táo bón mạn tính hoặc hội chứng ruột kích từ 18 tuổi trở lên được tiến hành kĩ thuật đo áp  
thích thể táo bón chiếm ưu thế, cần có có hình lực hậu môn trực tràng độ phân giải cao (HRM)  
ảnh điển hình trên đo áp lực hậu môn trực tràng và xác định có rối loạn đồng vận phản xạ rặn trên  
và phải thỏa mãn ít nhất một trong 2 tiêu chuẩn: kết quả đo HRM từ tháng 7 năm 2018 đến  
(1) không đẩy được bóng đã được bơm 50ml tháng 7 năm 2019 tại Viện nghiên cứu và Đào tạo  
nước trong trực tràng ra ngoài trong vòng 1-2 phút Tiêu hóa Gan mật - Phòng khám Đa khoa Hoàng  
(balloon expulsion test), (2) không có khả năng Long. Nghiên cứu loại trừ các trường hợp bệnh  
tống xuất hoặc còn lưu lại ≥ 50% thuốc cản quang nhân chẩn đoán Hirschprung trên HRM, bệnh  
baryt trong kĩ thuật defecography. Kĩ thuật đo áp nhâncó khối u và/hoặc polyp vùng hậu môn –  
lực hậu môn trực tràng độ phân giải cao (HRM) trực tràng, nứt kẽ hậu môn, rò hậu môn, các tổn  
là một trong những phương pháp hữu ích, có khả thương đang chảy máu, trĩ nội độ IV, trĩ ngoại, trĩ  
năng áp dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng. đang có biến chứng kèm theo, bệnh nhân có các  
Phương pháp không những cho phép loại trừ rối loạn về nghe, tâm thần kinh không hợp tác  
được những bệnh lí có tổn thương thần kinh như trong quá trình thực hiện kĩ thuật.  
bệnh Hirschprung, các rối loạn cảm nhận cảm Phương pháp  
nhận ở trực tràng mà còn cho phép phân nhóm  
Nghiên cứu thu thập các thông tin về triệu chứng  
được các rối loạn đồng vận khác nhau. Các phân lâm sàng, tiền sử bệnh, kết quả nội soi đại trực tràng  
nhóm từ type I đến IV được phân chia dựa theo sự và kết quả đo HRM của người bệnh.  
thay đổi áp lực ở trực tràng và sự đáp ứng giãn ống Tiến hành kĩ thuật  
hậu môn trong phản xạ bài xuất phân. Hiện nay ở  
Kĩ thuật được thực hiện trên hệ thống MMS sử  
Việt Nam, phương pháp thăm dò áp lực hậu môn dụng catheter bơm nước (water-perfused catheter)  
trực tràng đặc biệt là với kĩ thuật sử dụng hệ thống 22 kênh. Quy trình thực hiện kĩ thuật đo HRM  
máy độ phân giải cao chưa được phổ biến. Một được thực hiện theo hướng dẫn của Nhóm sinh  
|
TẠP CHÍ NỘI KHOA VIỆT NAM SỐ 19+20/2020  
148  
NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG  
lí hậu môn trực tràng quốc tế (IAPWG) năm và phản xạ ức chế hậu môn – trực tràng (RIR),  
2018[4]. Bệnh nhân được tiến hành thăm khám (3) ghi nhận các ngưỡng cảm nhận của trực tràng:  
hậu môn- trực tràng bằng tay trước khi đặt catheter ngưỡng bắt đầu cảm nhận (FS) – ngưỡng bắt đầu  
và được hướng dẫn các động tác thực hiện trong khi buồn đi ngoài (ND)– ngưỡng dung nạp tối đa  
tiến hành kĩ thuật. Các giai đoạn chính của kĩ thuật (MTV), (4) ghi nhận áp lực hậu môn – trực tràng  
bao gồm: (1) ghi nhận áp lực hậu môn – trực tràng khi thực hiện phản xạ rặn[4].  
