Đặc điểm hệ thống dầu khí khu vực rìa Tây Nam bể trầm tích Malay - Thổ Chu, Việt Nam

PETROVIETNAM  
TẠP CHÍ DẦU KHÍ  
Số 5 - 2020, trang 25 - 36  
ISSN 2615-9902  
ĐẶC ĐIỂM HỆ THỐNG DẦU KHÍ KHU VỰC RÌA TÂY NAM  
BỂ TRẦM TÍCH MALAY - THỔ CHU, VIỆT NAM  
Hoàng Anh Tuấn1, Trịnh Xuân Cường1, Nguyễn Thu Huyền2  
1Tập đoàn Dầu khí Việt Nam  
2Viện Dầu khí Việt Nam  
Email: tuanha03@pvn.vn  
Tóm tắt  
Kết quả tìm kiếm thăm dò gần đây cho phát hiện dầu trong trầm tích Miocene dưới tại giếng khoan C-1X, cách mỏ Sông Đốc khoảng  
50 km về phía Tây Bắc, đã chứng minh hoạt động tích cực của hệ thống dầu khí ở khu vực rìa Tây Nam bể trầm tích Malay - Thổ Chu, Việt  
Nam.  
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu về đặc điểm hệ thống dầu khí khu vực, gồm các yếu tố: sinh, chứa, chắn, dịch chuyển và tạo  
bẫy… trên cơ sở tổng hợp kết quả phân tích mẫu vụn giếng khoan C-1X kết hợp với các tài liệu địa chất - địa vật lý. Kết quả nghiên cứu  
góp phần làm sáng tỏ hơn đặc điểm hệ thống dầu khí vùng rìa Tây Nam bể trầm tích Malay - Thổ Chu, thúc đẩy công tác tìm kiếm, thăm  
dò ở khu vực này trong tương lai.  
Từ khóa: Hệ thống dầu khí, đá mẹ, đá chứa, đá chắn, rìa Tây Nam, bể Malay - Thổ Chu.  
1. Mở đầu  
Bể trầm tích Malay - Thổ Chu nằm ở phía Tây Nam Việt Nam,  
Lô A  
trên vùng biển tiếp giáp giữa Việt Nam và Malaysia, có diện tích  
khoảng 100.000 km2 và được lấp đầy bởi các trầm tích Đệ Tam có  
Lô B  
bề dày trên 10 km [1]. Đây là khu vực có tiềm năng dầu khí lớn  
ở Đông Nam Á, với trữ lượng tại chỗ ước đạt 8 tỷ thùng dầu quy  
đổi (Todd et al., 1997). Khu vực nghiên cứu nằm ở rìa Tây Nam bể  
Malay - Thổ Chu, với diện tích xấp xỉ 12.000 km2 và độ sâu mực  
nước biển dưới 70 m. Giếng khoan C-1X là giếng khoan thăm dò  
duy nhất tại khu vực nghiên cứu đến thời điểm hiện tại (Hình 1).  
Công tác tìm kiếm, thăm dò tại bể Malay - Thổ Chu được bắt  
đầu từ những năm 70 của thế kỷ XX, với sự tham gia của các công  
ty dầu khí lớn trên thế giới. Kết quả đã có nhiều phát hiện được  
tìm thấy, trong đó chủ yếu là phát hiện khí và condensate [3].  
Gần đây nhất, giếng khoan C-1X do Idemitsu (Nhật Bản) thi  
công đã cho phát hiện dầu trong bẫy chứa hỗn hợp cấu trúc -  
địa tầng tuổi Miocene giữa. Mặc dù phát hiện không mang tính  
thương mại theo đánh giá của nhà thầu [2], nhưng việc tìm ra  
dầu ở giếng khoan C-1X nằm tương đối xa các khu vực đã có  
phát hiện và các mỏ đang khai thác (cách mỏ Sông Đốc gần nhất  
khoảng 50 km về phía Tây Bắc), cho thấy tiềm năng dầu khí ở khu  
vực này vẫn là ẩn số hấp dẫn đối với công tác tìm kiếm, thăm dò.  
Ngày nhận bài: 30/3/2020. Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 30/3 - 10/4/2020.  
Ngày bài báo được duyệt đăng: 8/5/2020.  
Hình 1. Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu [2]  
DẦU KHÍ - SỐ 5/2020  
25  
THĂM DÒ - KHAI THÁC DẦU KHÍ  
2. Đặc điểm địa chất khu vực  
Bể trầm tích Malay - Thổ Chu  
được hình thành từ quá trình nứt  
vỏ lục địa Sunda và sự va chạm giữa  
mảng lục địa Ấn Độ với mảng Âu - Á.  
Bể nằm trên thềm lục địa Tây Nam  
Việt Nam, với chiều dài xấp xỉ 500  
km, chiều rộng khoảng 200 km và  
có phương phát triển theo hướng  
Đông Bắc - Tây Nam [1, 4, 5]. Tương tự  
các bể trầm tích khác của Việt Nam,  
cấu trúc địa chất của bể gồm 2 tầng  
chính: Móng trước Đệ Tam và trầm  
tích Đệ Tam phủ trên móng với bề  
dày đạt trên 10 km [3]. Phân chia chi  
tiết địa tầng bể như Hình 2.  
Xen kẽ sét mềm bở, bột và cát bở rời, xám  
sáng, xám nâu, xám xanh. Cát hạt nhỏ -  
trung, chọn lọc tốt, chứa nhiều glauconite và  
các hóa đá biển.  
Sét, sét kết xám sáng, xám olive, mềm bở,  
xen kẽ cát, cát kết xám nâu, gắn kết yếu hoặc  
còn bở rời, hạt nhỏ, lựa chọn trung bình - tốt,  
ít hạt trung và thô, chứa nhiều vôi, có glauco-  
nite và phong phú các hóa đá Foram.  
