Các con đường giao lưu văn hóa trong lịch sử

CÁC CONĐƯỜNG  
GIAOLƯUVĂN HÓATRONGLỊCHSƯ  
̉
LÊ THỊ KIM LOAN  
Tóm tắt  
̉
Giao lưu văn hóa là một hiện tượng phổ biến trong lịch sư nhân loại. Mỗi nền văn hóa và mỗi  
cộng đồng người có thể bị cưỡng bức hoặc chủ động tham gia vào quá trình này theo các cách thức/  
phương thức khác nhau. Đây chính là những con đường trong hành trình biến đổi văn hóa của các  
dân tộc trên phạm vi toàn thế giới. Những con đường này một mặt có thể phá vỡ tính bền vững và ổn  
định tương đối của văn hóa một dân tộc nhưng mặt khác lại góp phần làm nên sự đa dạng, tiến bộ văn  
hóa của chính dân tộc đó. Cho đến nay, nhân loại đã trải qua 4 con đường giao lưu văn hóa là: di dân,  
̉
thương mại, chiến tranh và viễn thông điện tư.  
Từ khóa: Con đường, tiếp xúc, giao lưu, tiếp biến, văn hóa  
Abstract  
Cultural exchange is a well-known phenomenon in the human history. Each culture and each  
human community may be forced or active in its participation into the process of cultural exchange  
by different ways/ approaches. These are ways of cultural change of nations in the world. On the one  
hand, these ways may damage a relative stability and sustainability of the nation’s culture. On the  
other hand, they also contribute to the creation of cultural multiform and development of this nation.  
So far, the human being has been going through 4 ways of cultural exchange such as: migration,  
trading, warfare and electronic communication.  
Keywords: Way, contact, exchange, acculturation, culture  
ác thuật ngữ tiếp xúc, giao lưu và tiếp  
biến được dùng rất phổ biến trong  
lĩnh vực văn hóa. Xét về mặt từ ngữ,  
Thuật ngữ tiếp biến văn hóa là một thuật  
ngữ kép, được sử dụng để chỉ sự tiếp thu rồi  
biến đổi những yếu tố văn hóa trong quá trình  
tiếp xúc, giao lưu của một nền văn hóa này với  
một nền văn hóa khác. “Acculturation” là thuật  
ngữ được phương Tây sử dụng để mô tả hiện  
tượng này và nó được hiểu là tiếp biến văn hóa.  
C
đây là các thuật ngữ Hán - Việt nhằm mô tả các  
hiện tượng trong một quá trình tương tác giữa  
chúng với nhau.  
Thuật ngữ tiếp xúc văn hóa (cultural  
contests) được sử dụng để chỉ sự va chạm vào  
nhau của các nền văn hóa khi được đặt cạnh  
nhau.  
Không phải đến cuối thế kỷ XX, chúng ta  
mới tiếp cận và hiểu rõ các thuật ngữ tiếp xúc,  
giao lưu và tiếp biến văn hóa. Cuối thế kỷ XIX,  
sự xuất hiện các lý thuyết Truyềnbá luận trong  
nghiêncứuvăn hóa đã đề cậpvà giải thíchmột  
số hiện tượng tương tự với hiện tượng tiếp  
xúc và giao lưu văn hóa. Lý thuyết thiên di của  
Thuật ngữ giao lưu văn hóa (cultural  
exchanges) được sử dụng để chỉ sự trao đổi,  
đan xen, chia sẻ giữa các nền văn hóa saukhi  
tiếp xúc với nhau.  
thủyvà cổ,trung đại. Cáccộng đồng/tộcngười  
khác nhau, sau những cuộc di cư, đã đến với  
nhau, sống cạnh nhau, xen kẽ nhau, dẫn đến  
sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa. Trải qua hàng  
nghìn năm, mỗi cộng đồng/tộc người một mặt  
bồi đắp nên bản sắc riêng của mình nhưng  
mặt khác góp phần cùng các cộng đồng/tộc  
người lân bang tạo lập ra một vùng văn hóa  
với những đặc trưng riêng. Phải kể đến đó là  
vùng văn hóa Nam Á, vùng Ả Rập, vùng Đông  
Nam Á, vùng Bắc Á ở phương Đông; vùng Bắc  
Âu, vùng Nam Âu, vùng Tây Âu, và vùngĐông  
Âu ở phương Tây. Sau thời kỳ trung cổ, có hai  
cuộc di dân lớn chưa từng thấy trong lịch sử  
nhân loại đã được xáclập.  
Friedrich Ratzel (1844-1904), người sáng lập ra  
truyền bá luận ở Đức; lý thuyết vòng văn hóa  
của Leo Frobeunius (1873-1928), chuyên gia về  
văn hóa châu Phi; lý thuyết vòng văn hóa của  
Fritz Graebner (1877-1934), chuyên gia nghiên  
cứu các bộ tộc châu Úc và một số luận điểm của  
các nhà nghiên cứu khác như E.Sapir, W.Riverer,  
G.E.Smith, W.J.Perry, C.L Wissler và A.L.  