khi nghỉ trong 60 giây và trong 3 lần thít hậu môn  
Các type rối loạn đồng vận trên đo HRMđược  
(mỗi lần thít duy trì trong ít nhất 15 giây), (2) ghi dựa theo phân loại của Satish S C Rao và Tanisa  
nhận sự thay đổi áp lực khi thực hiện phản xạ ho Patcharatrakul (2016)[1] bao gồm:  
Type I:  
Type II:  
Type III:  
Type IV:  
Áp lực trực tràng tăng trên 40 mmHg kèm tăng áp lực ống hậu môn  
Áp lực trực tràng tăng yếu < 40mmHg kèm tăng áp lực ống hậu môn  
Áp lực trực tràng tăng trên 40 mmHg kèm ống hậu môn không giãn hoặc giãn kém (<20%)  
Áp lực trực tràng tăng yếu < 40mmHg kèm ống hậu môn không giãn hoặc giãn kém (<20%)  
Đạo đức nghiên cứu  
Tuổi trung bình 47,4 14,3 (năm) (min-max:  
Nghiên cứu đã được thông qua hội đồng đạo 20-82), có 33 bệnh nhân nam và 48 bệnh nhân  
đức trường Đại học Y Hà Nội số IRB-1908 ngày 25 nữ (tỷ lệ nữ/nam: 1,5). Trong 48 bệnh nhân nữ,  
tháng 8 năm 2020. Các thông tin thu thập được lưu 90,7% đã qua sinh nở. Tỷ lệ bệnh nhân đến khám  
trữ theo mã số nghiên cứu. Cơ sở dữ liệu nghiên cứu có các triệu chứng rối loạn thói quen đại tiện  
không lưu trữ thông tin về danh tính hoặc số liệu (táo bón đơn thuần, tiêu chảy đơn thuần và xen  
nhạy cảm của bệnh nhân. Dữ liệu chỉ phục vụ cho kẽ giữa táo bón với tiêu chảy) là 48,1%; có các  
mục đích nghiên cứu.  
triệu chứng rối loạn về phân (phân sống, phân  
nhầy, phân nát, phân có máu…) là 9,9% và có các  
triệu chứng liên quan đến cảm giác/phản xạ đại  
tiện (cảm giác đau tức hậu môn-trực tràng, cảm  
KẾT QUẢ  
Đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu  
Từ tháng 7 năm 2018 đến tháng 7 năm 2019, giác đại tiện không hết phân, mất cảm giác đại  
có 81 bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn. tiện…) là 32,1%.  
Bảng 1. Tỷ lệ các đặc điểm lâm sàng giữa hai giới  
Nam  
(n = 33)  
Nữ  
(n = 48)  
Triệu chứng lâm sàng (n,%)  
p
Rối loạn thói quen đại tiện  
Rối loạn phân  
16 (48,5)  
3 (9,1)  
23 (47,9)  
5 (10,4)  
0,960  
0,844  
0,026  
Rối loạn cảm giác/phản xạ khi đại tiện  
6 (18,2)  
20 (41,7)  
|
TẠP CHÍ NỘI KHOA VIỆT NAM SỐ 19+20/2020  
0
149  
NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG  
Bảng 1 so sánh tỷ lệ các đặc điểm lâm sàng của nghiên cứu là 2,77 0,47 (cm) (min-max, 1,7-3,8), áp  
bệnh theo hai giới. eo đó, các triệu chứng liên lực khi nghỉ của cơ thắt hậu môn trung bình là 67,7  
quan đến rối loạn cảm giác/phản xạ hậu môn-trực 22,0 (mmHg), áp lực khi nghỉ của cơ thắt hậu môn  
tràng ở nhóm nữ giới cao hơn nam giới có ý nghĩa trong khi thít trong 5 giây là 150,1 47,9 (mmHg),  
thống kê (p = 0,026).  
Đặc điểm nội soi đại trực tràng  
áp lực cơ thắt hậu môn khi thít trong thời gian dài là  
138,8 48,9 (mmHg), trung vị các ngưỡng cảm nhận  
Có 57/81 bệnh nhân được ghi nhận lại kết quả trực tràng (ngưỡng bắt đầu cảm nhận – ngưỡng bắt  
nội soi đại trực tràng, trong đó viêm đại trực tràng: đầu buồn đi ngoài – ngưỡng dung nạp tối đa) lần lượt  
36,8% (n=21), polyp đại trực tràng: 19,3% (n= 11), là 40, 85 và 140 mmHg. Một số đặc điểm về chiều dài  
trĩ: 36,8% (n=21).  