Cát kết xám sáng, hạt nhỏ đến trung, lựa chọn  
trung bình - tốt, chứa vôi hoặc các lớp sét vôi,  
sét kết xám trắng, xám xanh, chứa vụn than  
hoặc các lớp than nâu, ít các lớp dolomite và  
đá vôi vi hạt chứa nhiều sét và mảnh vụn lục  
nguyên. Cát có tính chất chứa tốt. Biến đổi thứ  
sinh: Katagen sớm.  
Sét kết, sét vôi xám sáng, xám xanh, xám tối,  
sét than và các lớp mỏng than nâu xen bột  
kết, cát kết hạt nhỏ đến trung, lựa chọn tốt,  
xi măng carbonate, sét, glauconite, pyrite.  
Đôi khi xen các lớp đá vôi vi hạt: đá vôi chứa  
nhiều mảnh vụn, lục nguyên. Biến đổi thứ  
sinh: Katagen sớm - giữa.  
Cho đến giai đoạn đầu của thời  
kỳ Miocene sớm, bể chịu ảnh hưởng  
của môi trường lục địa, sông hồ (alu-  
vial - lacustrine). Sự xâm nhập của  
môi trường biển bắt đầu xảy ra vào  
thời kỳ giữa của Miocene sớm ở khu  
vực trung tâm bể, trong khi rìa bể vẫn  
chịu chi phối bởi môi trường sông  
đến đồng bằng châu thổ (fluvial -  
deltaic). Ảnh hưởng của môi trường  
biển trong phạm vi toàn bể xảy ra  
vào cuối Miocene sớm và biểu hiện  
rõ nét hơn vào thời kỳ Miocene giữa,  
kéo dài sang Miocene muộn cho đến  
hiện tại [3].  
Sét kết xám, xám nâu chứa bột và vôi, giàu  
vật chất hữu cơ, vụn than hoặc xen kẹp các  
lớp than nâu. Xen kẽ bột kết, cát kết xám  
sáng, hạt nhỏ đều thô, hoặc sạn, lựa chọn  
kém. Đá có khả năng sinh và chứa trung  
bình đến tốt. Biến đổi thứ sinh: Katagen  
giữa - muộn  
Đá biến chất tướng phiến lục (cát bột kết dạng quarzite, quarzite,  
đá phiến sericite, phyllite…). Đá vôi.  
Trước C  
Đá vôi  
enozoic  
Cuội kết  
Cát kết  
Granodiorite  
Sét kết  
Khí  
Dầu  
Dầu và khí  
Than  
Granite/Đá móng  
Đá biến chất  
Núi lửa/phun trào  
Bất chỉnh hợp  
Hình 2. Cột địa tầng tổng hợp bể Malay - Thổ Chu [3]  
Sự tồn tại của đá mẹ nguồn gốc  
đầm hồ (lacustrine) tuổi Oligocene  
và đá mẹ nguồn gốc than tuổi Mio-  
cene đã được khẳng định thông qua  
nhiều giếng khoan trong bể. Đá chứa  
được xác định là các tập cát kết tuổi  
Oligocene - Miocene. Các play dầu  
khí liên quan chủ yếu đến dạng bẫy  
cấu tạo và bẫy địa tầng. Một số phát  
hiện quan trọng về khí condensate  
và dầu trong các play đã được ghi  
nhận như: CN-1X, KM-1X, DD-1X và  
NH-1X... Play móng được đánh giá có  
tiềm năng tương đối kém, tuy nhiên  
cần tiếp tục nghiên cứu để làm rõ  
trong thời gian tiếp theo.  
Top Unit 3  
(FS190)  
Đồng bằng ngập lụt  
(Mangrove Swamp) -  
Tầng chắn  
Bể Malay - Thổ Chu  
Mazlan et al., 1999  
Top Unit 2  
(FS120)  
Đồng bằng châu thổ  
đến ven biển  
(Fluvial to Coastal Plain) -  
Tầng chứa  
Top Unit 1  
(FS40)  
Đầm hồ (Lacustrine) -  
Tầng sinh  
Giếng khoan C-1X  
Hình 3. Sơ đồ môi trường trầm tích khu vực nghiên cứu theo tài liệu cập nhật giếng khoan C-1X [2]  
DẦU KHÍ - SỐ 5/2020  
26  
PETROVIETNAM  
Tmax( oC)  
TOC(Wt %)  
S1(Kg/T)  
S2(Kg/T)  
PI  
HI(mg/g)  
%Ro  
DEPTH  
(m)  
LITHO.  
P
F
G
V
Exc.  
P
F
G V Exc.  
P
F G  
V
Exc.  
Indig.  
Mig.  