Kroeber đã được xây dựng trên cơ sở phân tích  
các biểu hiện văn hóa của một cộng đồng, một  
tộc người cụ thể. Nhìn chung, các lý thuyết  
Truyền bá luận cho rằng các nền văn hóa có tính  
ổn định tương đối nhưng không phải là bất  
biến, đôi khi có sự vay mượn các yếu tố từ nền  
văn hóa khác, trong đó những đặc điểm lan  
truyền văn hóa trong không gian đóng vai trò  
lớn. Sự lan truyền/truyền bá diễn ra qua quá  
trình thiên di của các yếu tố văn hóa hoặc các tổ  
hợp văn hóa từ trung tâm đến các vùng. Thiên  
di văn hóa là nội dung chủ yếu của quá trình lịch  
sử và văn hóa của loài người. Sự biến đổi văn  
hóa của mọi xã hội suy cho cùng là kết quả sự  
vay mượn văn hóa từ các xã hội khác… Sau khi  
phân tích hệ quả các lý thuyết Truyền bá luận,  
có thể nhận thấy: mọi sự biến đổi to lớn về văn  
hóa của một cộng đồng/tộc người đều xuất  
phát từ việc tiếp xúc và giao lưu của cộng  
đồng/tộc người đó với những cộng đồng/tộc  
người khác.  
Thứnhất,đólàcuộcdidâncủanhữngngười  
châu Âu, châu Á, châu Phi đến một châu lục  
mới, được tìm ra bởi nhà hàng hải Christopher  
ColumbusvàF.Magellan.Năm1492,mộtđoàn  
thámhiểm doC. Columbuschỉhuyđã tới được  
quần đảo miền trung châu Mỹ nhưng ông lại  
tưởng là đã tới được Ấn Độ, ông gọi những  
người thổ dân ở đây là Indians. Sau này, một  
nhà hàng hải người Italia là Amerigo Vespucci  
mới phát hiện ra Ấn Độ của C. Columbus  
không phải là Ấn Độ mà là một vùng đất hoàn  
toàn mới đối với người châu Âu. Amerigo đã  
viết một cuốn sách để chứng minh điều đó.  
Vùng đất mới đó sau này mang tên America  
hay còn gọi là châu Mỹ (Bắc Mỹ). Từ năm 1519  
đến 1522, F. Magellan đã cầm đầu đoàn thám  
hiểmTâyBanNha gồm 5 con tàuvới 265người  
lần đầu tiên đi vòng quanh thế giới, vượt Đại  
TâyDương,tới bờbiểnphíađông của châu Mỹ.  
Họ đi theo một eo biển hẹp gần cực nam của  
vùng đất mới và sang được đại dương mênh  
mông ở phía bên kia một cách thuận buồm  
xuôi gió và không gặp bất cứ một cơn bão  
đáng kể nào. Ông đặt tên cho đại dương mới  
đó là Thái Bình Dương và xác lập thêm vùng  
cực nam của châu Mỹ hay còn gọi là Nam Mỹ.  
Những người dân châu Âu, châu Á, châu Phi di  
cư sang châu Mỹ mang theo những thói quen,  
phong tục, tập quán, tôn giáo, tínngưỡng,văn  
Mặc dù các thuật ngữ tiếp xúc, giao lưu và  
tiếpbiếnvănhóa chỉ mới xuấthiệnvàphổbiến  
trên thế giới từ cuối thế kỷ XX, nhưng các hiện  
tượng và biểu hiện của nó đã tồn tại liên tục  
từ thời kỳ cổ đại đến nay. Có 4 con đường hay  
chính là 4 phương thức làm biến đổi văn hóa  
của các cộng đồng/tộc người trong lịch sử  
nhân loại, cụ thể nhưsau:  
1. Con đường didân  
Ngaytừ thờikỳtiềnsử,sự tiếpxúc,giaolưu  
và tiếp biến văn hóa giữa các cộng đồng/tộc  
người đã diễn ra. Có một số yếu tố chi phối  
hoạt động này nhưng chủ yếu là do các cuộc di  
dân tự nhiên (các nhà khoa học Truyềnbá luận  
gọi đó là “thiên di”) xảy ra trong thời nguyên  
học nghệ thuật… của dân tộc mình và sống đan  
xen với người của các dân tộc khác bao gồm cả  
thổ dân Indians. Sự tiếp xúc, giao lưu và tiếp  
biến văn hóa của các cộng đồng châu Mỹ để tạo  
ra sự đa dạng văn hóa là một điều tất yếu.  
lập theo thế chân vạc ở miền Đông bán đảo  
Đông Dương, nhưng luôn có mối quan hệ di  
cư qua lại nhiều chiều với nhau, bổ sung,làm  
phong phú cho nhau, đồng thời phát triển,  
giao lưu với nhiều nền văn hóa khác ở khu vực  
và phát triển thành ba nền văn minh lớn, ứng  
với ba quốc gia cổ: Văn Lang - Âu Lạc, Sa  
Huỳnh - Chămpa và Phù Nam. Ba phức hệ văn  
hóa đó đều thu nhận nhiều yếu tố ngoại sinh  
và bản địa hóa các yếu tố ấy để phát triển. Do  
vậy, những nền văn minh ấy đều sáng rực rỡ,  
lan tỏa ảnh hưởng ra toàn vùng Đông Nam Á  
(7, tr.140).  