Đặc điểm trên đo HRM  
ống hậu môn, áp lực cơ thắt hậu môn và các ngưỡng  
nhạy cảm trực tràng phân chia theo giới và tiền sử  
Chiều dài ống hậu môn trung bình của nhóm sinh nở của bệnh nhân được mô tả ở bảng 2.  
Bảng 2. So sánh đặc điểm HRM theo giới và tiền sử sinh đẻ  
Tổ n g  
(n=81)  
Nam  
(n=33)  
Nữ chưa sinh  
(n=4)  
Nữ đã sinh  
(n=44)  
Đặc điểm HRM  
p
Chiều dài ống hậu môn (cm)  
2,77 0,47  
67,7 22,0  
3,03 0,39  
76,4 22,7  
2,22 0,46  
52,7 30,2  
2,62 0,42  
61,8 18,4  
<0,001  
0,005  
Áp lực của cơ thắt hậu môn khi nghỉ  
(mmHg)  
Áp lực của cơ thắt hậu môn khi thít  
trong thời gian ngắn (mmHg)  
150,1 47,9  
138,8 48,9  
166,7 53,8  
166,3 52,7  
100,2 48,5  
87,4 50,9  
139,9 5,6  
120,9 31,0  
0,004  
<0,001  
0,044  
0,793  
Áp lực của cơ thắt hậu môn khi thít  
trong thời gian dài (mmHg)  
ời gian duy trì thít cơ thắt hậu môn  
trong thời gian dài (giây)  
30  
(21-32)  
31  
21,4  
(11,0-26,1)  
29,8  
(17,6-32,2)  
(27,2-32,3)  
40  
(30-50)  
40  
(30-60)  
32,5  
(21-89)  
37,5  
(30-50)  
FS (ml)  
85  
(60-110)  
90  
(75-120)  
57,5  
(48-132)  
80  
(60-100)  
ND (ml)  
MTV (ml)  
0,051  
140  
(105-180)  
160  
(120-180)  
117.5  
(81-165)  
120  
(100-168.8)  
0,050  
* Các giá trị được biểu diễn dưới dạng giá trị trung bình độ lệch chuẩn hoặc trung vị (khoảng tứ phân vị)  
Giá trị p so sánh giữa các nhóm nam – nữ chưa sinh – nữ đã sinh.  
|
TẠP CHÍ NỘI KHOA VIỆT NAM SỐ 19+20/2020  
150  
NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG  
Chiều dài ống hậu môn, áp lực cơ thắt hậu môn đã sinh đẻ, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê  
khi nghỉ và khi thít có sự khác biệt có ý nghĩa thống giữa các giá trị này. ời gian duy trì cơ thắt hậu môn  
kê giữa ba nhóm (nam, nữ chưa sinh đẻ và nữ đã sinh thít trong thời gian dài có sự khác biệt có ý nghĩa  
đẻ), trong đó nam giới có chiều dài ống hậu môn dài thống kê giữa 3 nhóm. Tương tự, các ngưỡng cảm  
hơn và áp lực cơ thắt hậu môn cả khi nghỉ và khi thít nhận của trực tràng (ngoại trừ ngưỡng bắt đầu cảm  
lớn hơn ở nữ giới. Ở hai nhóm nữ chưa sinh đẻ và nữ nhận) ở 3 nhóm có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.  
Hình 1. Mối liên quan giữa tuối và áp lực khi nghỉ của cơ thắt hậu môn  
Tuổi và áp lực khi nghỉ của cơ thắt hậu môn type II và type III mỗi type chiếm 19,8% (n = 16),  
có mối tương quan nghịch với p = 0,019 và giá trị chỉ 1 bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn đồng  
Pearson r = -0,260 (Hình 1). Các giá trị áp lực cửa vận type IV. So sánh đặc điểm lâm sàng như trong  
cơ thắt hậu môn khi co thắt trong 5 giây và co thắt bảng 1 giữa 4 type rối loạn đồng vận cho thấy tỷ lệ  
trong thời gian dài không có mối tương quan tuyến triệu chứng liên quan đến rối loạn cảm giác/phản  
tính với tuổi.  
xạ hậu môn-trực tràng khác biệt có ý nghĩa thống  
Trên kết quả đo HRM, rối loạn đồng vận type kê (p = 0,028), tỷ lệ này ở type I – IV lần lượt là  
I là phân loại phổ biến nhất, chiếm 59,3% (n = 48), 22,9%, 62,5%, 31,3% và 0%.  