INGP GO OP  
II&I  
IM  
M
O
IM  
M
O
C
D
10-1 10  
10  
10-1 10  
10  
10-1 10 0 10 1 102  
0.2 0.4  
420 440 460  
0.5 1.0 2.0  
0
1
0
1
50200 400  
600  
800  
1000  
1200  
1400  
1600  
clays/silty clays  
coal  
P : Poor  
F : Fair  
V : Very good  
E : Excellent  
Indig. : Indigenous  
Hydrocarbon  
IN  
GP  
:
:
Inert material  
Gas prone  
IM. : Immature  
M. : Mature  
G : Good  
Mig. : Migrated  
Hydrocarbon  
GO  
OP  
:
Gas & Oil prone  
Oil prone of kerogen III  
O. : Oil window  
C. : Condensate  
:
(a)  
Trung  
Tốt  
Kém  
Rất tốt  
bình  
900  
750  
600  
450  
300  
150  
0
Type I  
Type II  
Type III  
Tổng lượng carbon hữu cơ (% khối lượng)  
400  
420  
440  
460  
480  
500  
520  
540  
Tmax (ºC)  
Mẫu than giếng khoan C-1X  
Mẫu than giếng khoan C-1X  
Mẫu vụn giếng khoan C-1X  
Mẫu vụn giếng khoan C-1X  
(b)  
(c)  
Hình 4. Biểu đồ quan hệ chỉ số đá mẹ và chiều sâu (giếng khoan C-1X) (a); Biểu đồ quan hệ HI/Tmax (giếng khoan C-1X) (b); Biểu đồ quan hệ độ giàu vật chất hữu cơ  
và tiềm năng sinh hydrocarbon (giếng khoan C-1X) (c) [6]  
Môi trường trầm tích Đệ Tam khu vực giếng khoan  
3. Hệ thống dầu khí  
C-1X tương đồng với môi trường trầm tích Đệ Tam của bể  
Malay - Thổ Chu (Hình 3). Ranh giới giữa các môi trường  
đầm hồ, đồng bằng châu thổ - ven biển và đồng bằng ngập  
lụt phân chia các hệ tầng sinh, chứa, chắn được xác định  
bởi tài liệu địa chấn kết hợp với tài liệu phân tích mẫu thạch  
học, cổ sinh - địa tầng và minh giải log tại giếng khoan [2].  
3.1. Đặc điểm tầng sinh  
Nghiên cứu tầng sinh khu vực giếng khoan C-1X  
được thực hiện trên 30 mẫu vụn trong khoảng độ sâu 965  
- 1.560 m (phân tích TOC, Rock-eval), 10 mẫu vụn trong  
khoảng độ sâu 600 - 1.505 m (phân tích độ phản xạ vitrin-  
DẦU KHÍ - SỐ 5/2020  
27  
THĂM DÒ - KHAI THÁC DẦU KHÍ  
ite) và 5 mẫu vụn trong khoảng độ sâu 1.230 - 1.535 m  
(phân tích GCMS) [6]. Kết quả phân tích được tổng hợp  
như Hình 4).  
Thạch học cát kết  
3.1.1. Độ giàu vật chất hữu cơ và phân loại kerogen  
- Độ sâu 965 - 1.560 m (Miocene dưới - Oligocene):  
Sét kết/sét - bột kết có độ giàu vật chất hữu cơ thấp  
tới trung bình (TOC = 0,36 - 0,59%), tiềm năng sinh  
hydrocarbon thấp (S2 = 0,67 - 1,90 kg/T), biểu đồ quan  
hệ chỉ số hydrogen/Tmax cho thấy đặc trưng đá mẹ là  
kerogen loại II/III (HI = 167 - 335 mg/HC/gTOC), cho khả  
năng sinh dầu và khí.  
2 mẫu than ở độ sâu 965 - 970 m và 1.400 - 1.405 m  
rất giàu hàm lượng vật chất hữu cơ và có tiềm năng sinh  
dầu khí rất tốt.  
(a)  
- Độ sâu 1.460 - 1.560 m (Oligocene): Sét kết/sét -  
bột kết có độ giàu vật chất hữu cơ trung bình (TOC = 0,52  
- 0,69%), tiềm năng sinh hydrocarbon trung bình (S2 =  
2,01 - 2,40 kg/T), biểu đồ quan hệ chỉ số Hydrogen/Tmax  
cho thấy đặc trưng đá mẹ là kerogen loại II/III (HI = 348 -  
387 mg/HC/gTOC), cho khả năng sinh dầu và khí.  
3.1.2. Mức độ trưởng thành nhiệt  
Độ phản xạ vitrinite của các mẫu trong khoảng độ  
sâu 600 - 620 m và 1.500 - 1.505 m cho giá trị R0 = 0,35 -  
0,43% có nghĩa là đá mẹ ở đây chưa đạt ngưỡng trưởng  
thành. Giá trị Tmax < 435 oC tương ứng cũng khẳng định  
mức độ chưa trưởng thành nhiệt của đá mẹ ở khu vực  
nghiên cứu.  
(b)  
3.2. Đặc điểm đá chứa  
Nghiên cứu đá chứa khu vực giếng khoan C-1X được  
thực hiện trên 22 mẫu vụn, với các chỉ tiêu phân tích  
thạch học lát mỏng (thin-section) và nhiễu xạ Rơnghen  
(XRD) trong khoảng độ sâu 965 - 1.560 m cùng 5 mẫu  
phân tích hiển vi điện tử quét (SEM) trong khoảng độ sâu  
1.130 - 1.250 m [7]. Kết quả phân tích được tổng hợp như  
sau:  
3.2.1. Phân tích thạch học  
Trong khoảng độ sâu phân tích tồn tại các loại đá  
khác nhau như: sét kết, bột kết, cát kết và đá vôi. Kết quả  
phân tích thạch học lát mỏng đá cát kết - đối tượng chứa  
chính được tổng kết ở Hình 5a.  
Cát kết có thành phần độ hạt thay đổi rất khác nhau  
(từ rất mịn cho đến thô), chủ yếu là loại sub-litharenite  
và sub-arkose, một vài mẫu là lithic arkose, feldspathic  
(c)  
Hình 5. Kết quả phân tích thạch học cát kết độ sâu 1.200 - 1.045 m, giếng khoan C-1X [7]  
(a); Biểu đồ phân loại cát kết giếng khoan C-1X: (< 15% matrix (b), > 15% matrix (c)) [7, 8]  
DẦU KHÍ - SỐ 5/2020  
28  
PETROVIETNAM  
6A 1020-1025m  
6B 1160-1165m  
6C 1240-1245m  
6D 1305-1165m  
6F 1305-1310m  
6E 1305-1310m  
Hình 6. Ảnh phân tích thạch học lát mỏng giếng khoan C-1X [7]  
litharenite đến lithic greywacke (Hình 5b và c); độ mài tròn  
từ bán góc cạnh đến bán tròn cạnh và tròn cạnh; độ chọn  
lọc trung bình đến tốt [8].  