Thứ hai, đó là cuộc di dân của những người  
châu Âu đến một châu lục mới khác nằm ở cực  
nam của Đông Nam Á. Cuộc đổ bộ đầu tiên lên  
vùng đất này do nhà hàng hải người Hà Lan là  
Willem Janszoon vào năm 1606, sau đó tổng  
cộng có 29 nhà hàng hải người nước này tiếp  
tục khám phá. Chính vì vậy, châu lục này (chủ  
yếu là nước Australia hiện nay) có tên là Tân Hà  
Lan. Một thế kỷ rưỡi sau đó, người Anh bắt đầu  
đổ bộ lên châu lục này, tạo ra những xung đột  
văn hóa với chính người Hà Lan đến trước và  
những người thổ dân bản địa.Trải qua bốn thế  
kỷ tiếp xúc và giao lưu, văn hóa châu Đại dương  
mang đậm chuẩn mực của văn hóa Anh nhưng  
vẫn có nét khoáng đạt, nhân văn của những  
người thổ dân bản địa.  
Quá trình di dân, đan xen các cộng đồng  
và tộc người trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam  
vẫn không ngừng diễn ra trong suốt quá trình  
lịch sử để tạo ra các vùng văn hóa: vùng Tây  
Bắc, vùng Việt Bắc, vùng châu thổ Bắc Bộ, vùng  
Trung Bộ, vùngTrường Sơn -TâyNguyên, vùng  
Nam Bộ.Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện  
đại hóa đất nước, nhà nước chủ trương qui  
hoạch các vùng kinh tế trọng điểm, kéo theo  
việc giải phóng mặt bằng xây dựng, di dân  
sang các vùng sinh sống mới, phát triển sản  
xuất theo mô hình nông nghiệp hiện đại, đô  
thị hóa nông thôn… Chính điều đó, một mặt  
cưỡng bức một bộ phận cư dân phải di chuyển  
sang vùng đất mới, buộc phải tiếp xúc và giao  
lưu với cộng đồng dân cư đang sinh sống ổn  
định; mặt khác, những chính sách mới của  
chính phủ cũng có những lợi thế nhằm thu  
hút một bộ phận dân cư từ các vùng đất khác  
tình nguyện di cư về vùng đất được qui hoạch  
để tham gia sản xuất và sinh nhai. Các yếu tố  
vănhóa vùng, miềngần như đượcxóa nhòavà  
thay vào đó là sự hỗn dung, pha tạp các loại  
sắc thái văn hóa.  
Ngoài các cuộc di dân lớn trong lịch sử  
nhân loại, hiện nay hoạt động di dân vẫn  
không ngừng diễn ra theo khuynh hướng đi  
từ vùng đất nghèo đói, có chiến tranh, nhiều  
bất ổn đến với các vùng đất thịnh vượng, hòa  
bình và ổn định. Bản thân trong mỗi quốc gia  
cũng diễn ra các cuộc di dân tự phát của người  
dân hoặc di dân chủ động theo định hướng  
của chính phủ.  
Ở Việt Nam, hiện tượng tiếp xúc, giao lưu  
văn hóa sớm nhất cũng thông qua con đường  
di dân được xác định từ thời sơ sử. Trên vùng  
biên giới và lãnh thổ nước ta có ba nền văn  
hóa lớn, hoặc ba phức hệ văn hóa: phức hệ  
văn hóa Bàu Trám – Sa Huỳnh, phức hệ văn  
hóa Phùng Nguyên - Đông Sơn và phức hệ văn  
hóa Đồng Nai. Đây là ba đỉnh cao của văn hóa  
Đông Nam Á. Ba phức hệ văn hóa đó phát sinh  
từ nền tảng chung của văn hóa thời đại đá mới  
ở miền này với những tộc người Nam Á, Nam  
Đảo luôn có tiếp xúc và giao lưu văn hóa với  
nhau. Các phức hệ văn hóa này phát triển độc  
2. Con đường thươngmại  
Trong lịch sử văn minh nhân loại, nền văn  
minh nông nghiệp là nền văn minh kéo dài nhất  
được xây dựng trên cơ sở vì lẽ sinh tồn của con  
người. Hoạt động nông nghiệp thời kỳ đầu chỉ  
đáp ứng nhu cầu về lương thực và thực phẩm  
của các cộng đồng. Về sau, với sự  
cấp cho các nhà buôn phương Tây. Hoạt động  
thương mại tự do này đã giúp hàng hóa được  
trao đổi và mua bán để làm phong phú sản  
phẩm tiêu dùng, vượt ra khỏi thói quen sinh  
hoạt của cộng đồng phương Tây và phương  
Đông.  
nỗ lực trong trồng trọt và chăn nuôi, các sản  
phẩm nông nghiệp dư thừa của một vài nhóm  
người đã được tích trữ lại với mục đích cung cấp  
cho các vùng thiếu thốn trên cơ sở trao đổi  
hàng hóa. Hoạt động thương mại sơ khai ra đời  
từ đó rồi dần dần giữ vai trò ngày càng quan  
trọng trong đời sống xã hội.  