Bảng 3. Đặc điểm HRM theo phân loại rối loạn đồng vận  
Ty p e I  
(n=48)  
Type II  
(n=16)  
Type III  
(n=16)  
Type IV  
(n=1)  
Đặc điểm HRM  
p
Chiều dài ống hậu môn (cm)  
2,82 0,42  
69,8 22,1  
2,75 0,55  
65,5 25,4  
2,66 0,52  
66,1 6,5  
2,30  
26,0  
0,379  
0,238  
Áp lực của cơ thắt hậu môn khi nghỉ  
(mmHg)  
|
TẠP CHÍ NỘI KHOA VIỆT NAM SỐ 19+20/2020  
0
151  
NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG  
Áp lực của cơ thắt hậu môn khi thít  
trong thời gian ngắn (mmHg)  
153,4 50,3  
142,7 49,6  
148,7 46,9  
134,9 49,6  
146,5 40,3  
137,2 43,1  
69,0  
40,8  
7,7  
40  
0,367  
0,253  
0,278  
0,267  
0,345  
0,228  
Áp lực của cơ thắt hậu môn khi thít  
trong thời gian dài (mmHg)  
ời gian duy trì thít của cơ thắt hậu  
môn (giây)  
30,7  
(20,6-32,4)  
29,9  
(25,2-32,9)  
27,2  
(18,1-32,3)  
37,5  
(30 – 50)  
42,5  
(33 – 60)  
30  
(30 – 40)  
FS (ml)  
85,00  
(60 – 110)  
87,5  
(63 – 133)  
77,5  
(50 – 100)  
ND (ml)  
MTV (ml)  
60  
140  
(116 – 180)  
145  
(104 – 195)  
115  
(93 – 169)  
85  
* Các giá trị được biểu diễn dưới dạng giá trị trung bình độ lệch chuẩn hoặc trung vị (khoảng tứ phân vị)  
Bảng 3 so sánh các chỉ số đo HRM ở các ở 39,5%. Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu  
nhóm rối loạn đồng vận khác nhau. Tuy nhiên các của tác giả Rao ghi nhận rối loạn đồng vận gặp ở  
chỉ số này không có sự khác biệt có ý nghĩa thống hơn 50% bệnh nhân táo bón mạn tính [1]. Các  
kê giữa các nhóm.  
triệu chứng liên quan đến rối loạn cảm giác/phản  
xạ vùng hậu môn trực tràng (như cảm giác đau tức  
hậu môn –trực tràng, cảm giác đi ngoài không hết  
BÀN LUẬN  
Nghiên cứu thu tuyển được 81 bệnh nhân phân, không nhịn được khi buồn đi ngoài) xuất  
có chẩn đoán rối loạn đồng vận trên đo HRM, hiện tỷ lệ cao hơn ở nữ giới và khác biệt tỷ lệ có ý  
trong đó có 48 nữ và 33 nam, tuổi trung bình của nghĩa thống kê giữa 4 phân nhóm rối loạn đồng  
nhóm nghiên cứu là 47,4 14,3 (năm) (min-max: vận. Trong nghiên cứu của Rao và cộng sự (2016)  
20-82). Kết quả này khá tương đồng với nghiên trên đối tượng táo bón chức năng có rối loạn đồng  
cứu của Yan Zhao và cộng sự (2019) trên 60 bệnh vận, đa số bệnh nhân có cảm giác đi ngoài không  
nhân có rối loạn tống phân chức năng (functional hết phân (75%), một số bệnh nhân lại có các biểu  
defecation disorders), tỷ lệ nữ/nam: 1,6, độ tuổi hiện đau tức hậu môn – trực tràng hay cảm giác  
trung bình là 51,9 18,8 (năm) [5].  
