Chế định bảo lĩnh trong tố tụng hình sự và hướng hoàn thiện

THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
CHẾ ĐỊNH BẢO LĨNH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ  
VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN  
Nguyễn Thị Thu Hằng *  
*ThS. Khoa Luật Hình sự, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày, phân tích các vấn đề pháp  
lý quan trọng về chế định bảo lĩnh trong tố tụng hình sự, bao gồm: (i)  
Căn cứ áp dụng biện pháp bảo lĩnh; (ii) Nghĩa vụ cam đoan của bị can, bị  
cáo và điều kiện nhận bảo lĩnh của cá nhân, cơ quan, tổ chức; (iii) Trách  
nhiệm pháp lý của các chủ thể; (iv) Thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo  
lĩnh; (v) Thủ tục áp dụng bảo lĩnh và các trường hợp huỷ bỏ áp dụng bảo  
lĩnh. Thông qua đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy  
định của pháp luật tố tụng hình sự về chế định bảo lĩnh.  
Từ khóa: Tố tụng hình sự, biện  
pháp ngăn chặn, bảo lĩnh  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 26/08/2020  
: 16/09/2020  
: 19/09/2020  
Article Infomation:  
Abstract:  
K e y w o r d s : C r i m i n a l  
procedure, preventive measures,  
bail.  
Under this article, the author provides introduction and analysis of  
important legal issues on bail in criminal procedure, including: (i) bail  
conditions; (ii) obligations of suspects, defendants to make a guarantee  
and conditions for individuals, organizations undertaking bail as well  
(iii) liability of entities; (iv) competence to apply bail; (v) procedure for  
bail application and events of cancellation of bail. Base on that, the paper  
gives some suggestions to improve regulations of the criminal procedure  
law on bail.  
Article History:  
Received  
Edited  
: 26 Aug. 2020  
: 16 Sep. 2020  
: 19 Sep. 2020  
Approved  
1. Khái quát về chế định bảo lĩnh trong tố  
tụng hình sự  
thông qua một đạo luật tư pháp năm 1789;  
theo đó, quyền được tại ngoại được bảo đảm  
trong tất cả các trường hợp bị cáo không có  
quan hệ tình dục bị bắt vì các tội liên bang2.  
Đến thời điểm hiện tại, bảo lĩnh trở thành một  
chế định phổ biến trong pháp luật tố tụng hình  
sự (TTHS) ở nhiều quốc gia. Về cơ bản, các  
quốc gia trên thế giới áp dụng hai xu hướng  
cơ bản về bảo lĩnh sau đây:  
Trên thế giới, chế định bảo lĩnh đã xuất  
hiện từ thời trung cổ tại Anh và được quy  
định chính thức trong nhiều đạo luật từ thời  
kỳ này như Đạo luật Westminster năm 1275;  
Đạo luật Habeas Corpus năm 16771. Trên cơ  
sở sự mô phỏng pháp luật của Anh, Hoa Kỳ  
bắt đầu có sự ghi nhận về hoạt động bảo lĩnh  
1. Professional Bail Agents of the United States, About Bail - History of Bail, https://www.pbus.com/  
page/14, truy cập ngày 14/5/2020.  
2. Donald B. Verrilli, Jr., The Eighth Amendment and the Right to Bail: Historical Perspectives, Columbia Law  
scan_tab_contents, truy cập ngày 10/5/2020.  
74  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Thứ nhất, người được bảo lĩnh hoặc  
người nhận bảo lĩnh phải nộp một số tiền bảo  
đảm nhất định hoặc chứng khoán có giá trị để  
bảo đảm sự có mặt của người được bảo lĩnh  
khi có yêu cầu. Đây là xu hướng phổ biến ở  
hầu hết các quốc gia trên thế giới3.  
“hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam  
đối với một số loại tội phạm”. Tuy nhiên,  
trên thực tế, vì nhiều lý do khác nhau, bảo  
lĩnh vẫn là biện pháp ngăn chặn ít được các  
cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) lựa chọn  
áp dụng. Một trong những nguyên nhân của  
thực trạng này là do các hạn chế, vướng  
mắc của quy định bảo lĩnh trong TTHS.  
Thứ hai, ngoài việc nộp tiền, người nhận  
bảo lĩnh có thể dùng uy tín cá nhân để bảo  
đảm tại ngoại cho người được bảo lĩnh4.  
2. Căn cứ áp dụng biện pháp bảo lĩnh  
Pháp luật TTHS Việt Nam ghi nhận cả  
hai hình thức bảo lĩnh tại ngoại: bằng tiền và  
bằng uy tín cá nhân/tổ chức. Tuy nhiên, thuật  
ngữ “đặt tiền để bảo đảm” được sử dụng cho  
trường hợp bị can, bị cáo hoặc người thân  
thích của họ nộp tiền để tại ngoại. Bảo lĩnh  
trong pháp luật Việt Nam chỉ được hiểu là  
việc dùng uy tín cá nhân/tổ chức để bảo đảm  
tại ngoại cho người được bảo lĩnh.  
Xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng và bảo  
vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp  
pháp của cá nhân được quy định tại Điều 8  
Bộ luật TTHS, các biện pháp ngăn chặn được  
áp dụng, huỷ bỏ và thay đổi dựa trên hai tiêu  
chí cơ bản được áp dụng để đánh giá: (i) tính  
hợp pháp và/hoặc (ii) sự cần thiết.  
Khi bị can, bị cáo đang bị tạm giam5,  
căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho  
xã hội của hành vi và nhân thân của bị can,  
bị cáo, cơ quan THTT có thể quyết định áp  
dụng biện pháp bảo lĩnh thay thế cho biện  
pháp tạm giam6. Như vậy, việc thay thế tạm  
giam bằng bảo lĩnh phụ thuộc vào ý chí chủ  
quan của cơ quan THTT qua việc đánh giá  
sự cần thiết của việc áp dụng biện pháp tạm  
giam trong từng trường hợp cụ thể. Đối với  
trường hợp bị can, bị cáo là người dưới 18  
tuổi, sau khi quyết định tạm giam mà có đủ  
căn cứ áp dụng biện pháp bảo lĩnh hoặc đặt  
tiền để bảo đảm, cơ quan THTT cần thay thế  
ngay biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo  
lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm7.  
Chế định bảo lĩnh trong TTHS Việt  
Nam được định hình rõ rệt từ Bộ luật TTHS  
năm 1988, ngày càng hoàn thiện trong Bộ  
luật TTHS năm 2003 và hiện nay là Bộ  
luật TTHS năm 2015. Cùng với biện pháp  
đặt tiền để bảo đảm, bảo lĩnh cũng là biện  
pháp ngăn chặn trong TTHS áp dụng thay  
thế biện pháp tạm giam. Những quy định  
của pháp luật TTHS hiện hành về bảo lĩnh  
và đặt tiền đã cơ bản đáp ứng được tinh  
thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày  
02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược  
cải cách tư pháp đến năm 2020; theo đó,  
một trong những nhiệm vụ được đặt ra là:  
&re=02, truy cập ngày 17/5/2020. Điều 102 Bộ luật TTHS Liên bang Nga, https://www.imolin.org/doc/amlid/  
Russian_Federation_Criminal_Code.pdf, truy cập ngày 17/5/2020. Điều116a, Điều 124 Bộ luật TTHS Cộng hoà  
4. Điều 66 Bộ luật TTHS Trung Quốc, http://www.gov.cn/flfg/2012-03/17/content_2094354.htm, truy cập  
ngày 20/5/2020.  
5. Theo Mục 20 Công văn số 5024/VKSTC-V14 ngày 19/11/2018 về việc giải đáp vướng mắc liên quan đến  
quy định của Bộ luật TTHS và nghiệp vụ THQCT, kiểm sát việc giải quyết VAHS trong ngành KSND, chỉ áp  
dụng biện pháp bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm đối với bị can, bị cáo đang bị tạm giam.  