- 7%. Khoáng vật nặng gồm zircon và apatite. Xi măng và  
khoáng vật thứ sinh có mặt trong tất cả các mẫu cát kết,  
với hàm lượng từ trung bình đến cao. Xi măng carbonate  
có mặt ở trong tất cả các mẫu, gồm dolomite (3,2 - 20,2%),  
calcite (1 - 8,4%), siderite trung bình 8%... Khoáng vật sét  
thứ sinh gồm chlorite (0,6 - 2,4%) và sét khác (1,2 - 4,6%).  
Ngoài ra còn có sự hiện diện của khoáng vật không thấu  
quang như pyrite với hàm lượng 0,6 - 1,6%.  
Thành phần thạch học chủ yếu là thạch anh, với hàm  
lượng trung bình 40 - 50%; feldspar có hàm lượng thấp  
(2,4 - 8,6%); các mảnh đá: vụn núi lửa (2 - 7,4%), mảnh  
granite (0,6 - 3,2%), mảnh đá phiến (0,4 - 3,6%), mảnh  
quartzite (0,2 - 1,8%). Vật liệu nền (matrix) trung bình 2  
DẦU KHÍ - SỐ 5/2020  
29  
THĂM DÒ - KHAI THÁC DẦU KHÍ  
Hình 7. Ảnh phân tích mẫu SEM, giếng khoan C-1X [7]  
Độ rỗng nhìn thấy (visible porosity) quan sát trên lát  
mỏng thạch học được bảo tồn khá tốt (Hình 6a - d), gồm:  
độ rỗng liên thông giữa hạt (mũi tên màu đỏ) < 13,2%, độ  
rỗng giữa các tinh thể hình thành do quá trình dolomite  
hóa (mũi tên màu hồng) < 6,4% và độ rỗng thứ sinh do  
hòa tan các hạt feldspar (mũi tên màu xanh) < 1,2%. Độ  
rỗng của đá chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi sự có mặt của  
các khoáng vật thứ sinh (dolomite, siderite, khoáng vật  
sét) và vật liệu nền (matrix). Các mẫu gắn kết bởi xi măng  
carbonate (Hình 6e) và hàm lượng vật liệu nền cao (Hình  
6f) có độ rỗng tương đối kém [7, 9].  
Theo kết quả phân tích 5 mẫu hiển vi điện tử quét  
(SEM), độ rỗng có thể quan sát rõ trên ảnh, gồm: độ rỗng  
liên thông giữa hạt (Hình 7a và b), độ rỗng hình thành từ  
các hạt kết tinh (Hình 7c) và vi lỗ rỗng nằm trong các họng  
sét (Hình 7e). Các khoáng vật thứ sinh chủ yếu gồm dolo-  
mite, siderite, calcite, pyrite và khoáng vật sét (Hình 7d).  
Sự có mặt và phát triển của khoáng vật thứ sinh trong đá  
DẦU KHÍ - SỐ 5/2020  
30  
PETROVIETNAM  
Hình 8. Kết quả phân tích thành phần sét giếng khoan C-1X [7]  
Tầng trên  
Tầng giữa  
Tầng thấp (dưới)  
Khoảng giữa → thấp  
Các thân cát khu vực C-1X hình thành bởi hệ thống sông uốn khúc (meandering river system)  
Hệ thống sông uốn khúc  
Hình 9. Mô hình thành tạo các thân cát tầng chứa khu vực nghiên cứu [2, 11]  
làm giảm độ rỗng và độ thấm, tức giảm mức độ lưu thông  
của chất lưu, ảnh hưởng xấu đến chất lượng đá chứa. Chỉ  
có một quá trình biến đổi thứ sinh làm tăng độ rỗng, đó  
là quá trình hòa tan khoáng vật kém bền vững trong đá  
(feldspar), hình thành nên độ rỗng thứ sinh và cải thiện  
chất lượng đá chứa (Hình 7f) [7, 9, 10].  
khoáng vật tạo đá chủ yếu gồm thạch anh (51,6%), tiếp  
theo là lượng nhỏ hơn K-feldspar, plagioclase, mica, cal-  
cite, dolomite… Đặc biệt siderite hiện diện khá nhiều  
trong khoảng độ sâu này (16,4%). Kết quả phân tích thành  
phần sét cho thấy illite chiếm ưu thế, ít hơn là kaolinite và  
chlorite cùng một lượng nhỏ sét hỗn hợp lớp illite-smec-  
tite (Hình 8). Smectite chỉ xuất hiện ở độ sâu nhỏ hơn 1.505  
m (hàm lượng 14,9 - 19%) cho thấy được thành tạo từ sét  
trương nở nguồn gốc núi lửa (volcanic montmorinollite),  
khó chuyển hóa thành illite trong môi trường biển.  
Để đánh giá chi tiết về thành phần khoáng vật tạo đá  
và thành phần sét đi kèm, 22 mẫu vụn đã được phân tích  
bằng phương pháp nhiễu xạ Rơnghen (XRD) [7, 8].  