đau/khó chịu ở bụng là chủ yếu [1]. Tỉ lệ đại tiện  
Triệu chứng đến khám chủ yếu của bệnh nhân không kiểm soát theo các nghiên cứu trước có tỷ lệ  
là các triệu chứng liên quan đến thay đổi thói quen ngang bằng nhau giữa hai giới, tuy nhiên xuất hiện  
đại tiện (48,1%), trong đó triệu chứng táo bón gặp nhiều hơn ở nhóm nữ giới có triệu chứng tiểu tiện  
|
TẠP CHÍ NỘI KHOA VIỆT NAM SỐ 19+20/2020  
152  
NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG  
không kiểm soát[6, 7]. Nghiên cứu của chúng tôi dạ. Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra mối tương  
ghi nhận một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân (9,9%) có các quan nghịch giữa tuổi và áp lực khi nghỉ của cơ  
biểu hiện rối loạn phân kết hợp (như phân nhầy, thắt hậu môn. Điều này cho thấy trương lực của  
phân nát, phân sống…). Các triệu chứng này ít cơ thắt hậu môn có xu hướng giảm dần khi tuổi  
được ghi nhận trong những nghiên cứu khác về cao. Kết quả của nghiên cứu tương đồng với các  
rối loạn hậu môn – trực tràng chức năng.  
nghiên cứu trước của Y Li và F Gundling[10, 11].  
Ở nghiên cứu trước của Yan Zhao (2019) trên Mối liên quan này được giải thích do quá trình  
60 đối tượng có rối loạn tống phân chức năng cho thoái hoá cơ trơn, thay thế bằng mô xơ mở, đồng  
kết quả: chiều dài ống hậu môn 3,5 1,0 cm, áp lực thời các sợi cơ sắp xếp lỏng lẻo hơn ở người già.  
cơ thắt hậu môn khi nghỉ 69,6 22,8 mmHg, áp Khi phân tích hồi quy đa biến với các yếu tố tuổi,  
lực cơ thắt hậu môn khi thít 197,6 79,0 mmHg, giới, BMI, và tiền sử đẻ thường, giới tính là một  
thể tích trực tràng bắt đầu cảm nhận, bắt đầu buồn yếu tố độc lập ảnh hướng đến các giá trị ngưỡng  
đi ngoài và chịu đựng tối đa lần lượt là 45,7 29,3 bình thường trên đo HRM. Do đó, giới tính là  
(ml); 80,5 37,8 (ml); 162,0 41,9 (ml). So với một yếu tố cần được cân nhắc và phân loại khi  
nghiên cứu của Yan Zhao, kết quả trong nghiên phân tích kết quả HRM [9].  
cứu của chúng tôi có giá trị thấp hơn[5]. Khi so  
eo nghiên cứu của Ting Yu (2016), trực  
sánh các giá trị này theo giới tính, và theo tiền sử tràng giảm nhạy cảm thường gặp ở nhóm đối  
sinh đẻ của bệnh nhân, nam giới có chiều dài ống tượng táo mạn tính và có rối loạn tống phân chức  
hậu môn chức năng dài hơn, áp lực hậu môn khi năng (79,8%), trong đó có rối loạn đồng vận [12].  
nghỉ và khi thít lớn hơn, các ngưỡng cảm nhận Dựa theo số liệu của Ting Yu trên nhóm chứng  
trực tràng cũng cao hơn so với nữ giới. Kết quả khỏe mạnh người Trung Quốc (n = 54) và định  
này tương đồng với nghiên cứu của Lee (2014) và nghĩa trực tràng giảm nhạy cảm: khi có ít nhất  
Carrington (2014) cùng các cộng sự [8, 9]. Các một trong 3 ngưỡng cảm nhận của trực tràng lớn  
giá trị này không có sự khác biệt có ý nghĩa thống hơn ngưỡng bình thường trên đo HRM, nghiên  
kê giữa nhóm nữ chưa sinh đẻ và nhóm nữ đã qua cứu của chúng tôi có 8/81 (9,9%) bệnh nhân rối  
sinh đẻ. Điều này khác với kết quả trong nghiên loạn đồng vận có giảm nhạy cảm trực tràng. Sự  
cứu của Carrington (2014) chỉ ra rằng áp lực cơ khác biệt về tỷ lệ này do đối tượng tuyển chọn 2  
thắt hậu môn khi thít của nhóm chưa sinh đẻ cao nghiên cứu khác nhau. êm vào đó, nhóm chứng  
hơn ở nhóm phụ nữ đã qua sinh đẻ. Các giá trị khỏe mạnh trong nghiên cứu của Ting Yu và cộng  
trung vị thời gian duy trì thít cơ thắt hậu môn của sự còn nhỏ, phương pháp chọn mẫu chưa đại diện  
chúng tôi cao hơn so với kết quả nghiên cứu của cho quần thể người Trung Quốc nói riêng, cũng  
Lee và cộng sự (giá trị trung vị lần lượt ở 3 nhóm như cho Châu Á nói chung. Vì vậy, việc áp dụng  
nam, nữ chưa sinh và nữ đã sinh là 19, 6 và 6 giây) chỉ số bình thường của nhóm vào làm tiêu chuẩn  
[8], tuy nhiên cả 2 nghiên cứu đều cho thấy khả đánh giá các ngưỡng cảm nhận trực tràng có thể  
năng duy trì thít cơ thắt hậu môn ở nam giới tốt còn chưa chính xác.  