6. Khoản 1 Điều 121 Bộ luật TTHS năm 2015.  
7. Khoản 1 Điều 12 Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày  
21/12/2018 về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật TTHS về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi.  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
75  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
Trên thực tế, do chưa có văn bản hướng  
dẫn của cơ quan có thẩm quyền về tiêu chí  
áp dụng biện pháp bảo lĩnh, tạm giam vẫn là  
lựa chọn an toàn của cơ quan THTT. Thậm  
chí có những bị can, bị cáo thuộc loại tội  
phạm ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt,  
phạm tội lần đầu có yêu cầu bảo lĩnh nhưng  
vẫn không được cơ quan THTT chấp thuận.  
Ngược lại, có trường hợp cơ quan THTT  
“mạnh dạn” áp dụng bảo lĩnh cho bị can  
phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Ví dụ, trong  
vụ án MobiFone mua 95% cổ phần của  
AVG, bị can Phạm Thị Phương Anh - cựu  
Phó Tổng giám đốc MobiFone bị khởi tố về  
tội vi phạm quy định về quản lý và sử dụng  
vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng  
quy định tại khoản 3 Điều 220 Bộ luật hình  
sự năm 2015 có mức cao nhất của khung  
hình phạt lên đến 20 năm - thuộc loại tội  
phạm đặc biệt nghiêm trọng đã được thay  
đổi biện pháp ngăn chặn sang bảo lĩnh sau  
hơn 9 tháng bị tạm giam8. Trong trường hợp  
này, bảo lĩnh tuy không trái với quy định  
về căn cứ áp dụng bảo lĩnh, nhưng lại thiếu  
công bằng với những trường hợp có tính  
chất, mức độ nguy hiểm ít hơn nhiều, nhân  
thân tốt nhưng lại không được chấp thuận.  
nhân thân của bị can, bị cáo, cơ quan THTT  
vẫn có thể quyết định áp dụng biện pháp bảo  
lĩnh thay thế cho biện pháp tạm giam;  
- Không áp dụng biện pháp bảo lĩnh  
thay thế cho biện pháp tạm giam như: bị  
can, bị cáo có nhân thân xấu; phạm tội đặc  
biệt nghiêm trọng do cố ý; đối tượng là chủ  
mưu, cầm đầu; bị bắt theo quyết định truy  
nã; phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái  
phạm nguy hiểm…  
3. Nghĩa vụ cam đoan của bị can, bị cáo và  
điều kiện nhận bảo lĩnh của cá nhân, cơ  
quan, tổ chức  
Thứ nhất, nghĩa vụ cam đoan của bị can,  
bị cáo.  
Bộ luật TTHS năm 2003 chỉ đặt ra nghĩa  
vụ cam đoan đối với cá nhân, tổ chức nhận  
bảo lĩnh mà thiếu các quy định về nghĩa vụ  
cam đoan của bị can, bị cáo được bảo lĩnh.  