Không đơn thuần chỉ là huyết mạch thông  
thương buôn bán của những“thương nhân lạc  
đà”,con đường tơ lụa còn là một hành trình văn  
hóa, tôn giáo đa dạng được hòa trộn, là cầu nối  
giữa hai nền văn minh Đông và Tây. Không phải  
ngẫu nhiên hay tình cờ, người ta tìm thấy khá  
nhiều biểu hiện văn hóa ngoại sinh đã xuất hiện  
và tồn tại ở các quốc gia có nền thương mại phát  
triển. Khi một cộng đồng mở cửa bang giao, sẵn  
sàng mua các sản phẩm văn hóa vật chất tiến bộ  
của một nền văn hóa khác thì cũng có nghĩa là  
họ phải học hỏi các phương thức và thói quen  
sử dụng sản phẩm đó trong đời sống sinh hoạt  
của mình. Hơn thế, trong quá trình xúc tiến  
thương mại, các sản phẩm văn hóa tinh thần  
bên ngoài (ngoại sinh) có cơ hội len lỏi vào cộng  
đồng bản địa. Đầu tiên, có thể chỉ là những tiếng  
rao hát, hành vi ứng xử, ngôn ngữ giao tiếp, nghi  
lễ tín ngưỡng, tôn giáo… của các thương nhân  
nhằm tạo sự mới lạ, hấp dẫn trí tưởng tượng  
đối với người dân bản xứ. Lâu dần, những biểu  
hiện đó trở nên gần gũi và trở thành một phần  
trong đời sống văn hóa nội sinh.  
Những con đường thương mại tầm xa xuất  
hiệnlầnđầu tiênvào thiênniên kỷ thứ baTCN,  
khi những người Sumerians ở nền văn minh  
LưỡngHàbuônbánvớinềnvănminhHarappan  
ở lưu vực sông Ấn. Những con đường thương  
mại cũng xuất hiện ở phía đông Địa Trung Hải  
vàokhoảng thời kỳ này. Con đường tơ lụa giữa  
Trung Quốc và Syria ra đời vào thiên niên kỷ  
thứ hai TCN. Các thành phốTrung Á và BaTư là  
ngã ba đường của các con đường thương mại  
đó. Các nền văn minh Phoenician và Hy Lạp đã  
lập ra các đế quốc ở lưu vực ĐịaTrung Hải vào  
thế kỷ I TCN nhằm kiểm soát các con đường  
thươngmại.Vàokhoảng cuối thiênniênkỷthứ  
nhất, người Ả Rập và người Do Thái thống trị  
các con đường thương mại ở Ấn Độ Dương,  
Đông Á, Sahara, Địa Trung Hải và chỉ nhường  
ngôi này cho người Italia vào đầu thiên niên  
kỷ thứ hai.  
Trong các con đường thương mại nói trên,  
con đường dài nhất, tồn tại lâu bền và nổi  
tiếng nhất là con đường tơ lụa. Đây là con  
đường huyền thoại nối liền Trung Hoa rộng  
lớn với vùngTây Á kỳ bí.  
Làmột dântộccó văn hóa nội sinh mạnhmẽ  
xuất phát từ cơ tầng văn hóa Đông Nam Á bản  
địa nhưng Việt Nam vẫn có những tiếp xúc và  
giao lưu văn hóa với Ấn Độ ngay từ những thế  
kỷ đầu tiên sau Công nguyên. Tăng sĩ Ấn Độ đã  
lên tàu buôn cùng với các thương nhân sang  
Việt Nam bằng đường biển. Có thể kể tên một  
số tăng sĩ Ấn Độ và Trung Á như Ma-ha-kỳ-vực  
(Marajavaka), Khưu-đà-la (K’sudara) đến Việt  
Nam vào cuối thế kỷ II; sau đó là Tăng Khương  
Hội, Chi Lương Cương vào khoảng giữa thế kỷ  
III. Thời kỳ này, Luy Lâu - Thuận Thành - Bắc Ninh  
trở thành một trung tâm Phật giáo và Phật học  
phồn thịnh, tương đương với trung  
Người Trung Hoa từ thời cổ đại đã dành  
thế chủ động trong việc di chuyển qua Tây Á  
và sang tận phương Tây để cung cấp vải lụa,  
gấm vóc, sa nhiễu. Mặt khác, các nhà buôn lớn  
của các quốc gia ở phương Tây cũng mang  
tiền, vàng đến Trung Hoa để trao đổi, mua  
bán hàng hóa kiếm lời. Sau thế kỷ XV, do nhu  
cầu mở rộng thị trường, người phương Tâyđã  
dành thế chủ động khi tìm ra con đường  
thông thương trên biểnsau các cuộc phátkiến  
địalý. Nam Á, đặc biệt ẤnĐộ là thị trường giàu  
có những mặt hàng đặc sản, cao cấp như tiêu,  
quế, trầm hương, lụa tơ tằm, ngà voi... cung  
tâm Lạc Dương của Đông Hán và Bình Thành  
của nước Sở. Trong suốt nhiều thế kỷ sau đó,  
do nằm ở cửa ngõ Đông Nam Á và thuận lợi  
thông thương đường biển, Việt Nam đã có  
nhiều thương cảng sầm uất như Vân Đồn, Hội  
An, Phố Hiến, nơi diễn ra các cuộc tiếp xúcvà  
giaolưubuônbánvới nhiềunước trên thế giới  
như Trung Quốc, Chiêm Thành, Java, Xiêm La,  
Indonesia, Nhật Bản… Bằng chứng sinh động  
cho hoạt động tiếp xúc, giao lưu và tiếp biến  
văn hóa giữaViệt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc  
và phương Tây trong suốt thế kỷ 17 và 18  
chính là phổ cổ Hội An. Đây là một đô thị cổ  
nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc vùng đồng  
bằngvenbiểntỉnhQuảng Nam,ViệtNam.Nhờ  
những yếutốđịalývàkhí hậuthuậnlợi,Hội An  
đã từng là một thương cảng quốc tế sầm uất,  
thu hút nhiều tầu buôn nước ngoài đến giao  
thương, mua, bán hàng hóa. Hội An là vùng  
đất ghi nhiều dấu ấn của sự pha trộn, giao  
thoa văn hóa. Các hội quán, đền miếu mang  
nhiều dấu tích của người Hoa nằm bên những  
ngôi nhà phố truyền thống của người Việt và  
những ngôi nhà mang phong cách kiến trúc  
Nhật, Pháp. Bên cạnh những giá trị vật thể đó,  
Hội An còn lưu giữ một nền văn hóa phi vật  
thể đa dạng và phong phú. Cuộc sống thường  
nhật của cư dân phố cổ với những phong tục  
tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng, nghệ thuật  
dân gian, lễ hội văn hóa vẫn đang được bảo  
tồn và phát triển. Hội An được xem như một  
bảo tàng sống về kiến trúc và lối sống đô thị.  