hơn.Sự khác biệt các giá trị giữa nam và nữ được  
Phân loại rối loạn đồng vận trên HRM, type  
giải thích do sự khác nhau khối lượng cơ và lực co I là phân loại phổ biển nhất (59,26%), các type II,  
bóp của cơ thắt hậu môn; sự tổn thương thần kinh III, IV có tỷ lệ lần lượt là 19,75%, 19,75% và 1,24%.  
thẹn trong và các cơ thắt trong quá trình chuyển Trong nghiên cứu trước đây của Yan Zhao(2019),  
|
TẠP CHÍ NỘI KHOA VIỆT NAM SỐ 19+20/2020  
0
153  
NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG  
Ting Yu (2017), type I cũng là rối loạn đồng vận tràng truyền thống khi có số lượng thụ thể ít, và  
thường gặp nhất[5, 13]. Các giá trị chiều dài ống khoảng cách giữa các thụ thể xa.  
hậu môn, áp lực khi nghỉ và khi thít của cơ thắt hậu  
Đo áp lực hậu môn trực tràng độ phân giải cao  
môn và các ngưỡng cảm nhận trực tràng không (HRM) là kĩ thuật thăm dò áp lực cơ thắt hậu  
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 4 phân môn, các phản xạ và ngưỡng nhận cảm của vùng  
nhóm.Trong nghiên cứu trước của Grossi và cộng hậu môn-trực tràng mới được triển khai tại Việt  
sự (2016) so sánh đặc điểm phân nhóm rối loạn Nam. Các dữ liệu về thông số cơ bản của người  
đồng vận giữa nhóm táo bón chức năng và nhóm châu Á, cũng như của người Việt Nam khi sử dụng  
chứng khỏe mạnh kết quả cho thấy: Trên kết quả phương pháp đo này còn chưa được thống nhất.  
đo HRM, tỷ lệ có rối loạn đồng vận ở nhóm táo Nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu bước đầu  
bón chức năng cao hơn không nhiều so với nhóm tại Việt Nam cung cấp những số liệu cơ bản về áp  
chứng, trong đó rối loạn đồng vận type I gặp tỷ lực hậu môn, các ngưỡng cảm nhận trực tràng và  
lệ cao hơn ở nhóm chứng, các type II và III có tỷ tỷ lệ các phân nhóm ở bệnh nhân có rối loạn đồng  
lệ không khác biệt giữa hai nhóm, chỉ có rối loạn vận trên HRM. Tuy nhiên, nghiên cứu có một  
đồng vận type IV cao hơn có ý nghĩa thống kê ở số điểm còn hạn chế. ứ nhất, đây là một nghiên  
nhóm táo bón chức năng [14]. Điều này khẳng cứu hồi cứu trên đối tượng bệnh nhân có các biểu  
định thêm rằng, không nên sử dụng một phương hiện tiêu hóa dai dẳng, nghi ngờ các rối loạn hậu  
pháp đánh giá duy nhất để thăm dò rối loạn đồng môn trực tràng chức năng và chưa có nhóm chứng  
vận phản xạ rặn, cũng như các rối loạn hậu môn – để đối chiếu. ứ hai, nghiên cứu này chỉ sử dụng  
trực tràng chức năng khác.Trên một nghiên cứu sử một phương pháp thăm dò là HRM vì vậy chưa  
dụng kĩ thuật đo áp lực hậu môn trực tràng truyền có sự so sánh về giá trị chẩn đoán với một số  
thống với catheter sử dụng 6 kênh nhận cảm áp phương pháp khác.  