Rõ ràng, đây là một thiếu sót rất lớn vì để  
được áp dụng bảo lĩnh, bị can, bị cáo cũng  
cần có những cam đoan cụ thể về việc tuân  
thủ các quy định của pháp luật làm cơ sở để  
đánh giá việc chấp hành và áp dụng lại biện  
pháp tạm giam khi bị can, bị cáo có những  
hành vi vi phạm nghĩa vụ cam đoan, gây  
ảnh hưởng tới hoạt động tố tụng trong thời  
gian được bảo lĩnh. Khắc phục hạn chế này,  
khoản 3 Điều 121 Bộ luật TTHS năm 2015  
đã quy định cụ thể về nghĩa vụ cam đoan  
của bị can, bị cáo. Theo đó, bị can, bị cáo  
được bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan thực  
hiện các nghĩa vụ: có mặt theo giấy triệu tập,  
trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc  
do trở ngại khách quan; không bỏ trốn hoặc  
tiếp tục phạm tội; không mua chuộc, cưỡng  
ép, xúi giục người khác khai báo gian dối,  
cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy,  
giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án,  
Để khắc phục bất cập nêu trên, tác giả  
cho rằng, Tòa án nhân dân Tối cao cần ban  
hành văn bản hướng dẫn căn cứ áp dụng biện  
pháp bảo lĩnh theo hướng sau:  
- Ưu tiên áp dụng biện pháp bảo lĩnh thay  
thế cho biện pháp tạm giam đối với bị can, bị  
cáo thoả mãn các điều kiện như: (i) bị can,  
bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng; tội nghiêm  
trọng hoặc tội rất nghiêm trọng do vô ý; (ii) bị  
can, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt,  
có nơi cư trú rõ ràng, thành khẩn khai báo…  
Các trường hợp còn lại, căn cứ vào tính chất,  
mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và  
8. Thái Sơn, Mở rộng điều tra vụ AVG: Khởi tố thêm 5 lãnh đạo MobiFone, https://thanhnien.vn/thoi-su/mo-  
Vụ MobiFone mua AVG: Truy tố 2 nguyên Bộ trưởng và 12 đồng phạm, http://cand.com.vn/Ban-tin-113/  
76  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không  
đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng,  
bị hại, người tố giác tội phạm và người thân  
thích của những người này.  
Việc quy định cụ thể về điều kiện nhận  
bảo lĩnh của cơ quan, tổ chức như trên là rất  
cần thiết để đảm bảo việc thực hiện các nghĩa  
vụ khi nhận bảo lĩnh, đồng thời tránh tình  
trạng lúng túng khi áp dụng trên thực tế.  
Thứ hai, điều kiện nhận bảo lĩnh của cá  
nhân, cơ quan, tổ chức.  
4. Trách nhiệm pháp lý của bị can, bị cáo  
và chủ thể nhận bảo lĩnh  
Pháp luật TTHS hiện hành ghi nhận bảo  
lĩnh được thực hiện dưới hai hình thức: cơ  
quan, tổ chức bảo lĩnh và cá nhân bảo lĩnh9.  
Bộ luậtTTHS năm 2015 đã quy định chặt  
chẽ và chi tiết điều kiện nhận bảo lĩnh của  
cá nhân. Cụ thể, cá nhân nhận bảo lĩnh phải  
đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau: (i) Cá nhân  
là người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt,  
nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập  
ổn định và có điều kiện quản lý người được  
bảo lĩnh; (ii) Bị can, bị cáo được bảo lĩnh là  
người thân thích của họ; (iii) Có ít nhất hai  
người cùng nhận bảo lĩnh và (iv) Làm giấy  
cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các  
nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều 121 Bộ  
luậtTTHS năm 2015 có xác nhận của chính  
quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư  
trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm  
việc, học tập.  