Với những giá trị nổi bật, tại kỳ họp lần thứ 23  
(4.12.1999), UNESCO đã công nhận đô thị cổ  
Hội An là một di sản văn hóa thế giới, dựa trên  
hai tiêu chí. Thứ nhất, Hội An là biểu hiện vật  
thể nổi bật của sự kết hợp các nền văn hóa  
qua các thời kỳ trong một thương cảng quốc  
tế. Thứ hai, Hội An là điển hình tiêu biểu về  
một cảng thị châu Á truyền thống được bảo  
tồn một cách hoànhảo.  
đô thị cổ và thương cảng trên khắp thế giới và  
Việt Nam.  
3. Con đường chiến tranh  
Lịch sử nhân loại đã chứng kiến nhiều trận  
chiến không những ác liệt mà còn làm thay đổi  
số phận của các quốc gia, dân tộc trên thế giới.  
Có cuộc chiến mở ra niềm hy vọng tự do,độc  
lập nhưng cũng có những cuộc chiến bắt đầu  
cho một thời kỳ đen tối, điêu tàn.  
Cuộc chiến tranh lớn nhất và rộng nhất  
thời kỳ cổ đại phải kể đến là cuộc chiến do  
Alexandros III của Macedonia (Alexandros đại  
đế) - một chiến lược gia quân sự vĩ đại nhất  
trong lịch sử - khởi xướng. Cuối thế kỷ IV TCN,  
Alexandros Macedonia chinh phục phương  
Đông đến tận miềnTây Bắc Ấn Độ. Sự việc này  
đã để lại một hậu quả khách quan là thúc đẩy  
sựgiaolưuvềkinhtế,vănhóagiữahaikhuvực.  
Saukhi đế quốc Macedonia tan rã, trên đất đai  
mà Alexandros chinh phục được ở Tây Á và  
Đông Bắc châu Phi đã hình thành các quốc gia  
như Ai Cập của vương triều Ptôlêmê, Xinicủa  
vương triều Xêlơcut, Pecsgammum, Bắctơria  
mà lịch sử gọi là những nước Hi Lạp hóa (giai  
đoạn lịch sử từ khi Alexandros bắt đầu chinh  
phục phương Đông - năm 334TCN - đến khi Ai  
Cập bị biến thành một tỉnh của La Mã - năm  
30 TCN - gọi là thời kỳ Hy Lạp hóa) [5; tr.314].  
Trong thời kỳ này, quan hệ buôn bán giữa  
phương Đông với phươngTâyđượcđẩymạnh,  
cácthành thịpháttriển,tri thứcđượcphổbiến  
lan tỏa từ Tây sang Đông. Ảnh hưởng củavăn  
hóa Hi Lạp đối với phương Đông còn thể hiện  
rõ rệt ở mặt nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc.  
Thậm chí, ở các nước Ấn Độ xa xôi, các tượng  
Phật được tạo nên trong thời kỳ muộn hơn  
cũng chịu ảnh hưởng rõ rệt của nghệ thuật  
điêu khắc Hi Lạp. Ngược lại, phương Tây đã  
tiếp thu nhiều kiến thức về toán học và thiên  
văn học của phương Đông, đặc biệt là phép  
làm lịch.  