lực trên đối tượng trẻ em ≥ 6 tuổi có táo bón chức  
năng tại Việt Nam, phần lớn trẻ có kết quả phản xạ KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ  
rặn thường, tỷ lệ các type rối loạn đồng vận I – IV  
Rối loạn thói quen đại tiện thường gặp ở  
lần lượt là 7,3%, 12,2%, 2,4% và 0%[15]. Sự khác bệnh nhân có rối loạn đồng vận phản xạ rặn trên  
nhau này có thể do lối sống sinh hoạt và thói quen HRM. Rối loạn đồng vận phản xạ rặn gặp chủ  
đại tiện ở trẻ em và người lớn có sự khác biệt. Một yếu là type I. Không có sự khác biệt có ý nghĩa  
trong những nguyên nhân thường xuyên dẫn đến thống kê giữa 4 nhóm phân loại về chiều dài  
táo báo chức năng ở trẻ là thói quen nhịn đại tiện, ống hậu môn, áp lực cơ thắt hậu môn khi nghỉ  
sợ đau khi đại tiện. Hiện nay, hướng dẫn của AGIP và thít, các ngưỡng cảm nhận trực tràng. Trong  
(Association of Gastro-intestinal Physiologist) tương lai, để tiếp cận chẩn đoán, điều trị và theo  
(2017) về kĩ thuật đo áp lực hậu môn trực tràng dõi tốt hơn các rối loạn hậu môn trực tràng chức  
đã khuyến cáo sử dụng catheter có khoảng cách năng, cụ thể là rối loạn đồng vận, chúng ta cần  
giữa các thụ thể < 10mm để cung cấp một cách tiến hành những nghiên cứu trên số lượng bệnh  
chi tiết và trực quan hơn về sự thay đổi áp lực của nhân lớn, có thêm nhóm đối chứng khỏe mạnh,  
hậu môn, trực tràng. Điều này giúp việc nhận định không có triệu chứng, so sánh với các phương  
và phân nhóm rối loạn đồng vận được dễ dàng và pháp thăm dò - chẩn đoán khác, và theo dõi định  
chính xác hơn so kĩ thuật đo áp lực hậu môn trực kì sau điều trị.  
|
TẠP CHÍ NỘI KHOA VIỆT NAM SỐ 19+20/2020  
154  
NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG  
ABSTRACT  
Clinical characteristics, anal sphincter pressure and rectal sensations in patients with dyssynergic  
defecation on high-resolution anorectal manometry  
Objectives: To evaluate clinical symptoms, anal sphincter pressure and rectal sensations in patients  
with dyssynergic defecation (DD) on high-resolution anorectal manometry (HRM).  
Methods: A retrospective study on 81 patients who were ≥ 18 years old and diagnosed with DD on  
HRM from July 2018 to July 2019.  
Results: e female-to-male ratio was 1.5, the mean age was 47.4 14.3. 48.1% of the patients had  
symptoms related to bowel habit changes (constipation and diarrhea). On HRM,the mean anal canal  
length, mean anal resting pressure, mean anal squeeze pressure, and mean anal endurance pressure were  
2.77 0.47,67.65 22.03, 150.07 47.9, and 138.8 48.9 (mmHg) and were significantly higher in  
males. In the rectal sensory test, the median first constant sensation volume, desire to defecate volume, and  
maximum tolerable volume were 30, 85 and 140 mmHg, respectively. In the push maneuver,dyssynergic  
defecation type I was the most common (48 patients), followed by type II (16), type III (16), and type IV  
(1). ere were no differences between 4 types in anal canal length, anal squeeze and endurance pressures,  
and rectal sensations.  
Conclusion: Bowel habit changes are common in DD patients. e most common type of DD is type  
I. Anal canal pressures and rectal sensations were not different among 4 types of DD.  
Keywords: Dyssynergic defecation, high-resolution anorectal manometry.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Rao S.S., Patcharatrakul T. (2016) Diagnosis and Treatment of Dyssynergic Defecation. J  
Neurogastroenterol Motil.22(3):423-35.  