Hiện nay, để được cơ quan có thẩm  
quyền áp dụng biện pháp bảo lĩnh, bị can, bị  
cáo và chủ thể nhận bảo lĩnh đều phải làm  
giấy cam đoan theo quy định của pháp luật  
TTHS, đi kèm với đó là các trách nhiệm pháp  
lý khi vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan. Bị can,  
bị cáo được bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan  
thực hiện các nghĩa vụ như có mặt theo giấy  
triệu tập, không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm  
tội, tiêu huỷ chứng cứ… Trường hợp bị can,  
bị cáo vi phạm các nghĩa vụ đã cam đoan  
thì đương nhiên bị tạm giam. Chủ thể nhận  
bảo lĩnh cũng phải làm giấy cam đoan có xác  
nhận của người đứng đầu (đối với cơ quan, tổ  
chức); xác nhận của chính quyền xã, phường,  
thị trấn nơi cư trú hoặc cơ quan tổ chức nơi  
làm việc, học tập (đối với cá nhân) với nội  
dung không để bị can, bị cáo vi phạm các  
nghĩa vụ đã cam đoan. Cơ quan, tổ chức, cá  
nhân nhận bảo lĩnh để bị can, bị cáo vi phạm  
nghĩa vụ đã cam đoan thì tùy tính chất, mức  
độ vi phạm mà bị phạt tiền theo quy định của  
pháp luật. Nghị định số 167/2013/NĐ-CP  
ngày 12/11/2013 của Chính phủ về xử phạt  
vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh,  
trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã  
hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống  
bạo lực gia đình đã quy định mức phạt tiền từ  
1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với  
hành vi “vi phạm các quy định về việc chấp  
hành biện pháp ngăn chặn: bắt, tạm giữ, tạm  
Tuy nhiên, Bộ luật TTHS năm 2015 vẫn  
chưa quy định về điều kiện nhận bảo lĩnh của  
cơ quan, tổ chức. Vì vậy, tác giả cho rằng, văn  
bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao  
cần quy định cụ thể điều kiện nhận bảo lĩnh  
của cơ quan, tổ chức. Theo đó, cơ quan, tổ  
chức không được nhận bảo lĩnh cho bị can, bị  
cáo là người của cơ quan, tổ chức mình trong  
các trường hợp: cơ quan nhà nước đang áp  
dụng thủ tục giải thể theo quyết định của cơ  
quan nhà nước có thẩm quyền; doanh nghiệp  
đang rơi vào tình trạng mất khả năng thanh  
toán hoặc đang bị áp dụng thủ tục giải quyết  
phá sản; hợp tác xã đang bị áp dụng thủ tục  
giải thể; doanh nghiệp nước ngoài không có  
chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam…  
giam, bảo lãnh10  
, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt  
tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm hoặc có  
các hành vi vi phạm các biện pháp ngăn chặn  
9. Khoản 2 Điều 121 Bộ luật TTHS năm 2015.  
10. Nghị định có sự nhầm lẫn khi sử dụng thuật ngữ; cần lưu ý rằng bảo lãnh và bảo lĩnh là hai chế định hoàn  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
77  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
khác theo quy định của pháp luật”11. Tác giả  
cho rằng, so với tính chất và mức độ vi phạm,  
mức phạt tiền này là quá thấp, chưa đủ sức để  
“răn đe”, phòng ngừa vi phạm có thể xảy ra.  
Ở một số nước trên thế giới, chế tài xử phạt  
trong trường hợp người nhận bảo lĩnh không  
thực hiện đúng nghĩa vụ của mình có tính  
nghiêm khắc hơn rất nhiều12, thậm chí có thể  
bị truy cứu trách nhiệm hình sự13. Nhằm mục  
đích phòng ngừa vi phạm nghĩa vụ bảo lĩnh,  
tác giả cho rằng, cần sửa đổi quy định của  
Nghị định số 167/2013/NĐ-CP về xử phạt vi  
phạm hành chính đối với hành vi vi phạm các  
quy định về chấp hành biện pháp ngăn chặn  
nói chung và biện pháp bảo lĩnh nói riêng  
theo hướng: tăng mức xử phạt tiền lên gấp  
nhiều lần để ràng buộc trách nhiệm của chủ  
thể nhận bảo lĩnh, nâng cao ý thức chấp hành  
pháp luật, đồng thời đảm bảo mức phạt tiền  
có sự tương xứng với mức độ vi phạm và hậu  
quả nghiêm trọng có thể xảy ra (người được  
bảo lĩnh bỏ trốn, tiếp tục phạm tội…).  