Có thể thấy, bằng chứng về hoạt động tiếp  
xúc, giao lưu và tiếp biến văn hóa thông qua  
conđường thương mại vẫncòntồn tại ở nhiều  
Cuộcchiếnlớnthứhai ởphươngTâynhưng  
là cuộc chiến lớn nhất thời Trung đại là cuộc  
viễn chinh của Thập tự quân hay phong trào  
Thập tự chinh. Do sự hô hào của giáo hoàng  
La Mã, từ đầu thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XIII,  
các đoàn kị sĩ một số nướcTây Âu, với hình cây  
thánh giá khâu trên áo, đã tiến hành 8 cuộc  
viễn chinh sang phương Đông. Những cuộc  
chiến tranh này đã đem lại rất nhiều thảm họa  
cho cư dân đông Địa Trung Hải nhưng cũng  
góp phần thúc đẩy sự tiếp xúc văn minh giữa  
hai bộ phận quan trọng của thế giới lúc bấy  
giờ. Vào thời kỳ này, do sự suy thoái về văn  
hóa,phươngTâylạchậu hơnphương Đông rất  
nhiều. Qua phong trào viễn chinh, người Tây  
Âu đã học tập một số nghề mới như làmgiấy,  
làm thủy tinh, làm thuốc súng, kỹ thuật tiên  
tiến trong nghề dệt, nghề luyện kim; học tập  
đượccáchtrồng mộtsốgiống câymớinhư lúa,  
kiềumạch, chanh, dưahấu v.v…Việc truyền bá  
các thứ đó sang phương Tây, một phần là do  
người Ảrập truyền quaTâyBan Nha, một phần  
do quân Thập tự trực tiếp học kinh nghiệm và  
đưa trực tiếp từ phương Đông về. Ngoài ra,  
qua tiếp xúc với phương Đông, giai cấp phong  
kiến Tây Âu đã học tập được nhiều điều mới  
mẻ trong cuộc sống hàng ngày như các nghi  
thức ở cung đình, những cử chỉ tao nhã,cách  
giao tiếp lịch sự, cách để tóc, để râu, cách tắm  
rửa v.v… Do vậy, đời sống văn hóa trong xã hội  
TâyÂuđã cómột bướctiến rõ rệt (5, tr.117).  
Mông chỉ mang tính chất tức thời, không ăn  
sâu, bám rễ trong đời sống văn hóa của các  
quốc gia bị Nguyên Mông thôn tính.  
Có lẽ, những cuộc chiến tạo ra sự tiếp xúc,  
giao lưu và tiếp biến văn hóa mạnh mẽ giữa các  
quốc gia/ dân tộc còn nhiều dấu ấn đến ngày  
nay chính là các cuộc chiến nhằm thôn tính  
thuộc địa. Sau các cuộc phát kiến địa lý, các cuộc  
cách mạng công nghiệp, các cuộc cách mạng tư  
sản, một số nước châu Âu như Bồ Đào Nha, Tây  
Ban Nha, Anh, Pháp, Hà Lan nổi lên như các đế  
quốc siêu cường, những kẻ chinh phục mạnh  
nhất và có ảnh hưởng lớn nhất. Trong một loạt  
các cuộc chiến diễn ra vào thế kỷ XVII và XVIII,  
Anh quốc nổi lên là siêu cường đầu tiên và mạnh  
nhất của thế giới. Nó là một đế quốc trải rộng  
khắp quả đất, có lúc đã kiểm soát gần một phần  
tư bề mặt lục địa thế giới, trên đó “mặt trời  
không bao giờ lặn”. Ngay sau khi xâm chiếm  
châu Mỹ, người châu Âu đã dùng phường thức  
truyền giáo, đồng thời sử dụng các tiến bộ kỹ  
thuật để chinh phục các dân tộc ở châu Á, châu  
Phi. Đầu thế kỷ XIX, người Anh chiếm quyền  
kiểm soát tiểu lục địa Ấn Độ, Ai Cập, Malaysia,  
Australia, New Zealand và Nam Phi; người Pháp  
chiếm Đông Dương; người Hà Lan chiếm Đông  
Ấn. Vào cuối thế kỷ XIX, những vùng cuối cùng ở  
châu Phi còn chưa bị xâm chiếm được các nước  
châu Âu đem ra chia chác với nhau. Sau khoảng  
một thế kỷ bị thôn tính, các nước thuộc địa tuy  
đã bị khai thác kiệt quệ về tài nguyên và nhân  
lực nhưng lịch sử ghi nhận rằng, hầu hết các  
nước này đã có sự thay đổi lớn về diện mạo kinh  
tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Cuộc tiếp xúc văn  
minh phương Tây thời kỳ cận đại đã làm thay  
đổi về chất nền văn hóa của nhiều nước. Lúc  
này, các nước thuộc địa bị cưỡng chế tiếp xúc,  
giao lưu và tiếp biến văn hóa với người phương  
Tây. Họ phải trực tiếp xử lý mối quan hệ biện  
chứng giữa yếu tố nội sinh với các yếu tố ngoại  
sinh, kết quả có thể diễn ra theo hai trạng thái:  
một là, yếu tố ngoại sinh lấn át triệt tiêu yếu tố  
nội sinh và hai là, yếu tố ngoại sinh  
Mộtcuộcchiếncóqui môcựclớnvàtrảidài  
từ Đông sangTây là cuộc chiến được thực hiện  
bởi Đế quốc Mông Cổ. Đế quốc này xuất hiện  
khi các bộ lạc Mông Cổ và Đột Quyết thống  
nhất dưới quyền lãnh đạo của Thành Cát Tư  
Hãn năm 1206. Dưới sự lãnh đạo của ông,đế  
quốc này đã tiến hành các cuộc xâm lược theo  
mọi hướng, thôn tính liên lục địa rộng lớn, kết  
nối phương Đông và phương Tây,thực thi hòa  
bình kiểu Mông Cổ, cho phép mậu dịch, công  
nghệ,hànghóavàphổbiếntri thức.Tuynhiên,  
do lúc này, chế độ phong kiến ở phương Đông  
đã định hình và phương Tây đang rơi vào tình  
trạng bất ổn vì các cuộc thập tự chinh nên tầm  
ảnh hưởng về văn hóa của đế quốc Nguyên  
dần dần trở thành yếu tố nội sinh. Nhìn ở thái  
độ của tộc người chủ thể, sự tiếp nhận yếu tố  
ngoại sinh cũng có hai dạng: một là tự nguyện;  
hai là, bị cưỡng bức có nghĩa là bị áp đặt văn  
hóa. Và Việt Nam là một ví dụ.  