Kết quả phân tích tổng hàm lượng đá cho thấy,  
DẦU KHÍ - SỐ 5/2020  
31  
THĂM DÒ - KHAI THÁC DẦU KHÍ  
Biên độ RMS  
Dị thường biên độ nghịch đảo  
Biên độ RMS  
Dị thường biên độ nghịch đảo  
0,53km2  
C-1X  
C-1X  
C-1X  
Hình 10. Phân bố các vỉa cát khu vực nghiên cứu [2, 11]  
Tổng hợp kết quả nghiên cứu (thạch học  
lát mỏng, SEM và XRD) cho thấy cát kết khu  
vực nghiên cứu có chất lượng chứa từ trung  
bình tới khá, đôi chỗ chất lượng chứa được cải  
thiện tốt hơn (vỉa chứa phát hiện dầu khí tại  
giếng C-1X ở độ sâu 1.230 - 1.350 m) do độ  
rỗng của đá được bảo tồn, ít chịu ảnh hưởng  
của quá trình xi măng hóa và lấp nhét bởi  
khoáng vật thứ sinh.  
Sandstone with oil shows in  
fining-upward Lower Layer  
Gross  
Ave. VCL  
Ave. PHIE  
Ave. SWE  
Net  
N/G  
Lower Layer  
Gross  
N/G  
Avg Phi  
Avg Sw  
VCL cut-  
off 60%  
:
:
:
:
20,6 m  
67,0%  
25,4%  
28,7%  
20,6m  
13,8m  
67%  
22%  
25%  
29%  
Coal flag  
3.2.2. Phân bố của các vỉa chứa  
Theo kết quả phân tích dị thường biên độ  
nghịch đảo địa chấn, khu vực nghiên cứu tồn  
tại một số vỉa chứa cát kết hình thành bởi hệ  
thống sông uốn khúc (Hình 9). Tuy nhiên, các  
vỉa chứa phát triển không liên tục và phân bố  
trong phạm vi hẹp < 1 km2 (Hình 10). Một số  
vỉa có thể liên thông với nhau, do vậy tương  
đối khó xác định độ sâu ranh giới khép kín của  
bẫy/tầng chắn [2].  
Hình 11. Vỉa chứa dầu trong Miocene dưới (giếng C-1X, độ sâu 1.230 - 1.250 m) [2]  
C-1X  
Rủi ro chắn nóc  
FS120  
New FS  
Good seal  
Top Seal  
Upper  
Upper  
Middle  
Tại giếng khoan C-1X, đã phát hiện hy-  
drocarbon tại tập đá chứa Miocene dưới ở độ  
sâu 1.230 - 1.250 m. Kết quả minh giải địa vật  
lý giếng khoan (LWD) cho thấy đây là vỉa sản  
phẩm chứa dầu (Hình 11).  
Hình 12. Mặt cắt địa chấn minh họa tầng chắn nóc cho các vỉa chứa Miocene [2]  
Mặt cắt qua tập trên và giữa  
Biên độ RMS  
tập trên  
17m throw  
FS120  
FS  
24m throw  
24m throw  
Sơ bộ tính toán cho thấy trữ lượng tại chỗ  
khu vực giếng khoan C-1X không lớn, nhưng  
đã khẳng định hoạt động tích cực của hệ  
thống dầu khí tại rìa Tây Nam khu vực nghiên  
cứu, gợi mở cho công tác tìm kiếm, thăm dò  
trong thời gian tiếp theo.  
Base  
Upper  
Base  
Middle  
Biên độ RMS tập dưới  
Mặt cắt qua tập dưới  
3.3. Đặc điểm tầng chắn  
33m throw  
Kết quả khoan giếng C-1X đã xác định  
được tầng chắn nóc là các tập sét nằm phía  
trên tầng đá chứa Miocene dưới, tương ứng  
Lower  
Layer  
Hình 13. Mặt cắt địa chấn minh họa khả năng chắn biên của đứt gãy [2]  
DẦU KHÍ - SỐ 5/2020  
32  
PETROVIETNAM  
với bề mặt ngập lụt FS, FS120 trên mặt  
cắt địa chấn (Hình 12).  
VF90-53 + PQ30  
KL  
AQ  
Các đứt gãy đóng vai trò chắn biên  
tại giếng C-1X được xác định như Hình  
13. Tuy nhiên, khả năng chắn biên của  
đứt gãy phụ thuộc vào giá trị SGR (Shale  
Gouge Ratio), tức tỷ phần sét tại các vỉa  
nằm 2 bên cánh đứt gãy. Các vỉa trong  
phần giữa và trên (Upper & Middle  
Layer) có giá trị SGR thấp (< 0,3), tức tỷ  
phần sét thấp, đồng thời có sự tiếp xúc  
một phần giữa các vỉa hàm lượng cát  
cao hơn bên cánh sụt với cánh nâng, do  
vậy đứt gãy gần như không chắn. Các  
vỉa trong phần dưới (Lower Layer) có  
giá trị SGR lớn hơn (0,3 < SGR < 0,6), tức  
tỷ phần sét cao hơn, đồng thời vỉa cát  
bên cánh nâng tiếp xúc với vỉa sét bên  
cánh sụt, do vậy đứt gãy có khả năng  
chắn tốt [2, 11].  
CV  
Khả năng chắn nóc kém  
dẫn đến giảm khoảng  
cách di cư dọc tầng về  
phía Việt Nam  
Thailand  
SE95-05  
Lô A&B  
Lô A&B  
Cấu trúc đơn nghiêng và chắn  
nóc tốt, nên khả năng di cư dọc  
tầng tốt hơn về phía Việt Nam  
SE9
5
-08  
Hydrocarbon di cư thẳng đứng  
nạp vào cấu trúc nghịch đảo,  
không có di cư dọc tầng về phía  
Việt Nam  
Hình 14. Mô hình dịch chuyển đá mẹ khu vực nghiên cứu [12]  
3.4. Dịch chuyển dầu khí và tạo bẫy  
Kết quả nghiên cứu mô hình địa  
hóa khu vực thực hiện bởi JOGMEC và  
VPI [12] cho thấy, đá mẹ khu vực bể  
Malay - Thổ Chu được hình thành từ  
các tầng sinh đầm hồ (lacustrine) tuổi  
Oligocene - Miocene dưới và tầng  
sinh châu thổ - sông (fluvial - deltaic)  
tuổi Miocene giữa - trên có nguồn gốc  
từ than, được di cư với khoảng cách  
khá lớn (> 100 km) từ trung tâm bể  
Malay đến khu vực nghiên cứu (Hình  
14) [12, 13].  