Theo quy định hiện hành, những người  
có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo lĩnh  
bao gồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ  
quan điều tra các cấp; Viện trưởng, Phó  
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và  
Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát  
quân sự các cấp; Chánh án, Phó Chánh án  
Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh  
án Tòa án quân sự các cấp; Thẩm phán chủ  
tọa phiên tòa; Hội đồng xét xử14. Tuy nhiên,  
có ý kiến cho rằng, Chánh án, Phó Chánh  
án không có thẩm quyền áp dụng biện pháp  
bảo lĩnh15. Bởi lẽ, quy định về nhiệm vụ,  
quyền hạn cụ thể khi tiến hành giải quyết  
vụ án hình sự của Chánh án, Phó Chánh  
án liên quan đến thẩm quyền áp dụng biện  
pháp ngăn chặn, Điều 44 Bộ luậtTTHS năm  
2015 chỉ đề cập đến thẩm quyền áp dụng,  
thay đổi, huỷ bỏ biện pháp tạm giam, mà  
không đề cập đến thẩm quyền áp dụng biện  
pháp bảo lĩnh cũng như các biện pháp ngăn  
chặn khác. Thêm vào đó, quy định về thẩm  
quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp  
ngăn chặn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử  
sơ thẩm16 và xét xử phúc thẩm17 đều trao  
quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp  
ngăn chặn nói chung và biện pháp bảo lĩnh  
5. Thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo  
lĩnh; trình tự, thủ tục áp dụng bảo lĩnh và  
các trường hợp huỷ bỏ áp dụng bảo lĩnh  
Thứ nhất, thẩm quyền áp dụng biện  
pháp bảo lĩnh.  
toàn khác nhau.  
11. Điểm a khoản 3 Điều 14 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP.  
12. Tham khảo: Khoản 4 Điều 103 Bộ luật TTHS Nga quy định: Trong trường hợp người nhận bảo lĩnh không  
thực hiện nghĩa vụ của mình thì họ có thể bị phạt một khoản tiền đến 100 lần mức thu nhập tối thiểu. https://  
13. Tham khảo: Điều 70 Bộ luật TTHS Trung Quốc quy định: Trường hợp không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo  
lĩnh của mình, thì người bảo lĩnh sẽ bị phạt và nếu hành vi cấu thành tội phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm  
hình sự theo quy định của pháp luật, https://www.chinalawtranslate.com/en/criminal-procedure-law-2018/,  
truy cập ngày 12/4/2020.  
14. Khoản 4 Điều 121 Bộ luật TTHS năm 2015.  
15. Nguyễn Thành Giang, Chánh án có quyền áp dụng biện pháp bảo lĩnh, đặt tiền... không?,  
ngày 22/5/2020. Trần Văn Hùng, Thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự và một số  
22/5/2020.  
16. Khoản 1 Điều 278 Bộ luật TTHS năm 2015.  
17. Khoản 1 Điều 347 Bộ luật TTHS năm 2015.  
78  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
THỰC TIỄN PHÁP LUẬT  
nói riêng sau khi thụ lý vụ án cho Thẩm  
phán chủ tọa phiên tòa. Riêng đối với biện  
pháp tạm giam, thẩm quyền thuộc về Chánh  
án, Phó Chánh án tòa án.  
Theo quy định của pháp luật TTHS  
hiện hành, việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh  
bị huỷ bỏ khi: (i) Bị can, bị cáo vi phạm  
nghĩa vụ đã cam đoan tại khoản 3 Điều 121  
Bộ luật TTHS năm 2015; (ii) Hết thời hạn  
áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Trong thời hạn  
10 ngày trước khi hết thời hạn áp dụng biện  
pháp ngăn chặn bảo lĩnh, cơ quan đã đề  
nghị áp dụng biện pháp ngăn chặn này phải  
thông báo cho Viện kiểm sát để quyết định  
hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn  
khác19; (iii) Vụ án rơi vào các trường hợp  
huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn do pháp luật  
quy định20.  
Theo tác giả, Điều 44 Bộ luật TTHS  
năm 2015 đã quy định theo hướng mở,  
ngoài liệt kê các nhiệm vụ, quyền hạn cụ  
thể, tại điểm e điều này còn quy định Chánh  
án, Phó Chánh án tòa án có thể “tiến hành  
hoạt động tố tụng khác theo quy định của  
Bộ luật TTHS”. Theo quy định hiện hành,  
từ thời điểm thụ lý vụ án, Chánh án tòa án  
có thời hạn 03 ngày để phân công thẩm  
phán chủ tọa phiên tòa giải quyết vụ án18.  