Trước hết, xét về mặt từ ngữ, viễn thông là  
một từ Hán - Việt có nghĩa là thông tin từ xa hay  
được hiểu là việc truyền dẫn thông tin giao tiếp  
qua một khoảng cách đáng kể về địa lý.  
Vào thời xa xưa, viễn thông là việc dùng các  
tín hiệu hình ảnh như đèn hiệu, khói, cờ hoặc  
tín hiệu âm thanh như tù và, trống, còi… nhằm  
truyền đi những thông tin ngắn gọn, cần thiết  
để chào mừng, cảnh báo, chỉ dẫn…Thời hiện  
đại, viễn thông là việc dùng các thiết bị điện như  
máy điện báo, điện thoại, máy telex hoặc thiết  
bị điện tử như viba, sợi quang kết hợp với vệ  
tinh thông tin và internet .  
Sau năm 1885, Pháp đã đặt xong bộ máy cai  
trị ở Việt Nam và thực thi một chính sách văn  
hóa nhằm củng cố địa vị thống trị của chúng ở  
Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng.  
Vănhóa Việt Nam giai đoạn này có hai đặc trưng  
lớn: một là, tiếp xúc, cưỡng bức và giao thoa  
văn hóa Việt – Pháp; hai là, giao lưu văn hóa tự  
nhiên - Việt Nam với các nước Đông, Tây. Nhìn  
chung, văn hóa Việt nam có sự thay đổi rõ rệt  
về văn hóa vật chất (đô thị, giao thông, kiến  
trúc, trang phục) và văn hóa tinh thần (chữ viết,  
hội họa, âm nhạc, văn chương, báo chí). Nhìn  
vào diễn trình văn hóa Việt Nam, đây là giai  
đoạn tiếp xúc, giao lưu và tiếp biến văn hóa  
mạnh mẽ nhất trong lịch sử dân tộc.  
̉
Như vậy, có thể hiểu, viễn thông điện tư  
(Electronic Telecommunications) là hình thức  
trao đổi thông tin qua những khoảng cách  
tươngđốilớnbằngcácphươngtiệnđiệntử(9).  
Nhờ có sự tiến bộ không ngừng của khoa  
̉
học, viễn thông điện tư đã đạt được rất nhiều  
thành tựu, đặc biệt là trong ngành truyền  
thông. Nhờ có viễn thông điện tử, các cá nhân  
và các cộng đồng khác nhau có thể cùng một  
lúc được tiếp nhận thông tin mới hoặc thông  
tin cần thiết một cách nhanh nhất mà không  
bị giới hạn bởi không gian. Các vấn đề kinh tế,  
chính trị, văn hóa của các nước, các khu vực  
khác nhau liên tục được cập nhật xuyênquốc  
gia và đang bị toàn cầu hóa. Thực chất, toàn  
cầu hóa là quá trình xuất phát từ những hoạt  
động tiếp xúc, giao lưu giữa nhiều quốc gia  
với nhau trên các phương diện kinh tế, chính  
trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật và đi tới thống  
nhất với nhau trên nhiều yếu tố. Có thể thấy,  
các thay đổi trong xã hội tạo ra bởi mối liên  
kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc  
gia, các tổ chức hay các cá nhân đang diễn ra  
liêntục, một phần thông qua việc tiếp xúc trực  
tiếp song phần lớn là kết nối qua viễn thông  
điện tử hay truyền thông không dây. Sự ra đời  
của Qũy tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế  
giới (WB),Tổchức thương mại thế giới (WTO),  
Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội các quốc gia  
Đông Nam Á ( ASEAN)… vào giữa và cuối thế  
kỷ XX đã thúc đẩy nhanh quá trình toàn cầu  
4. Con đường viễn thông điện tử  
Còn một con đường dẫn đến việc tiếp xúc,  
giao lưu và tiếp biến văn hóa chưa từng được  
tổng kết trong các lý thuyết Truyền bá luận và  
các nghiên cứu về văn hóa giai đoạn cuối thế kỷ  
XX, đó là con đường viễn thông điện tử. Hiện  
tượng giao lưu và tiếp biến văn hóa chỉ diễn ra  
khi có sự tiếp xúc văn hóa trực tiếpgiữa các  
cộng đồng/ tộc người với nhau (được hiểu một  
cách cơ học là đặt cạnh nhau, chạm vào nhau)  
dường như đã không còn phù hợp trong bối  
cảnh nhân loại bước sang thời kỳ văn minh hậu  
công nghiệp (hay còn được gọi là văn minh tin  
học, văn minh tri thức). Những năm 40 của thế  
kỷ XX, với sự ra đời của máy tính và hơn 20  
năm sau đó là sự ra đời của mạng internet,  
khoảng cách về không gian của các quốc  
gia/dân tộc trên toàn thế giới đã được rút ngắn.  