2. Suares N.C., Ford A.C.(2011) Prevalence of, and risk factors for, chronic idiopathic constipation in the  
community: systematic review and meta-analysis. Am J Gastroenterol.106(9):1582-91; quiz 1, 92.  
3. Rao S.S., Tuteja A.K., Vellema T., et al.(2004) Dyssynergic defecation: demographics, symptoms,  
stool paterns, and quality of life. J Clin Gastroenterol.38(8):680-5.  
4. Carrington E.V., Heinrich H., Knowles C.H., et al.(2020) e international anorectal physiology  
working group (IAPWG) recommendations: Standardized testing protocol and the London classification  
for disorders of anorectal function. Neurogastroenterol Motil.32(1):e13679.  
5. Zhao Y., Ren X., Qiao W., et al.(2019) High-resolution Anorectal Manometry in the Diagnosis of  
Functional Defecation Disorder in Patients With Functional Constipation: A Retrospective Cohort Study.  
J Neurogastroenterol Motil.25(2):250-7.  
6. Rao S.S.(2010) Advances in diagnostic assessment of fecal incontinence and dyssynergic defecation.  
Clin Gastroenterol Hepatol.8(11):910-9.  
7. Ditah I., Devaki P., Luma H.N., et al.(2014) Prevalence, trends, and risk factors for fecal incontinence  
in United States adults, 2005-2010. Clin Gastroenterol Hepatol.12(4):636-43.e1-2.  
|
TẠP CHÍ NỘI KHOA VIỆT NAM SỐ 19+20/2020  
0
155  
NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG  
8. Lee H.J., Jung K.W., Han S., et al.(2014) Normal values for high-resolution anorectal manometry/  
topographyinahealthyKoreanpopulationandtheeffectsofgenderandbodymassindex. Neurogastroenterol  
Motil.26(4):529-37.  
9. Carrington E.V., Brokjaer A., Craven H., et al.(2014) Traditional measures of normal anal sphincter  
functionusinghigh-resolutionanorectalmanometry(HRM)in115healthyvolunteers.Neurogastroenterol  
Motil.26(5):625-35.  
10. Li Y., Yang X., Xu C., et al.(2013) Normal values and pressure morphology for three-dimensional  
high-resolution anorectal manometry of asymptomatic adults: a study in 110 subjects. Int J Colorectal  
Dis.28(8):1161-8.  
11. Gundling F., Seidl H., Scalercio N., et al.(2010) Influence of gender and age on anorectal function:  
normal values from anorectal manometry in a large caucasian population. Digestion.81(4):207-13.  
12. Yu T., Qian D., Zheng Y., et al.(2016) Rectal Hyposensitivity Is Associated With a Defecatory  
Disorder But Not Delayed Colon Transit Time in a Functional Constipation Population. Medicine  
(Baltimore).95(19):e3667.  
13. Yu T., Shen X., Li M., et al.(2017) Efficacy and Predictors for Biofeedback erapeutic Outcome in  
Patients with Dyssynergic Defecation. Gastroenterol Res Pract.2017:1019652.  
14. Grossi U., Carrington E.V., Bharucha A.E., et al.(2016) Diagnostic accuracy study of anorectal  
manometry for diagnosis of dyssynergic defecation. Gut.65(3):447-55.  
15. Lương ị Minh, Nguyễn ị Việt Hà. Nhận xét kết quả đo áp lực hậu môn trực tràng ở trẻ em bị táo  
bón chức năng tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Hội nghị khoa học Nhi khoa toàn quốc 2018.  
|
TẠP CHÍ NỘI KHOA VIỆT NAM SỐ 19+20/2020  
156  
pdf 10 trang yennguyen 20240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm lâm sàng, áp lực cơ thắt hậu môn và các ngưỡng cảm nhận ở bệnh nhân có rối loạn đồng vận phản xạ rặn bằng kĩ thuật đo áp lực hậu môn trực tràng độ phân giải cao", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_lam_sang_ap_luc_co_that_hau_mon_va_cac_nguong_cam_n.pdf