Như vậy, mặc dù các quy định cụ thể trong  
giai đoạn xét xử đã trao quyền quyết định  
áp dụng biện pháp bảo lĩnh cho thẩm phán  
chủ tọa phiên tòa. Tuy nhiên, trong thời hạn  
này, vì chưa có thẩm phán chủ tọa phiên  
tòa nên quyền áp dụng biện pháp bảo lĩnh  
thuộc về Chánh án, Phó Chánh án tòa án.  
Trong trường hợp Chánh án, Phó Chánh  
án tòa án cũng là thẩm phán chủ tọa phiên  
tòa, thì đương nhiên có quyền áp dụng biện  
pháp bảo lĩnh theo các quy định của pháp  
luật TTHS.  
Trên thực tế, ngoài những trường hợp  
trên, có thể xảy ra rất nhiều trường hợp  
không thể tiếp tục áp dụng biện pháp bảo  
lĩnh nhưng lại chưa có hướng dẫn cụ thể về  
cách thức xử lý gây khó khăn và lúng túng  
cho các cơ quan tiến hành tố tụng như: phát  
hiện bị can, bị cáo phạm tội khác trước khi  
áp dụng biện pháp bảo lĩnh; chủ thể nhận bảo  
lĩnh từ chối tiếp tục bảo lĩnh trước khi hết  
thời hạn bảo lĩnh; cá nhân nhận bảo lĩnh bị  
truy cứu trách nhiệm hình sự; cá nhân nhận  
bảo lĩnh chết; cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh  
bị giải thể, phá sản… Đây là những trường  
hợp không thể tiếp tục thực hiện bảo lĩnh do  
những nguyên nhân xuất phát từ chính bản  
thân bị can, bị cáo hoặc từ phía cơ quan, tổ  
chức, cá nhân nhận bảo lĩnh nhưng lại chưa  
có cơ sở pháp lý để huỷ bỏ việc áp dụng biện  
pháp bảo lĩnh.  
Thứ hai, về trình tự, thủ tục áp dụng biện  
pháp bảo lĩnh.  
Pháp luật hiện hành chưa quy định cụ  
thể về trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp  
bảo lĩnh nên trong nhiều trường hợp, giấy  
cam đoan của bị can, bị cáo và của chủ thể  
nhận bảo lĩnh có thể được xem là đề nghị  
được bảo lĩnh; cũng có trường hợp, đề nghị  
bảo lĩnh được thể hiện dưới dạng đơn xin  
bảo lĩnh. Điều này vô hình trung làm thiếu  
đi sự thống nhất, gây lúng túng khi áp dụng,  
thi hành trên thực tế.  
Để đảm bảo áp dụng thống nhất biện  
pháp bảo lĩnh trên thực tế, khắc phục những  
bất cập phát sinh, tác giả cho rằng, Tòa án  
nhân dân tối cao cần ban hành văn bản hướng  
dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục áp dụng biện  
pháp bảo lĩnh; về các trường hợp biện pháp  
Thứ ba, các trường hợp huỷ bỏ áp dụng  
biện pháp bảo lĩnh.  
bảo lĩnh bị huỷ bỏ  
18.Khoản 2 Điều 276 BLTTHS năm 2015.  
19. Khoản 2 Điều 125 BLTTHS năm 2015.  
20. Điều 125 BLTTHS năm 2015.  
Số 03 + 04 (427 + 428) - T2/2021  
79  
pdf 6 trang yennguyen 21160 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chế định bảo lĩnh trong tố tụng hình sự và hướng hoàn thiện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfche_dinh_bao_linh_trong_to_tung_hinh_su_va_huong_hoan_thien.pdf