Bất cứ quốc gia/dân tộc nào cũng có thể tương  
tác với nhau, kết nối và chia sẻ mọi thông tin  
trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã  
hội thông qua con đường viễn thông điện tử.  
hóa. Một mặt nó nhanh chóng xã hội hóa lực  
lượng sảnxuất, đưalại sự tăng trưởng cao cho  
các quốc gia, góp phần chuyển biến cơ cấu  
kinh tế; mặt khác, toàn cầu hóa cũng tạo ra  
nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc và độc lập  
tự chủ của nhiều quốcgia.  
tại và phát triển của mình. Giao lưu và tiếp  
biến văn hóa là sự tiếp nhận hay kế thừa văn  
hóa nước ngoài bởi dân tộc chủ thể. Đó là quá  
trình xử lý mối quan hệ biện chứng giữa yếu  
tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh. Mỗi dân tộc  
sẽ có thái độ chủ động tiếp thu khi có sẵn bản  
lĩnhhaynội lựcvănhóa mạnhmẽ. Mộtdân tộc  
thiếu bản lĩnh hoặc cơ tầng văn hóa bản địa  
mỏng và yếu sẽ luôn trong thế thụ động khi  
tiếp thu văn hóa nhân loại và rất dễ bị áp đặt  
hay đồng hóa về vănhóa.  
Không phải ngẫu nhiên mà có mối liên hệ  
mật thiết giữa viễn thông điện tử với hoạt  
động tiếp xúc, giao lưu, tiếp biến văn hóa và  
quá trình toàn cầu hóa. Khác với các giai đoạn  
trước, con đường di dân, thương mại và chiến  
tranh là điều kiện “cần” để các cộng đồng/  
dân tộc có thể tiếp xúc với nhau; giao lưu là  
điều kiện“đủ”để dẫn tới sự tiếp biến trên các  
phương diện, đặc biệt là văn hóa của một  
cộng đồng hoặc dân tộc nào đó. Ngày nay,  
viễn thông điện tử chính là điều kiện“cần” để  
tạo ra sự tiếp xúc và toàn cầu hóa dường như  
là diều kiện“đủ”để các quốc gia/dân tộc biến  
đổi một cách mạnh mẽ, vừa tiến bộ, văn minh  
nhưng cũng có nguy cơ hòa tan và đánh mất  
bản sắc.  
L.T.K.L  
(Ths, Khoa Văn hóa học)  
Tài liệu tham khảo  
́
1. A.A. Belik (2000), Văn hóa học - Những ly  
thuyết nhân học văn hóa, Tạp chí Văn hóa nghệ  
thuật xuất bản, Hà Nội.  
2. A.A. Radugin (2004), Văn hóa học - Những  
bài giảng (dịch từ tiếng Nga), Viện Văn hóa -  
Thông tin xuất bản, HàNội.  
3. A. SchultzEmily-H.LavendaRobert (2001),  
Nhânhọc-Mộtquanđiểmvềtìnhtrạngnhânsinh,  
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
Có thể mô tả quá trình đó như sau:  
Viễn thông điện tử - Tiếp xúc, giao lưu -  
Toàn cầu hóa - Tiếp biến văn hóa  
4. Từ Thị Loan, Lê Thị Kim Loan (2013), Bài  
́
giảng môn học Các ly thuyết văn hóa, Trường Đại  
học Văn hóa Hà Nội.  
Tiếp xúc, giao lưu văn hóa là một hiện tượng  
tất yếu, khách quan và phổ biến trong sự phát  
triển của các nền văn hóa. Văn hóa có tính bền  
vững và ổn định tương đối nhưng nó cũng luôn  
đòi hỏi có sự giao lưu, tiếp biến thường xuyên,  
không chấp nhận sự khép kín. Lịch sử cũng cho  
thấy, những nền văn minh/ văn hóa lớn nếu  
đóng cửa (bế quan tỏa cảng), tự giam mình  
hoặc tự tôn thái quá, có thể đưa đến sự xói mòn  
và tụt hậu. Ngược lại, nếu quá trình giao lưu  
diễn ra quá mạnh mẽ, nguy cơ một dân tộc nào  
đó bị hòa tan hoặc đánh mất bản sắc, thậm chí  
có thể suy vong, cũng là điều tất yếu. Hiện  
tượng tiếp xúc và hội nhập văn hóa với các quá  
trình tiếp nhận, điều chỉnh, đồng hóa… là hiện  
tượng phổ biến trong đời sống nhân loại, thể  
hiện năng lực thích ứng của mỗi cộng đồng  
trong suốt tiến trình tồn  
̉
5. Vũ Dương Ninh (chủ biên, 2012), Lịch sư văn  
minh thế giới, Nxb. Giáo dụcViệt Nam, Hà Nội.  
6. Nguyễn Thị Thường (2009), Giáo trình Văn  
hóa học, Nxb. Đại học Sư phạm Hà Nội.  
7. Trần Quốc Vượng (2012), Cơ sở văn hóa Việt  
Nam, Nxb. Giáo dục Việt Nam, HàNội.  
8.h t t p:/ /w w w.v nua.e du .vn/k hoa/  
f it a/ wp - c o n t en t/ up l oa ds /2 01 3 /0 6/  
C1.+Gioi+thieu+chung.pdf  
definition/telecommunications  
Ngày nhận bài: 21 - 12 - 2015  
Ngày phản biện, đánh giá: 9 - 6 - 2016  
Ngày chấp nhận đăng: 28 - 6 - 2016  
pdf 9 trang yennguyen 9580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các con đường giao lưu văn hóa trong lịch sử", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_con_duong_giao_luu_van_hoa_trong_lich_su.pdf