Hình 15. Kết quả phân tích mẫu địa hóa bề mặt khu vực nghiên cứu [12]  
Nghịch đảo địa chấn (DFL)  
Cấu tạo C (Lô A&B)  
Nghịch đảo địa chấn (DFL)  
Cấu tạo C (Lô A&B)  
FS165  
FS165  
FS120  
Trên  
Trên  
Giữa  
Giữa  
FS120  
Dưới  
Base  
Upper  
Base  
Upper  
Dưới  
FS100  
FS100  
HC từ Pergau ꢀch tụ vào các khối nhô địa phương (đứt gãy phát triển nhiều hơn dọc theo đường dịch chuyển)  
HC dịch chuyển từ East Piatu ꢀch tụ vào các khối nhô địa phương  
Hình 16. Cơ chế dịch chuyển hydrocarbon vào bẫy chứa [2]  
DẦU KHÍ - SỐ 5/2020  
33  
THĂM DÒ - KHAI THÁC DẦU KHÍ  
Đứt gãy  
Bẫy kề áp  
đứt gãy  
Dị thường HC  
C-1X  
Tập sét đóng vai trò  
chắn nóc  
Dị thường  
HC  
Tập sét có khả năng không chắn do  
phía dưới bắt gặp vỉa cát  
Bẫy địa tầng  
Strike-slip fault  
FS40  
Tầng sét ~10m (bắt gặp tại giếng khoan C-1X) có  
thể đóng vai trò chắn nóc trong play móng. Tuy  
nhiên, tầng sét này đôi chỗ bị biến tướng, trong  
thành phần có cả bột/cát, do vậy khả năng chắn  
ꢀềm ẩn nhiều rủi ro.  
Shale  
Shale  
Hình 17. Bẫy chứa dạng hỗn hợp cấu trúc - địa tầng khu vực  
Hình 18. Mặt cắt địa chấn phương Tây Bắc - Đông Nam qua khu vực nghiên cứu [2]  
nghiên cứu [2]  
Khảo sát địa hóa bề mặt thực hiện bởi Idemitsu [13]  
cho thấy mật độ cao đến trung bình của dầu nhẹ (C10 - C14)  
tập trung ở phần Tây Nam của lô, nơi có giếng khoan C-1X.  
Điều đó cho thấy dầu khí đã được di cư đến từ trung tâm  
của bể Malay. Dầu và khi cùng di cư, nhưng khí di thoát  
sớm hơn do có mật độ và độ nhớt thấp hơn (Hình 15).  
Rủi ro chính đối với play móng là khả năng chắn nóc  
và chất lượng tầng chứa liên quan đến thành phần thạch  
học đá móng (có thể là đá biến chất, tương tự khu vực  
giếng khoan 46-KM-1X). Giếng khoan C-1X đã khoan  
vào tầng sét độ dày 10 m (xác định bởi giá trị GR cao ở  
dưới ranh giới FS40) cho thấy đây có thể là tầng chắn nóc  
(một phần) cho play móng. Tuy nhiên, do lớp sét này khá  
mỏng và thay đổi thành phần theo chiều ngang (đã bắt  
gặp nhiều lớp cát kết/bột kết ở trên và dưới tập sét này tại  
giếng khoan C-1X) nên khả năng chắn nóc tiềm ẩn rủi ro  
lớn (Hình 18).  
Tại khu vực nghiên cứu, dầu khí được nạp vào bẫy theo  
cơ chế dịch chuyển ngang từ tầng sinh tới các tầng chứa  
và dịch chuyển thẳng đứng thông qua kênh dẫn là các đứt  
gãy (Hình 16). Dịch chuyển thẳng đứng thường mang tính  
địa phương trong khu vực phát triển nhiều đứt gãy, trong  
khi đó dịch chuyển ngang có phạm vi ảnh hưởng lớn hơn  
[13]. Tuy nhiên, khoảng cách dầu khí có thể dịch chuyển  
ngang từ tầng sinh tới các tầng chứa, đặc biệt là khu vực  
rìa bể vẫn cần phải tiếp tục nghiên cứu, làm rõ.  
Với các thông tin có được đến thời điểm hiện tại, có  
thể thấy play móng khu vực nghiên cứu còn tồn tại nhiều  
rủi ro địa chất. Tuy nhiên, do thông tin về đối tượng móng  
còn hạn chế nên việc nghiên cứu, đánh giá chi tiết tiềm  
năng dầu khí play móng cần tiếp tục được tiến hành khi  
triển khai công tác tìm kiếm thăm dò tại khu vực.  
Kết quả phân tích nghịch đảo địa chấn (simultane-  
ous inversion) [2, 11] cho thấy, khu vực nghiên cứu tồn tại  
các loại bẫy: kề áp đứt gãy (ít gặp đứt gãy lớn trong khu  
vực), bẫy nếp lồi (thường có diện tích khép kín cấu tạo khá  
nhỏ), bẫy kề áp móng (gặp nhiều rủi ro liên quan đến tầng  
chắn) và bẫy địa tầng/hỗn hợp cấu trúc - địa tầng (thường  
có quy mô nhỏ).  
4. Trao đổi và thảo luận  
Kết quả phân tích nhiệt phân Rock-eval [6] tại khu vực  
giếng khoan C-1X (độ sâu 1.230 - 1.235 m, 1.235 - 1.240  
m, 1.240 - 1.245 m, 1.245 - 1.250 m và 1.530 - 1.535 m) cho  
thấy đá mẹ có nguồn gốc đầm hồ (lacustrine), với lượng  
nhỏ vật chất hữu cơ nguồn gốc lục địa. Có 2 mẫu than ở  
độ sâu 965 - 970 m và 1.400 - 1.405 m rất giàu hàm lượng  
vật chất hữu cơ (TOC tương ứng 47,52% và 42,38%) và có  
tiềm năng sinh dầu khí rất tốt (S2 tương ứng 144,23 kg/T  
và 130,22 kg/T).  
Trong khu vực Lô A & B, bẫy địa tầng tồn tại ở phía  
Nam, nhưng dị thường hydrocarbon lại nằm trên cánh  
nâng của đứt gãy phía Bắc và phía Tây của Lô A & B, độ sâu  
dưới 1.090 m. Do vậy, bẫy chứa ở đây được xác định là bẫy  
dạng hỗn hợp cấu trúc - địa tầng (Hình 17).  
3.5. Play móng  
Đá mẹ tại giếng khoan C-1X có độ phản xạ vitrinite  
R0 = 0,35 - 0,43%, Tmax < 435 oC cho thấy đá mẹ chưa đạt  
ngưỡng trưởng thành, nên hydrocarbon không được sinh  
tại chỗ mà di cư từ nơi khác đến. Một số mẫu (độ sâu 1.230  
Trong bể Malay -Thổ Chu, hiện có giếng khoan 46-KM-  
1X khoan đến đối tượng móng và đã xác định được thành  
phần đá móng chủ yếu là đá biến chất (metamorphic) [3].  
DẦU KHÍ - SỐ 5/2020  
34  
PETROVIETNAM  
- 1.235 m và 1.235 - 1.240 m) có tính chất tương tự với  
mẫu dầu/condensate có mặt ở khu vực khác trong bể Ma-  
lay - Thổ Chu. Như vậy, nhóm tác giả cho rằng đá mẹ khu  
vực nghiên cứu được di cư đến từ trung tâm bể Malay (có  
nét tương đồng với đá mẹ ở mỏ Pergau và East Piatu phía  
Malaysia). Nhận định này cũng phù hợp với các kết quả  
nghiên cứu về mô hình địa hóa tiến hành bởi Idemitsu và  
Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) năm 2013 [13].  
Đá mẹ khu vực nghiên cứu là các tầng sinh thành tạo  
trong môi trường đầm hồ (lacustrine) và tầng sinh châu  
thổ - sông (fluvial - deltaic) tuổi Miocene giữa - trên có  
nguồn gốc từ than, hàm lượng vật chất hữu cơ thay đổi từ  
trung bình đến tốt, chủ yếu sinh dầu và khí (kerogen loại  
II và III). Dầu khí được di cư từ trung tâm bể Malay (phía  
Malaysia) đến khu vực rìa Tây Nam bể Malay - Thổ Chu và  
nạp vào bẫy chứa dạng hỗn hợp cấu trúc - địa tầng, với sự  
chiếm ưu thế của dầu nhẹ.  
Kết quả phân tích tổng hợp về thạch học cho thấy  
các khoáng vật tạo đá và khoáng vật sét đi kèm tại khu  
vực nghiên cứu ít chịu ảnh hưởng của quá trình chôn vùi  
(burial). Chúng được vận chuyển đến từ một khoảng cách  
khá xa so với nguồn cung vật liệu, có thể chuyển tiếp từ  
môi trường sông cho đến đồng bằng ven biển (chịu ảnh  
hưởng của điều kiện sóng đến thủy triều). Chất lượng đá  
chứa chịu sự chi phối lớn của thành phần các khoáng vật  
thứ sinh trong các vỉa chứa. Theo đó, cùng với sự tồn tại  
của xi măng gắn kết carbonate, sự có mặt phong phú của  
các loại sét có tính trương nở (smectite, illite-smecite) có  
ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng bảo tồn độ rỗng cũng  
như khả năng lưu thông của các chất lưu, tức làm giảm độ  
rỗng và độ thấm của đá chứa [7].  
Đá chứa là các vỉa cát hình thành bởi hệ thống sông  
uốn khúc (meandering channel) trong môi trường sông  
(fluvial) đến đồng bằng ven biển (coastal plain), phân  
bố trong phạm vi hẹp và bề dày không lớn. Phân loại đá  
chứa chủ yếu là loại sub-litharenite và sub-arkose, với chất  
lượng chứa thay đổi từ kém tới trung bình, đôi chỗ được  
cải thiện tốt hơn, tùy thuộc hàm lượng xi măng và mức độ  
biến đổi của khoáng vật thứ sinh trong đá.  
Đá chắn là các tập sét xen kẹp các vỉa than hình thành  
trong môi trường đầm lầy ngập lụt (mangrove swamp), có  
bề dày không lớn trong khu vực rìa Tây Nam của bể.  
Hệ thống dầu khí trầm tích Đệ Tam khu vực nghiên  
cứu được dự báo tồn tại các cụm bẫy chứa tiềm năng, tuy  
nhiên ít có khả năng bắt gặp ở quy mô lớn. Đối với tầng  
móng, tồn tại nhiều rủi ro liên quan đến khả năng chắn  
nóc, cũng như bản chất thạch học (thành phần biến chất)  
của đá móng, cần được tiếp tục nghiên cứu và làm rõ.  
Phát hiện dầu khí trong 20 m vỉa chứa cát kết Mio-  
cene dưới cho thấy tập sét nằm phía trên đóng vai trò  
tầng chắn nóc. Rủi ro chắn biên của đứt gãy liên quan tới  
tỷ phần sét và tiếp xúc giữa các vỉa hàm lượng sét thấp ở  
2 bên cánh đứt gãy [2].  
Tài liệu tham khảo  
Mặc dù cả dầu và khí cùng di cư từ phía Malaysia đến  
phía Việt Nam, nhưng khí bị di thoát trước do có mật độ  
và độ nhớt thấp hơn. Với khoảng cách khá lớn (> 100 km)  
từ trung tâm bể, dự báo chủ yếu dầu nhẹ (hàm lượng C10  
- C14) di cư được đến phần rìa Tây Nam bể Malay - Thổ Chu  
[2, 13].  
[1] Simon P.Todd, M.E.Dunn and A.J.G.Bawise,  
“Characterizing petroleum systems in the tertiary of SE  
Asia”, Petroleum geology of Southeast Asia, Geological  
Society London Special Publications, Vol. 126, No. 1, pp.  
25 - 47, 1997. DOI: 10.1144/GSL.SP.1997.126.01.04.  
Theo đánh giá của nhà thầu tuy phát hiện không đem  
tính thương mại, nhưng việc tìm ra dầu ở giếng khoan  
C-1X nằm tương đối xa các khu vực đã có phát hiện và các  
mỏ đang khai thác (cách mỏ Sông Đốc gần nhất khoảng  
50 km về phía Tây Bắc), cho thấy tiềm năng dầu khí ở khu  
vực này vẫn là ẩn số hấp dẫn đối với công tác tìm kiếm,  
thăm dò trong thời gian tới.  
[2] Idemitsu, “The geological and geophysical  
evaluation report for Blocks 39 & 40/02, offshore Vietnam”,  
Final report, 2018.  
[3] Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Địa chất và Tài nguyên  
Dầu khí Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật (tái  
bản, sửa chữa và bổ sung), 2019, tr. 443 - 491.  
[4] Andrew D. Miall, Principles of sedimentary basin  
analysis (3rd updated and enlarge edition). Springer, 2000.  
5. Kết luận  
Kết quả khoan giếng C-1X với phát hiện dầu trong  
tầng chứa Miocene dưới đã khẳng định hoạt động tích  
cực của hệ thống dầu khí tại khu vực rìa Tây Nam bể Malay  
- Thổ Chu, là cơ sở để tiếp tục đẩy mạnh công tác tìm kiếm,  
thăm dò trong khu vực này.  
[5] Thomas Hantschel and Armin I.Kauerauf,  
Fundamental of basins and petroleum systems modeling.  
Springer, 2009.  
[6] VPI, “Geochemical evaluation for cutting samples  
of 40/02-CS-1X well”(final report), 2018.  
DẦU KHÍ - SỐ 5/2020  
35  
THĂM DÒ - KHAI THÁC DẦU KHÍ  
[7] VPI, “Petrography, SEM and XRD analyses of  
40/02-CS-1X well”, (final report), 2018.  
[12] VPI and Idemitsu,“Characterization of petroleum  
system in Vietnam by State-of-the-art geochemical  
technology”, Phase 3 Malay - Tho Chu basin, Final report for  
collaborative study, 2009.  
[8] Robert L.Fork, Petrology of sedimentary rocks.  
Austin, Tex: Hemphill’s Book Store, 1980.  
[13] JOGMEC and Idemitsu, “Joint study in the Blocks  
39 and 40/02, offshore Vietnam”(final report), 2013.  
[9] Joan E.Welton, SEM petrology atlas. American  
Association of Petroleum Geologists, 1984, Vol. 4.  
[14] Petronas, The petroleum geology and resources of  
Malaysia, 1999, pp. 665.  
[10] F.J.Pettijohn, Sedimentary rocks (second edition).  
New York: Harper & Brothers, 1957.  
[15] A.Sutoto, “The use of LWD and its impact on  
petrophysical evaluation in the Belida field, Block‘B’, south  
Natuna Sea”, Indonesian Petroleum Association, 23rd Annual  
Convention, 1994.  
[11] Idemitsu, “The geological and geophysical  
evaluation report for drilling proposal of an exploration  
well in the C-South prospect, Blocks 39 & 40/02, Offshore  
Vietnam”(final report), 2017.  
CHARACTERISATION OF PETROLEUM SYSTEMS IN THE SOUTHWESTERN  
MARGIN OF MALAY - THO CHU BASIN, OFFSHORE VIETNAM  
Hoang Anh Tuan1, Trinh Xuan Cuong1, Nguyen Thu Huyen2  
1Vietnam Oil and Gas Group  
2Vietnam Petroleum Institute  
Email: tuanha03@pvn.vn  
Summary  
Results of recent explorations found hydrocarbon accumulation in Lower Miocene reservoir at the C-1X well, approx. 50km northwest  
of Song Doc productive field, and have confirmed the active petroleum systems in the southwestern margin of the Malay - Tho Chu basin in  
Vietnam.  
The paper presents research results on the characteristics of the petroleum systems in the investigated area, including source rocks,  
reservoirs, seals, hydrocarbon migration and traps on the basis of integrated cutting sample analyses from the C-1X well in combination  
with regional geological and geophysical data. The obtained results contribute to a better understanding of the petroleum systems in the  
southwestern margin of Malay-Tho Chu basin, and encourage further exploration activities in this area in the future.  
Key words: Petroleum system, source rock, reservoir, seal, southwestern margin, Malay - Tho Chu basin.  
DẦU KHÍ - SỐ 5/2020  
36  
pdf 12 trang yennguyen 13820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm hệ thống dầu khí khu vực rìa Tây Nam bể trầm tích Malay - Thổ Chu, Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_he_thong_dau_khi_khu_vuc_ria_tay_nam_be_tram_tich_m.pdf